Sự kiện & Bình luận

“Thời hoa lửa” của phóng viên chiến trường

Quỳnh Chi thực hiện 15:45 21/06/2024

Những người làm báo thời chiến tranh - phóng viên chiến trường, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, phải đứng trước lằn ranh sinh tử, thậm chí hy sinh để hoàn thành sứ mệnh của người chép sử trong lửa đạn.

Kỷ niệm 99 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trò chuyện với nhà báo Trần Mai Hưởng (sinh năm 1952) - nguyên Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Đại tá - nhà báo, NSNA Trần Hồng (sinh năm 1947) - nguyên phóng viên Báo Quân đội Nhân dân). Đây là hai nhà báo đã có mặt ở những trận tuyến ác liệt nhất trong các cuộc chiến vệ quốc của dân tộc Việt Nam, cũng như cùng quân ta giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi chế độ Pol Pot. Ký ức “một thời hoa lửa” của hai nhà báo chiến trường khiến người làm báo thêm tự hào, từ đó tiếp bước thế hệ tiền bối nỗ lực xây dựng nền báo chí Việt Nam hiện đại, chuyên nghiệp và nhân văn.

PV: Ông chọn nghề báo hay nghề báo đã chọn ông?

Nhà báo Trần Mai Hưởng:

1-tranmaihuong.jpg
Nhà báo Trần Mai Hưởng giới thiệu về bức ảnh chụp cùng đồng nghiệp Lâm Hồng Long trên đường qua miền Trung trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, mùa xuân 1975.

Năm 1968, tôi tốt nghiệp phổ thông (hệ 10 năm) khi mới 16 tuổi. Do chiến tranh, nên các trường không tổ chức thi tuyển đại học mà Ban tuyển sinh tỉnh chọn và xếp học sinh vào các trường. Tôi đã nhận được giấy gọi nhập học của trường Đại học Thể dục thể thao nhưng tôi đã đưa ra sự lựa chọn của mình là đi học lớp phóng viên.
Đến giờ tôi nghĩ nghề báo phù hợp với mình hơn. Quá trình làm báo giúp tôi trưởng thành dần từ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các đồng nghiệp, lãnh đạo TTXVN; sự trau dồi, nỗ lực của bản thân.

Đại tá - nhà báo, NSNA Trần Hồng:

5.jpg
Đại tá - nhà báo, NSNA Trần Hồng.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc bước vào giai đoạn ác liệt, tôi xung phong nhập ngũ và trở thành chiến sĩ Tiểu đoàn 2, Đoàn 559, Bộ đội Trường Sơn, tháng 8/1968. Tôi được giao nhiệm vụ nuôi quân, sau đó chuyển sang thông tin báo vụ. Tham gia chiến trường được một năm, tôi được điều động từ Trường Sơn ra Bắc, học khóa Báo chí đầu tiên (1969 - 1973) Trường Tuyên huấn Trung ương (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền). Sau khi ra trường, tôi về công tác tại Báo Quân đội Nhân dân. Từ năm 1973 đến 1981, tôi là phóng viên Báo Ảnh Việt Nam đối ngoại theo diện biệt phái. Tôi nghĩ nghề báo rất hợp với mình.

PV: Khi còn là phóng viên chiến trường, những chiến dịch và mặt trận nào ông đã đến và có bao giờ ông chạm mặt tử thần?

Nhà báo Trần Mai Hưởng:

Tôi ở mặt trận Quảng Trị năm 1972 - 1973 “mùa hè đỏ lửa”, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975, rồi theo chân các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam đến đất Campuchia, có mặt tại thủ đô Phnom Penh đúng ngày 7/1/1979. Tôi cũng có mặt ở Hà Giang, Cao Bằng những năm 80 trong cuộc chiến bảo vệ biên giới…

2-tran-mai-huong.jpg
Bức ảnh “Xe tăng quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập trưa 30/4/1975”do nhà báo Trần Mai Hưởng chụp.

Những ngày tôi tác nghiệp ở Quảng Trị, có những đêm trong hầm, địch bắn pháo triền miên. Sáng ra, nhìn xung quanh hầm thấy chi chít lỗ pháo. Cũng có lúc đang ở nghĩa địa, địch thả bom B52 gần nơi tôi tác nghiệp, tôi nhanh chóng nằm vào khe giữa các ngôi mộ, mảnh bom bay qua găm vào mộ. Khi đó nếu đang đứng tôi chắc đã hy sinh. Rồi có khi tới một làng, quân ngụy ở đầu làng còn quân du kích của ta ở cuối làng. Đêm ngủ phải để súng ngay trên đầu để nếu có chuyện gì xảy ra còn cùng quân du kích chiến đấu.

6.jpg
Bức ảnh nổi tiếng “Quân ta xông lên, kẻ thù đổ gục” của Đại tá - nhà báo Trần Hồng.

Cả những lúc tôi đi một mình qua sông Thạch Hãn vào vùng chiến sự, phải lấy một mẩu giấy viết họ tên, đơn vị công tác rồi bọc vào bao nilon, rồi lấy kim băng cài vào túi áo trong. Bởi nhỡ trúng bom đạn kẻ thù, quân ta còn có thông tin để báo về gia đình, cơ quan.
Sáng 30/4/1975, những cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn còn ác liệt. Tôi đi theo đội hình thọc sâu của quân ta, qua Thủ Đức trong khi đạn vẫn bắn hai bên. Tổ phóng viên đi trên xe con, đạn bắn bên phải thì né bên trái và ngược lại. Hoặc khi đi qua cầu Rạch Chiếc, sông Sài Gòn, phóng viên chiến trường đều có mặt và ai cũng có thể hy sinh vì bom rơi đạn lạc.

Đối với tôi, Quảng Trị mãi là vùng đất với nhiều sự kiện, nhiều gắn bó. Khi gặp tôi trên đường hành quân, nhà nhiếp ảnh Nghĩa Dũng là phóng viên thông tấn quân sự. Lúc ấy ông mặc chiếc áo có mùi nước tiểu của cậu con trai 3 tuổi cho đỡ nhớ. Nhưng chỉ hôm sau tôi đã hay tin nhà nhiếp ảnh Nghĩa Dũng hy sinh ngay những ngày đầu chiến dịch…

Mùa xuân 1975, tôi không thể quên khoảnh khắc vào Huế, Đà Nẵng ngày đầu tiên giải phóng cùng hình ảnh “Xe tăng quân giải phóng tiến vào dinh Độc Lập trưa 30/4/1975”. Chiếc xe trong bức ảnh tôi chụp là chiếc xe tăng mang số hiệu 846 của trưởng xe Nguyễn Quang Hòa, lái xe Trần Bình Yên, pháo thủ số 1 Nguyễn Văn Quý, pháo thủ số 2 Nguyễn Bá Tứ. Họ đã trở thành những người bạn của tôi sau này. Tôi cũng nhớ mãi chuyến đi Vũng Tàu cùng nhà nhiếp ảnh Lâm Hồng Long, chuyến đi mà bác chụp bức ảnh lịch sử ghi dấu mùa xuân đoàn tụ, thống nhất - bức ảnh mang tên “Mẹ con ngày gặp mặt”.

Tôi không bao giờ quên cảm giác bàng hoàng khi chứng kiến thủ đô Phnom Penh là một thành phố chết theo đúng nghĩa đen. Tôi đã có mặt ở đây chiều 7/1/1979 cùng các chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam. Rồi sau đó là những ngày mùa khô gian nan sinh tử khắp các nẻo đường trên đất nước cùng những chiến sĩ Việt Nam. Thời khắc cùng họ đón cái Tết đầu tiên xa Tổ quốc cho đến giờ tôi cũng mãi không quên.

Đại tá - nhà báo, NSNA Trần Hồng:

Tôi theo quân tình nguyện Việt Nam sang Campuchia giúp nước bạn thoát khỏi chế độ Pol Pot. Ngày 7/1/1979, phóng viên báo Quân đội Nhân dân gồm tôi, nhà báo Anh Ngọc và Đỗ Quảng của báo Nhân Dân di chuyển về nhà tù Tuol Sleng. Chứng kiến khung cảnh xác người chất thành đống, đủ mọi tư thế khác nhau tại nhà tù này, đến giờ tôi còn thấy rùng mình. Sau đó tôi và các đồng nghiệp chụp ảnh trong 15 phút. Giữa hàng nghìn bức ảnh của tôi tại Campuchia, có 25 tấm ảnh được trưng bày tại trụ sở Liên hợp quốc nhằm lên án tội ác chế độ Khmer Đỏ, nhưng tôi chưa có cơ hội nhìn thấy 25 bức ảnh này.

Tôi cũng có mặt tại cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc đầu năm 1979. Ngày thứ ba ở đây, tôi chụp được những bức ảnh về xác kẻ thù. Tấm ảnh này được đăng trên các báo Trung ương, đặc biệt báo Quân đội Nhân dân dành nửa trang nhất đăng tải những hình ảnh đó.

Khi tôi lên đồi Chậu Cảnh cách Hữu Nghị quan 5 km, tôi đề nghị Trung đoàn trưởng cho phép tiếp cận nơi diễn ra trận chiến để ghi lại những hình ảnh chân thực nhất. Trung đoàn trưởng không đồng ý. Tôi đáp lại chúng ta đều là lính, các anh có súng còn tôi có máy ảnh, sá gì không cho tôi đi. Vậy là tôi được đi theo đoàn trinh sát đến đồi Chậu Cảnh, gặp một tên địch bị thương. Tôi tiến lại gần, cố gắng chụp một kiểu ảnh đặc tả thì ngay lúc đó, các trinh sát nói tôi không thể chần chừ được, rồi tiếng đạn vèo vèo trên đầu, tôi gấp rút chạy theo hai trinh sát. May mắn những lần như vậy tôi đều thoát chết.

PV: Ngoài sự hy sinh luôn thường trực, phóng viên chiến trường còn có những thời điểm khó quên khác không, thưa ông?

Đại tá - nhà báo, NSNA Trần Hồng:

Trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, có lần tôi từ Lạng Sơn về đến Vườn hoa Hàng Đậu trước tòa soạn, gặp ngay Thiếu tướng Trần Công Mân - Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân. Ông nói: “Phóng viên ảnh Trần Hồng từ Lạng Sơn về, có gì mới không?”, tôi vội báo cáo “trong túi tôi có xác quân xâm lược”. Thiếu tướng Trần Công Mân bảo tôi về làm ngay. Tôi khẩn trương, tự tay rửa bức ảnh ghi lại cảnh dân quân, bộ đội chủ lực của ta xông lên và phía sau là xác quân thù nằm dưới đất. 8 giờ tối xong ảnh, tôi mang tới cơ quan. Lúc này Tổng Biên tập đã mời 5 người giỏi tiếng Trung đến để làm chú thích ảnh. Sau 10 phút, Thiếu tướng Trần Công Mân tự tay cầm bút ghi chú thích cho bức ảnh của tôi: “Quân ta xông lên, kẻ thù đổ gục”.

Hiện nay chỉ mất vài giây, ảnh của phóng viên có thể chuyển ngay về tòa soạn vì công nghệ hiện đại. Nhưng với phóng viên ảnh chiến trường, mỗi cuộn phim có 36 kiểu, chụp xong rồi cuộn vào và phải ghi rất rõ ràng trong cuộn phim có những nội dung gì. Tiếp đó bọc thật kỹ và tìm cách để gửi về tòa soạn. Tôi đi ra những đoạn đường có xe, người đi về Hà Nội và gửi cho họ, chậm nhất 3 - 4 ngày cũng về tới nơi. May mắn phim ảnh của phóng viên Báo Quân đội Nhân dân gửi bằng hình thức này đều đến được tòa soạn. Nếu phải làm ảnh gấp, chúng tôi phải chui xuống hầm, lấy một cái đèn pin và lá chuối non cắt một cái lỗ để soi phim, tráng phim. Một số lần tôi làm như vậy và đều thành công.

Nhà báo Trần Mai Hưởng:

Năm 1975, tôi viết một bài về việc Huế được giải phóng. Tôi đi bộ suốt đêm, anh em nói 11 giờ phải có bài, ảnh chuyển đăng cho kịp sự kiện. Sáng sớm ở Huế hôm đó, tôi đi một vòng thành phố và đến Phu Vân Lâu khoảng hơn 10 giờ. Tôi chỉ có khoảng 45 phút để viết bài và gửi xe cho anh em đem ra Quảng Trị có khu điện đài. Làm sao viết bài trong 45 phút về việc Huế được giải phóng trong hoàn cảnh này với tôi là bài toán khó. Tôi đã ngồi tại Phu Vân Lâu, kê ba-lô lên bậc thềm rồi lấy sổ, bút ra viết bài. Cuối cùng cũng xong đúng tiến độ.

Sau đó báo đăng bài viết của tôi với tiêu đề “Huế cờ đỏ bay”. Mặc dù bài báo ngắn nhưng cũng nói về được lịch sử, quang cảnh thành phố ngày giải phóng, chia sẻ của một số người dân. Bài báo ngắn nhưng rất quan trọng, là bài báo đầu tiên của Việt Nam nói về Huế được giải phóng. Sau đó, tôi cũng là người viết bài báo đầu tiên về việc quân ta giải phóng Đà Nẵng. Những bài báo này đều có ý nghĩa, vì hai thành phố lớn được giải phóng thì việc giải phóng hoàn toàn miền Nam chỉ là vấn đề thời gian.

PV: Những năm tháng tác nghiệp trong chiến tranh khắc nghiệt có ý nghĩa thế nào đối với cuộc đời làm báo của ông?

Nhà báo Trần Mai Hưởng:

Chiến tranh là thử thách nghiêm khắc nhất với một dân tộc cũng như một con người. Trong gian khó ác liệt, giữa lằn ranh sống chết, con người bộc lộ rõ nhất những phẩm chất của mình. Người ta nói không ở đâu hiểu nhau nhanh bằng ở chiến trường. Đúng là như vậy.

Đối với phóng viên chiến trường, vấn đề không chỉ là gian khổ, hy sinh, đem sự sống của mình ra đặt cọc cho mỗi chuyến đi, mỗi chiến dịch. Cái khó hơn là làm sao trong hoàn cảnh như vậy, phải hoàn thành nhiệm vụ. Không những phải kịp thời có mặt, chứng kiến, mà còn phải có được hình ảnh, tư liệu, kịp thời có được tin, bài, ảnh và chuyển được về cơ quan. Đấy là những thách thức rất lớn mà để vượt qua không chỉ cần lòng dũng cảm mà còn cần cả sự quyết đoán, nhanh nhạy khi xử lý tình huống. Và tất nhiên, cần trình độ chuyên môn để ảnh chụp đạt yêu cầu, các bài viết dù rất nhanh nhưng cũng phải bảo đảm chất lượng.

Những năm tháng chiến tranh đã giúp chúng tôi rèn luyện. Đồng thời, bản lĩnh sống, những giá trị, phẩm chất hình thành từ những năm tháng ấy là điểm tựa cho mỗi người trong những năm tháng hòa bình sau này.

Đại tá - nhà báo, NSNA Trần Hồng:

Hạnh phúc nhất cuộc đời tôi là được cầm máy ảnh. Tôi tự thấy mình là người yêu nghề. Tôi đã được cầm máy ảnh để đi tìm sự thật, ghi lấy sự thật trong khoảnh khắc. Nghề nhiếp ảnh đã cho tôi những trăn trở, những day dứt, buồn vui và cả những vinh quang. Nghề báo cho tôi cơ hội đi nhiều, trải nghiệm nhiều, tìm tòi, tư duy nhiều và cả sự nhạy bén với thời cuộc. Tất cả đều thật đáng trân quý đối với tôi.

Làm báo mỗi thời mỗi thời mỗi khác, tùy theo giai đoạn ấy thế nào, phương tiện ra sao và mỗi người làm báo có tính khí riêng. Tuy nhiên, có một điểm chung mà người làm báo ở thời chiến hay thời bình đều cần phải có, đó là sự đam mê, trung thực và tôn trọng sự thật.

Trân trọng cảm ơn nhà báo Trần Mai Hưởng và Đại tá - nhà báo, NSNA Trần Hồng về cuộc trò chuyện này!

Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Phường Phú Lương trao Huy hiệu Đảng cho 24 đảng viên đợt 19/ 5
    Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), ngày 28/4, Đảng ủy phường Phú Lương (Hà Nội) đã tổ chức trọng thể Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 19/5/2026 cho 24 đảng viên thuộc Đảng bộ phường.
  • Hội nghị tổng kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở năm 2026: Nâng cao hiệu quả dân chủ trực tiếp tại Thủ đô
    Sáng 28/4, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội phối hợp với UBND Thành phố tổ chức Hội nghị tổng kết triển khai Hội nghị đại biểu Nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở năm 2026. Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết nối trực tuyến với điểm cầu 126 xã, phường, với gần 10.000 đại biểu tham dự.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
  • Phường Ba Đình số hóa di sản ẩm thực, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô
    Tại hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm diễn ra ngày 24/4, phường Ba Đình triển khai dự án số hóa ẩm thực với nhiều nội dung, xây dựng dữ liệu số về các món ăn đặc trực; gắn mã QR giới thiệu thông tin, nguồn gốc món ăn; quảng bá ẩm thực gắn với du lịch và văn hóa; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát duy giá trị truyền thống.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Liên hoan Yosakoi Việt Nam 2026: Kết nối văn hóa, lan tỏa năng lượng tích cực
    Tiếp nối thành công của Liên hoan Yosakoi những năm trước, Liên hoan Yosakoi Việt Nam lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Giao lưu văn hóa - Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai” chính thức diễn ra trong hai ngày 25 - 26/4 tại Ninh Bình và Hà Nội, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, vũ công và công chúng yêu nghệ thuật.
“Thời hoa lửa” của phóng viên chiến trường
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO