Tác giả - tác phẩm

Phạm Tiến Duật: Trường Sơn và sau Trường Sơn

Nhà thơ Vũ Quần Phương 22/06/2023 11:56

Phạm Tiến Duật sinh ngày 14/1/1941 tại thị xã Phú Thọ. Tốt nghiệp đại học sư phạm Văn, chưa đi dạy ngày nào thì ông đã nhập ngũ vào năm 1965. Mười bốn năm ở quân đội thì 8 năm ông ở Trường Sơn, trong Đoàn vận tải 559 - bộ đội Trường Sơn. Có thể nói cuộc sống chiến đấu tại Trường Sơn trong những năm chống Mỹ đã tạo nên ấn tượng thơ Phạm Tiến Duật và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều bóng dáng Trường Sơn vào thơ nhất.

2a.jpg

Đóng góp có ý nghĩa nhất của Phạm Tiến Duật là anh táo bạo, tinh tế và đầy sáng tạo mở rộng biên giới cái nên thơ của đời sống. Đọc thơ mà tưởng như anh cắt nguyên từng mảng hiện thực, còn nguyên sự thô ráp, bụi bặm của đời mà đặt lên trang giấy. Nói cách khác, Phạm Tiến Duật đã khám phá ra chất thơ mới mẻ nằm trong bản chất của những sự việc mà mới nhìn tưởng nó không thơ. Trong bài thơ “Gửi em cô thanh niên xung phong”, anh kể mối tình sét đánh của anh bộ đội lái xe chờ thông đường và cô thanh niên xung phong cùng đại đội cô đang lấp hố bom đêm ấy: “Có lẽ nào anh lại mê em/ Một cô gái không nhìn rõ mặt”.

Câu thơ mở đầu thật ly kỳ khó tin mà rất tất yếu. Nhiều chi tiết sống động như phóng sự mà sâu nặng tình người. Ở đây tôi chỉ muốn nói một chi tiết. Ấy là anh bạn lái xe từ hôm ấy, xe lăn bánh đến đâu, anh cũng hỏi thăm dấu tích đơn vị cô gái. Mênh mông quá, dấu chim tăm cá, cuộc chiến thì ngày càng ác liệt. Thế mà anh chàng tìm được. Đúng đơn vị ấy đây rồi, nhưng cô Thạch Kim Thạch Nhọn lại đang ở mặt đường. Một cô tiếp khách thay bạn, anh bộ đội chăm chú nghe, nhớ cả lời cả giọng của cô gái kể về người anh tìm: “Cạnh giếng nước có bom từ trường/ Em không rửa ngủ ngày chân lấm/ Ngày em phá nhiều bom nổ chậm/ Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà”.

Những chi tiết nghe buồn cười nhưng khi chiếu nó vào đời sống chiến đấu của Trường Sơn hồi đó mới thấy biết bao xót thương. Rửa chân trước khi đi ngủ là “quyền lợi” của mọi người trên trái đất, các cô gái vốn lại ưa sạch sẽ. Thế mà ở đây, để thực thi cái quyền lợi nhỏ bé ấy có thể mất cả mạng người: “cạnh giếng nước có bom từ trường”. Lại chi tiết cô gái nói mê vang cả lán. Quả thật không kín đáo lắm mà buồn cười. Vậy mà anh bộ đội nhà ta vừa nghe xong đã thốt thầm trong tâm trí ba lần hai tiếng thương em trong câu thơ tám chữ: “Thương em, thương em, thương em biết mấy”.

Phá bom nổ chậm là việc đối diện với cái chết, không nói tài được ở công việc đầy bất trắc này. Con người ai cũng có phần tự vệ bản năng: lo âu, hồi hộp, sợ hãi. Nhưng khi họ làm công việc ấy, với ý thức, phần bản năng bị đẩy lùi, họ bình tĩnh, chủ động, sáng suốt. Chỉ khi vào giấc ngủ, phần ý thức bị ức chế, sự sống (tim đập, phổi thở…) được điều khiển bằng vô thức, nỗi sợ hãi do bản năng sinh vật trỗi dậy, cô gái phá bom mê hoảng. Mê hoảng nhưng ngay sáng hôm sau, cô thanh niên xung phong ấy đã lại ra hiện trường tiếp tục phá bom. Nhận thức ấy chắc đã làm tác giả ứa nước mắt mỗi khi nghĩ đến những công việc thường ngày, những hi sinh cũng thường ngày ở Trường Sơn, và cả những đời người. Đóng góp của Phạm Tiến Duật ở chặng thơ Trường Sơn là anh đã đủ nhạy cảm và kiến thức để nhận ra ý nghĩa bản chất của những gì anh đã sống, đã chứng kiến với tư cách người trong cuộc. Nhiều lúc (không phải tất cả) tôi có cảm giác câu thơ, bài thơ đến với anh rất nhanh. Anh không “làm thơ” mà chỉ như ghi lại vào nhật ký những chiêm nghiệm riêng tư của đời mình: “Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến/ Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo”. Đây là hai câu cuối của bài thơ bốn câu có nhan đề là “Nhớ”. Hai câu này tự đến trong một lần anh nằm bệnh viện. Thấy vui vui, anh lưu lại, làm thêm hai câu bối cảnh, đặt lên trên cho thành tứ tuyệt. Phạm Tiến Duật có năng khiếu hài hước, gặp môi trường lính tếu táo, càng được dịp phát huy và tạo nên một thi pháp độc đáo cho thơ anh. Ấy là lấy giọng hài để kể chuyện bi. Chiến tranh, dù “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, nó vẫn là một nỗi đau lớn. Kẻ xâm lược mạnh, mạnh súng mạnh tiền. Nước ta nghèo, nghèo người, nghèo của, nghèo khí giới. Phải lấy máu xương mà chiến đấu. Thư đi thư về của con ra trận, của bố mẹ ở quê. Người trong nhà thường giấu nhau những tin thất thiệt để yên lòng mà đánh giặc. Nhưng văn chương, biên bản tâm hồn của một thời đại thì không thế được. Kể chuyện buồn mất mát hi sinh bằng giọng buồn, dễ sinh bi lụy. “Thùng thùng trống đánh ngũ liên/ Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa” như ca dao thời phong kiến thì làm sao thắng được giặc dữ. Mọi người viết về chiến trận đều gặp trở ngại này. Mỗi người tự tìm một cách gỡ. Cách của Phạm Tiến Duật là tìm giọng vui. Đã có những bạn viết trẻ hồi ấy học theo giọng anh. Nhưng không thấy mấy ai phát triển được. Vì nói giọng của thơ tạo thế thuận cho bút pháp hiện thực là nói cái biểu hiện bên ngoài, dễ thấy. Thật sự nó là phương pháp suy nghĩ hiện thực đời sống. Phạm Tiến Duật có sự phân biệt hiện thực tình hìnhhiện thực (có tính) nguyên tắc. Tình hình dễ đổi thay còn nguyên tắc phải nhập vào bản chất hiện thực mà nhận định. Vả lại không phải giọng vui làm bài thơ hóa vui, nó chỉ làm bài thơ bớt đau, cái đau được chìm vào ký ức, “nước mắt dành cho ngày gặp mặt” (thơ Nam Hà), cho ngày toàn thắng. Có những bài, anh nhà thơ hân hoan nói giọng vui, nhưng người đọc lắng nghe… lắng nghe. Trong giọng thơ ngỡ như hân hoan ấy vẫn có gì xao xác ở bên trong.

Tôi lưu ý một bài thơ nhỏ là “Thắng giặc lên núi Ba Vì”, được viết vào tháng 3/1974. Giọng thơ hân hoan vì thắng giặc, lính về hậu phương, lính lên núi Ba Vì thăm người thân. Bài thơ 12 câu thì 10 câu tán thế núi non Tam Thanh, Tam Điệp, Tam Đảo lại Ba Vì, như đinh ba chống giặc, như chân kiềng bình yên vững chãi. Nhưng bài thơ, thơ nhất lại ở hai câu cuối: “Dưới chân núi đó nhà em ở/ ngọn khói bồn chồn thung lũng xa thì chẳng dính gì với thế núi “cứ ba” mà anh reo lên ở phần đầu, khi chân anh vừa chạm đến Ba Vì mà lại dính với nỗi lòng thường trực nơi anh khi anh ở Trường Sơn. Phải ở Trường Sơn thì Ba Vì mới là “núi đó” và thung lũng có nhà em ở mới là “thung lũng xa” và ngọn khói trong tâm tưởng nên nó mới “bồn chồn”. Điều tạo nên nỗi xao xác của bài thơ lại nằm ngoài bài thơ - nằm trong tạng cảm xúc của tác giả - chính là vậy.

Bài thơ dài “Những vùng rừng không dân”, có chương “Vùng làng” tả một vùng lính ở nhưng mang dáng dấp một quê làng. Cái tiếng reo lúc chợt thấy nét làng, vui lắm, nhưng trong nỗi vui bồng bồng những so sánh là bao nhiêu chất chứa nỗi lòng người trận mạc nhớ hậu phương: “Cũng vương tóc rối chân gà/ Cũng tiếng chó sủa chiều tà sau cây/ Cũng quần áo ướt phơi dây/ Cũng gầu múc nước. Ô hay! Cũng làng”.

Đất nước thống nhất, tác giả và thơ từ giã Trường Sơn về xuôi. Thơ Phạm Tiến Duật sang chặng mới. Những năm đầu cũng có chút chênh chao. Nhưng rồi nhà thơ mẫn tiệp và sâu sắc ấy cũng tìm ra địa bàn mới cho thơ mình “hạ trại”. Đổi không gian, đổi đề tài, cố nhiên phải tỏa ra nhiều chiều khai thác, mở rộng cả giọng diễn đạt, khi trầm ngâm kiểu triết gia, khi bình dị cát bụi cùng chú bé đánh giày. Có khi gặp lại giọng tếu táo thuở nào như lúc anh đi tìm vợ cho đồng đội cũ. Nhưng cường độ cảm xúc, cường độ nghĩ ngợi vẫn thuộc nền xưa. Và sự phấn đấu của ngòi bút xem chừng bề thế hơn xưa. Bề thế vì dung lượng việc đời, vì sự phức tạp của lòng người, của thời thế. Và nhất là vì những thay bậc đổi ngôi. Cũng nhiều tang thương lắm. Tiễn các chú bé đánh giày trên vỉa hè Hà Nội về quê ăn Tết vào năm cuối thế kỷ XX, biết nói gì với chúng. Vắng chúng thì phố xá buồn thiu, nhưng có chúng thì cũng nhiều vướng bận. Chúng ngây thơ rất thương, làm mình xa xót nhận ra lỗi của thế hệ mình. Nhưng chúng đã nhuốm trong tâm hồn chút bụi đời du đãng làm cho hạnh phúc nào của hôm nay cũng thoáng trong vị đắng. Chúng là sản phẩm buồn thương của đô thị hóa trộn cùng ô hợp hóa. Bạn đọc như gặp lại nỗi xao xác không nói ra trong lòng Phạm Tiến Duật, chỉ khác bây giờ là xao xác của thời bình: “Chỉ mấy ngày thôi về với cha với mẹ/ Các cháu sẽ gặp lại quê mình xanh như thể tre xanh/ Tự nghìn năm xưa tre vẫn xanh như thế/ Dẫu chẳng phồn hoa mà cuộc sống an lành”.

Sống giữa Hà Nội yên bình, Phạm Tiến Duật có những cơn nhớ Trường Sơn. Thời ở Trường Sơn mong ước ngày đất nước yên hàn, được bước trở lại những mặt hè Hà Nội. Nay được thế rồi, đất nước xây dựng to đẹp hơn xưa. Vui lắm chứ! Hạnh phúc lắm chứ! Nhưng sao: “Chiều nay như thể mọi chiều/ Vẫn là nỗi nhớ niềm yêu cháy lòng/ Tạm quên ánh điện trong phòng/ Tôi đi tìm nắng một vùng núi non”.

Giã từ thế kỷ thứ XX, Phạm Tiến Duật có nhiều khắc khoải trong mối tương quan “năm tháng và đời người". Anh muốn mở thơ vào toàn bộ đời sống hiện nay, cả hạnh phúc lẫn lo âu. Và kỉ niệm Trường Sơn khi ấy sẽ như tấm hình nền ẩn hiện làm nổi lên sự tích mỗi con người và thời họ sống. Ý định ấy đang được anh triển khai. Trường ca “Tiếng bom và tiếng chuông chùa” là một thể nghiệm. Phạm Tiến Duật là người giàu chiêm nghiệm, ham mở đường và trông lãng tử vậy thôi, chứ nung nấu nghề nghiệp lắm. Tôi đã đoán chắc anh sẽ có chặng thu hoạch mới, như một bổ sung cho thơ Trường Sơn. Anh còn ôm ấp viết thêm thi thoại lúc “nông nhàn”.

3a.jpg

Nhưng tất cả đã đành dừng lại. Hôm ấy, ngày 4/12/2007, sau thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư phổi, những trang viết và công việc của Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam của anh đã không còn quay lại./.

Bài liên quan
  • Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng
    Sinh năm 1948 với hơn 50 năm sáng tác, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng vừa ra mắt bạn đọc tập sách mới nhất là “Thơ tuyển Nguyễn Thị Hồng” vào đầu năm 2023. Trước đó, các tập thơ của chị đã được xuất bản như “Em ra đi”, “Gọi thu”, “Biển đêm”, “Những bông hoa thiên sứ”, “Cuộc bàn giao vĩnh cửu - hồn khèn”. Khi cầm cuốn sách trên tay, tôi đã có dự cảm không sai về một không khí thơ đằm thắm, trong lành ở hơn trăm bài thơ với gần 50 năm sáng tác.
(0) Bình luận
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • Lan tỏa những điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Ban Chuyên đề - Báo Nhân Dân phối hợp Ban sách Lý luận, Kinh điển - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Hoa vườn Bác” (Những điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh). Cuốn sách tuyển chọn 70 bài viết về những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác Hồ, tích cực lao động, sản xuất, học tập, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến trên nhiều lĩnh vực của đời
  • Thế giới tuổi thơ và hình tượng người mẹ trong tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” của Trương Anh Tú
    Tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” (NXB Kim Đồng, 2024) của tác giả Trương Anh Tú viết về thế giới trẻ thơ, song lại chứa đựng bề sâu cảm xúc mà cả người lớn lẫn trẻ nhỏ đều có thể cảm nhận. Với 24 bài thơ, được sắp xếp theo nhịp thời gian bốn mùa và những khoảnh khắc đời thường, tập thơ đã dệt nên một thế giới trong trẻo. Xuyên suốt tập thơ, bóng dáng người mẹ hiện lên với sự yêu thương, che chở.
  • Tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của Hồ Anh Thái sắp được xuất bản bằng tiếng Trung
    Trong khuôn khổ Hội sách Quốc tế Bắc Kinh 2026 (BIBF 2026), chiều ngày 17/6/2026, Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam và Nhà xuất bản Lijiang (Trung Quốc) đã tổ chức lễ ký kết hợp tác bản quyền xuất bản tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của nhà văn Hồ Anh Thái bằng tiếng Trung.
  • Ra mắt cuốn sách “Xây dựng chính phủ liêm chính, kiến tạo trong kỷ nguyên mới”
    Sáng 19/6/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Văn phòng Chính phủ tổ chức Lễ giới thiệu cuốn sách “Xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo trong kỷ nguyên mới” của GS.TS Nguyễn Hòa Bình, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, nguyên Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Chính phủ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Chùm thơ của tác giả Khang Sao Sáng
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Khang Sao Sáng.
  • [Podcast] Tản văn: Phố núi đợi mùa
    Sớm mai thức giấc, cơn gió mang cái lạnh se sắt từ đâu ùa về. Tia nắng mỏng manh không đủ sức tan đi giọt sương khuya còn ướt đầm trên lá, ngược lại, biến chúng thành những viên ngọc lóng lánh cười trong nắng. Mới dăm hôm trước, nắng thu vẫn còn ấm áp cả không gian, mà nay, khí trời bàng bạc như thể mùa đông chạm ngõ. Ngó bên hiên nhà, hoa dã quỳ bừng nở, thay thời gian báo hiệu mùa về.
  • Giữ “miền sáng” của văn chương
    Những năm gần đây, văn học thiếu nhi Việt Nam đã có nhiều khởi sắc với sự nhập cuộc của các cây bút trẻ, sự đồng hành của các cơ sở giáo dục, các đơn vị xuất bản... Tuy nhiên, để “miền sáng” văn chương này thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng thì vẫn cần thêm những cơ chế hỗ trợ, những môi trường sáng tạo thuận lợi và trên hết là những tác phẩm đủ sức chạm tới trái tim bạn đọc...
  • Bước đi đột phá của phường Cửa Nam: Khi sức khỏe mỗi người dân được "số hóa" và bảo vệ trọn đời
    Chiến dịch khám sức khỏe định kỳ và tầm soát bệnh lý miễn phí ít nhất một lần mỗi năm cho 100% người dân trên địa bàn phường Cửa Nam trong năm 2026 chính là minh chứng sống động cho tư duy y tế dự phòng thời đại mới. Không dừng lại ở việc “đợi bệnh đến mới chữa”, mô hình này hướng tới quản lý, bảo vệ sức khỏe liên tục cho mỗi người dân ngay từ tuyến cơ sở.
  • Phường Cửa Nam: Trọn vẹn nghĩa tình trong chiến dịch thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ
    Sáng 2/7, UBND phường Cửa Nam đã chính thức phát động và triển khai đợt cao điểm thu nhận mẫu sinh phẩm ADN đối với thân nhân liệt sĩ chưa xác định được thông tin trên địa bàn. Đây là một trong những hoạt động trọng điểm nằm trong chiến dịch “500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Chiến dịch mang ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, thắp lên niềm hy vọng cho hàng trăm gia đình sau nhiều thập kỷ mòn mỏi mong chờ.
Đừng bỏ lỡ
Phạm Tiến Duật: Trường Sơn và sau Trường Sơn
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO