Trần Huyền Trân: Vào tuổi trăm năm

Vũ Quần Phương| 30/10/2019 08:20

Tên thật Trần Đình Kim, sinh ngày 13/9/1913, mất ngày 24/4/1989. Trần Huyền Trân đăng thơ từ 1939. Hơi thở cổ kính, mực thước, cũng có một khí vị phiêu bạt, bi phẫn, gần với Thâm Tâm và Nguyễn Bính (Nguyễn Bính giai đoạn thị thành đa đoan và vó ngựa chung tình bánh xe).

Trần Huyền Trân: Vào tuổi trăm năm

Tên thật Trần Đình Kim, sinh ngày 13/9/1913, mất ngày 24/4/1989. Trần Huyền Trân đăng thơ từ 1939. Hơi thở cổ kính, mực thước, cũng có một khí vị phiêu bạt, bi phẫn, gần với Thâm Tâm và Nguyễn Bính (Nguyễn Bính giai đoạn thị thành đa đoan và vó ngựa chung tình bánh xe). Ba người lập nên nhóm thơ được trong giới gọi là xóm áo bào gốc liễu do phong cách viết gợi hơi hướng các tráng sĩ không gặp thời trong truyện võ hiệp Trung Hoa. Trần Huyền Trân không bi phẫn bằng Thâm Tâm, cũng không phóng túng như Nguyễn Bính, ở ông, rõ hơn một khuynh hướng xã hội: tố cáo hiện thực bất công và khát khao một đổi thay. Không biết do khuynh hướng ấy mà ông đến với cách mạng khá sớm hay nhờ đến sớm với cách mạng mà thơ ông rõ khuynh hướng ấy. Trước cách mạng, từ năm 1943, ông đã là thành viên hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động bí mật, góp phần chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Cách mạng thành công rồi kháng chiến chống Pháp, ông chuyển sang hoạt động sân khấu. Bài thơ Hải Phòng 19/11/1946 có thể coi là bài khép lại sự nghiệp thơ Trần Huyền Trân. Sau này ông có viết cũng chỉ là động bút nhớ nghề, giá trị nghệ thuật không bằng trước.

Năm 1986, khi làm biên tập viên ở Nhà xuất bản Văn học, tôi nhận được tập bản thảo thơ mang tên Cái thai hoang của Trần Huyền Trân. Cho đến lúc ấy Trần Huyền Trân chưa in một tập thơ nào. Nhà xuất bản Văn học đưa ngay vào kế hoạch xuất bản. Tôi là người biên tập ngần ngại với tên tập thơ. Đó là tên một bài thơ mang nhiều chuyện đời thực và có liên quan với bút danh Trần Huyền Trân. Cái bút danh trùng với tên công chúa nhà Trần gả sang Chiêm quốc. Nhưng không dính gì vào tích ấy. Đấy là câu chuyện buồn của cô Trần Nguyệt Hiền, con một bà mẹ nghèo ở trên căn gác nhỏ mà tầng dưới là tòa báo nghèo Bắc Hà, nơi Trần Đình Kim làm việc. Cô Hiền đi làm nàng hầu một nhà thầu khoán. Rồi cô bị đuổi về với cái thai trong bụng. Xót thương cảnh ngộ ấy, Trần Đình Kim giúp cô Hiền sinh nở và làm giấy khai sinh cho đứa bé: lấy họ Trần của hai người, tách dấu huyền ra mà thành Trân: Trần Huyền Trân. Đứa bé mất, Trần Đình Kim lấy luôn tên này làm bút danh cho mình. Ông làm bài thơ ghi lại câu chuyện thảm thương này, lấy tên là Cái thai hoang. Tên bài thì được. Tên cả tập, không ổn. Giọng thơ cổ kính và cái tên nhóm áo bào gốc liễu, gợi tôi tìm ra cái tên Rau Tần từ một bài thơ bốn câu của ông. Rau tần chính là rau muống được thả thành bè liên miên ao đầm sau lưng phố Khâm Thiên, nơi ở của nhà thơ hồi ấy. Nhờ tính ước lệ của bài thơ gợi khí vị xa xăm tự thời nảo thời nào mà tên thứ rau nhà nghèo thành thi vị:

Mưa bay trắng lá rau tần
Thuyền ai bốc khói xa dần bến mưa
Có người về khép song thưa
Để rêu ngõ trúc tương tư lá vàng

Tôi đề nghị ông đổi tên tập. Ông hài lòng và tôi xin xếp bài thơ này lên đầu tập, như trình với độc giả nguyên ủy của tên tập Rau Tần.

Cổ kính, gọn chắc, đôi chỗ gân guốc, nhưng bao giờ thơ cũng đắm đuối trong tình cảm, tạo nên chất men say đắm rất nghệ sĩ. Thể thơ dẫn Trần Huyền Trân đạt tới độ say ấy thường là thất ngôn và lục bát. Mỗi chữ cổ vào thơ đều mang sức gợi. Gợi một thời, một thuở, một dạng tâm trạng:

Tự cổ sầu chung kiếp xướng ca
Mênh mang trời đất vẫn không nhà
Người ơi! mưa đấy hay xênh phách
Tay yếu gieo lòng xuống chiếu hoa
(Sầu chung)

Gợi, vì hình ảnh ước lệ mang hơi phiêu bạt, giang hồ. Gợi, vì âm điệu tề chỉnh, cân đối, vang và vọng. Đây cũng là một thế thuận để Trần Huyền Trân chuyển sang viết ca từ cho chèo, nhất là chèo ôm tích xưa, truyện cổ. Và đấy cũng là lý do cho thấy giọng thơ Trần Huyền Trân, cả cảm và nghĩ, ít thích hợp với lối thơ hiện thực thời sự ưa chi tiết cụ thể đương đại. Tại sang sân khấu chèo là cách xử lý đúng của Trần Huyền Trân, nó hợp với tạng ông một thuở chinh phu/ một thời cán bộ/ ba lô thay yên ngựa sông hồ. 

Lục bát Trần Huyền Trân rất nhiều tiểu đối. Với tương quan đối, ông càng tung hoành hơn trong việc dùng ước lệ, dùng từ cổ, lời xưa, gợi dĩ vãng xa xôi lãng mạn:

Bóng trơ chuông đổ vây dồn
Tưởng người xưa vọng gọi hồn 
tịch liêu
Mắt ta ngó suốt chiều chiều
Bụi đời còn vẩn bao điều xót thương
Tiễn nhau bữa ấy đoạn trường
Nụ cười chưa nở bên đường đã rơi
(Chiều mưa xứ Bắc gửi người 
xứ Nam)

Trần Huyền Trân nhạy cảm với những tâm trạng chua xót, căm hận, với những cõi lòng đầy lý tưởng đẹp đẽ nhưng lại bị thực tại phũ phàng nghiền nát. Khi ấy giọng thơ ông thâm trầm, xót xa, mỉa mai, bi hận, một giọng thơ đầy kịch tính bên trong của tâm hồn con người. Điển hình nhất cho loại này là bài Với Tản Đà.

Rót đi thôi, rót đi thôi
Rót cho tôi cả mấy mươi tuổi đầu
Nguồn đau cứ rót cho nhanh
(...) Rót đau lòng ấy 
sang đau lòng này 
Thế mạnh của Trần Huyền Trân chính là diễn đạt tâm trạng. Ông nắm được thần thái tâm hồn và có cách tạo ấn tượng, đọc một lần người ta nhớ mãi:

Biết yêu thì khổ có thừa
Hình dung một thoáng, 
tương tư chín chiều
Xa nhau gió ít lạnh nhiều
Lửa khuya tàn chậm, 
mưa chiều đổ nhanh
(Tương tư)

Trần Huyền Trân tự vẽ tư thế tâm hồn mình:
Thuyền hồn chở một khoang không
Bao lâu dạt dóng trên dòng cô đơn
Kinh thành mây đỏ như son
Cái lồng eo hẹp giam con chim trời.

Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tổng kết thành tựu của phong trào Thơ Mới, Hoài Thanh Hoài Chân biểu dương Trần Huyền Trân như lời tái bút một trang thư: rằng thơ ông hiền lành và ít nói yêu đương. Ít nói yêu đương thì có. Nhưng hiền lành thì không đâu. Trần Huyền Trân có một đóng góp đột xuất cho phong trào Thơ Mới chính là ở chỗ thơ ông không hiền lành. Ông tỏa men bi phẫn, men chiến đấu vào hồn lãng mạn có phần ẻo lả của thơ công khai hồi ấy. Bài Độc hành ca, viết năm 1940, đã có những ý ngang tàng, mạnh mẽ đầy nhiệt huyết đổi thay xã hội:

Đã toan ném bút vùi thơ
Thõng buông tay áo sơ dơ dáng đời
(...) Vung tay như rạch ngang trời
Bảo rằng đâu nữa cái thời ngất ngư

Chính từ hơi cảm xúc này mà Trần Huyền Trân sau cách mạng nhập ngay vào dòng thơ sôi nổi của thơ chiến đấu. Bài Hải Phòng 19/11/1946, mở đầu: tiếng súng, tiếng reo, tiếng rầm rập chân đi trong một không gian mênh mang biển khơi đồng đất:

Nổ súng rồi!
Nổ súng rồi!
Hải Phòng cuộn dâng như biển
Nước mặn đồng chua 
thêm máu người

Chất thơ ở đây là men của hiện thực chứ không phải hiện thực. Cốt lõi nó là lãng mạn, khuynh hướng nó là chiến đấu, là để hồn bay lên trong hào sảng của tự do. Thiếu đôi cánh say đắm, hào sảng của lãng mạn ấy, để chỉ chăm chăm kể lể hiện thực, thơ Trần Huyền Trân lập tức từ dáng bay thiên nga kỳ ảo rơi xuống thành gà vịt chạy bộ trên sân. Những năm sau này, Trần Huyền Trân bỏ thơ chuyển sang sân khấu phải chăng cũng có lý do từ những chiêm nghiệm này.

Hoạt động sân khấu, Trần Huyền Trân có mang theo chất thơ sang đó. Viết kịch bản hay đạo diễn, ông đều tạo những tính cách lãng mạn, bất ngờ trong hành động và thường giàu cảm xúc nội tâm.

Năm 1989, vào thăm ông trọng bệnh, ở nhà thương Hữu nghị Việt Xô, ông bị viêm tắc mạch máu, đã phải cắt ba chỉ. Nằm trên giường bệnh, cái thân người quắc thước ấy như con thuyền mắc cạn, con thuyền thơ, con thuyền đời, buồm không, chèo không:

Con đò mắc cạn
buồm không chèo không
hồn vênh nghe sóng gió sông Hồng
bừng bừng con mắt
màu đỏ phù sa đau nhớ nhung
(0) Bình luận
  • Nắng mơ trong biệt thự hoang
    Tôi bị nàng hút đi từ lần thấy hình đại diện Facebook trôi đến. Khoảnh khắc lúc nắng rây xuống những ngón tay thon cầm lọn tóc che nửa phần môi đỏ khiến cho bức selfie ấy đẹp huyền hoặc.
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Những món quà của tạo hóa
    Tôi rất cô đơn, không có lấy một người bạn nào để gọi là thân. Vì không giỏi giao tiếp hay vì không tìm được người nào đủ tin tưởng để mở lòng mình ra, tôi không biết nữa, chỉ thấy mỗi khi lòng đầy lên là lại ước mình được rủ rỉ cùng Dung.
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội trên hành trình trở thành trung tâm du lịch vươn tầm khu vực
    Hà Nội đang bứt phá để trở thành trung tâm du lịch hàng đầu cả nước và vươn tầm khu vực theo hướng thông minh, xanh, bền vững. Thủ đô hướng tới mục tiêu đón hơn 50 triệu lượt khách mỗi năm, mang về nguồn thu hàng trăm nghìn tỷ đồng và bổ sung ít nhất 10.000 phòng khách sạn cao cấp để đáp ứng nhu cầu tăng cao.
  • Định vị thương hiệu di sản văn hóa Hà Nội từ mô hình kinh tế đêm
    Trong bối cảnh cạnh tranh đô thị ngày càng gia tăng, kinh tế đêm trở thành một động lực tăng trưởng mới tại nhiều quốc gia và thành phố lớn. Đối với Hà Nội, phát triển kinh tế đêm không chỉ mở rộng không gian và thời gian hoạt động kinh tế mà còn tạo điều kiện khai thác chiều sâu văn hóa, gia tăng trải nghiệm du lịch và xây dựng bản sắc đô thị. Từ các sản phẩm du lịch đêm gắn với di sản đến định hướng phát triển sáng tạo, Hà Nội đang từng bước hướng tới thương hiệu “thành phố trải nghiệm văn hóa về đêm”, q
  • Cải lương trong không gian nghệ thuật cộng đồng bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 18/10, tại sân khấu Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện mang đến một không gian nghệ thuật giàu màu sắc với các tiết mục tân cổ, ca cổ, hát xẩm và múa. Từ những giai điệu về quê hương, Hà Nội đến những câu chuyện lịch sử được kể bằng ngôn ngữ sân khấu, chương trình góp phần đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng trong không gian mở.
  • Phường Tây Hồ trao Huy hiệu Đảng cho 558 đảng viên
    Lễ trao tặng Huy hiệu đảng do Đảng ủy phường Tây Hồ (Hà Nội) tổ chức trong hai ngày 21 và 22/10 là dịp ghi nhận quá trình phấn đấu, rèn luyện của 558 đảng viên 35 năm tuổi Đảng, đồng thời khẳng định vai trò của các thế hệ đảng viên trong công tác xây dựng Đảng và phát triển địa phương.
  • Phát động cuộc thi sáng tác bài hát "Đông Hòa Hiệp - miền nhớ, miền thương"
    Cuộc thi khuyến khích các nhạc sĩ, soạn giả cùng đội ngũ tác giả chuyên và không chuyên sáng tạo nên những tác phẩm mới mang đậm bản sắc Nam Bộ, giàu giá trị tư tưởng nghệ thuật, qua đó góp phần bảo tồn và phát huy chất liệu dân ca, hò, lý, đờn ca tài tử và vọng cổ - cải lương trong đời sống đương đại.
Đừng bỏ lỡ
Trần Huyền Trân: Vào tuổi trăm năm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO