Tác giả - tác phẩm

Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng

Hoàng Liên Sơn • 06:08 07/06/2023

Sinh năm 1948 với hơn 50 năm sáng tác, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng vừa ra mắt bạn đọc tập sách mới nhất là “Thơ tuyển Nguyễn Thị Hồng” vào đầu năm 2023. Trước đó, các tập thơ của chị đã được xuất bản như “Em ra đi”, “Gọi thu”, “Biển đêm”, “Những bông hoa thiên sứ”, “Cuộc bàn giao vĩnh cửu - hồn khèn”. Khi cầm cuốn sách trên tay, tôi đã có dự cảm không sai về một không khí thơ đằm thắm, trong lành ở hơn trăm bài thơ với gần 50 năm sáng tác.

tap-tho-nguyen-thi-hong.jpg

Tuổi xuân

Sinh ra ở một xã thuần nông của huyện Hưng Hà, quê lúa Thái Bình, thật dễ hiểu khi tuổi xuân vất vả của chị gắn bó với cánh đồng. Tuy nhiên những mỹ cảm riêng có ở người làm thơ đã chớm xuất hiện với từ gót hoa: “Mùa này đồng rạ quê ta/ Nứt đồng nứt cả gót hoa làm đồng” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…).

Như nhiều nhà thơ cùng thời, Nguyễn Thị Hồng không cách tân mạnh mẽ về hình thức, nhưng thỉnh thoảng cũng xuất hiện những điều chỉnh nho nhỏ rất nhuần nhuyễn; ví dụ cái “hun hút” thường sẽ tiếp tục để tả rõ hơn về ngõ thì được chuyển sang tả nụ hôn: “Ngõ xưa nhỏ lắm và sâu lắm/ Hun hút nụ hôn tuổi đôi mươi” (Về La Khê). Trong thanh xuân của chị, đời sống vật chất tinh thần của con người có thể chưa nhiều bộn bề phức tạp, nhưng lại là thời chiến, vì vậy: “Tuổi thanh xuân/ đẹp tươi/ và mất mát” (Với Exenhin 1).

Nhớ tình xưa là đặc điểm nổi bật của nữ giới. Chị cũng không là ngoại lệ: “Dẫn em về tuổi sim chín đồi xưa/ Tuổi đinh ninh sim tàn tình tím mãi/ Tuổi bất ngờ tình qua sim ở lại/ Mà suốt đời tiếc mãi một mùa sim” (Thu). Chữ “sim” xuất hiện ở cả bốn câu thơ liền nhau, nhưng không theo kiểu một điệp từ; cùng với chữ “tình” tạo một cảm giác xoắn bện như một vòng lặp khiến người trong cuộc dường như không thể dứt ra nổi nỗi tiếc tình dang dở. Hãy chú ý câu thứ hai và ba trong trích đoạn trên, cho thấy sự thay đổi nhanh đến chóng mặt, từ “đinh ninh” tới “bất ngờ”; từ “tình tím mãi” tới “tình qua”. Lối thao tác chóng mặt này không có nhiều trong thơ thời đó.

“Gái nhớ tình xưa” đã đành kinh điển rồi, sự mạnh mẽ ở đây là gái còn muốn trai cũng nhớ như mình: “Trước khi cầm lấy tay nàng/ Ôm vào lòng hãy nhớ rằng anh ơi” (Mai sau). Một sự ích kỷ đáng yêu bởi cũng vì yêu mà ích kỷ! Vậy chị đã yêu như thế nào? Chị đã yêu như con cuốc nhớ bạn mà quên cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp vẫn bao quanh: “Ngày thì nắng giãi bên thềm/ Đêm thì trăng trải khắp miền trần gian/ Điều gì để cuốc thở than/ Thì ra cuốc nhớ bạn vàng cuốc thôi” (Tiếng cuốc). Và tình yêu ấy không chấp nhận những giới hạn nhỏ nhoi: “Không thể đem biển xanh/ Với bao la khát vọng/ Đựng vào một cốc xinh/ Trên mặt bàn yên tĩnh” (Lại nói về giới hạn). Và nếu vì phá vỡ những giới hạn mà nó đổ vỡ thì người con gái cũng luôn có thủy có chung, ít nhất là trong tâm tưởng và tư tưởng: “Có thể hai chúng mình/ Không gần nhau được nữa/ Nhưng anh ở trong em/ Là mặt trời rực rỡ”(Lại nói về giới hạn).
Tôi thường nhoẻn cười thú vị khi bắt gặp nhân vật trữ tình bộc lộ mình một cách tự nhiên, ở đây là lộ giới tính nữ: “Chỉ/ nước mắt/ ngược đời/ tưới/ cây tình/ đang tươi/ thành héo” (Lệ thường). Nhà thơ ơi, “đàn bà chỉ nhớ người đàn ông khiến cho mình cười, đàn ông chỉ nhớ người đàn bà khiến cho mình khóc”. Với người đàn ông, khi anh ta khóc cây tình có thể mới thực sự từ héo thành tươi!

Quê hương và mẹ

Cấu trúc “cầu cho” rất sẵn trong ca dao, truyện thơ rồi. Sự thừa kế phổ biến, nên một mảy sáng tạo cũng rất đáng ghi nhận, trân trọng. Ở đây là cụm từ “lạnh thì lạnh ít”: “Cầu cho mưa thuận gió hòa/ Lạnh thì lạnh ít mẹ già đỡ run” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…). Dù là vì mẹ mà cầu, cũng cần tiết chế chứ không thể cầu “không lạnh” được! Đấy là khi mẹ còn, chứ lúc mẹ mất thì: “Bây giờ biết Mẹ ở đâu/ Ở đây chỉ nắm cỏ rầu khôn nguôi/ Lời rằng nước mắt chảy xuôi/ Cầu cho nước mắt ngược đời chảy lên” (Mẹ). Dẫu vẫn là nước mắt thôi, nhưng “ngược đời chảy lên” cũng hơn không còn một chỉ dấu nào của sự giao cảm nữa.

Nhà thơ yêu quê hương không phải với tình yêu sáo mòn giả tạo. Chị biết rõ từng yếu tố cấu thành tình yêu có cả phần bất toại nguyện: “Ta có yêu sự lầy lội không/ không/ ta có yêu con đường lầy lội không/ có” (Con đường lầy lội). Tình yêu ấy đã vượt lên trên cái độc đầu tiên trong tam độc: tham. Chị yêu sâu sắc trong sự tỉnh thức, biết rõ vì sao mà mình yêu: “Bởi vì/ Trên con đường này/ Đã in dấu chân những người thân yêu nhất” (Con đường lầy lội). Trong tình yêu quê có cả niềm hoan hỉ cùng nỗi đau của đời sống đương đại phức tạp hơn xưa; và cũng có nghĩa là yêu trong tỉnh thức: “Có người giỏi/ thành nhân vật/ tiêu biểu/ năm 2000/ Còn/ Em/ Cường/ đã – chết – vì/ Bệnh AIDS” (Trai làng).

Ánh sáng tâm linh

Ngay từ bài thơ đầu tiên của tập thơ, sự giác ngộ của chị đã chớm xuất hiện: “Mới hay là cõi vô thường/ Mùa yêu chưa thỏa – mùa hương qua rồi” (Mùa yêu chưa thỏa). Chị ngộ về sự bất toại nguyện, về sự vô tình của thiên nhiên trước thành trụ hoại diệt của con người: “Mai sau dẫu có một ngày/ Tuổi tàn – có chợ hoa này hồi xuân” (Chợ hoa ngày Tết). Chị biết chấp nhận quy luật hoại – diệt ấy, và cao hơn, trân trọng nâng niu những gì chỉ đơn giản là gợi nhớ thanh xuân của mình. Tuyệt vời hơn nữa, lại là một tình yêu đến nửa say, nửa ngây nhưng vẫn như thực tuệ tri: “Người thì nửa tỉnh nửa say/ Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời/ Mùa thu ơi đẹp vừa thôi/ Giăng chi khoảng cách giữa đời và mơ”(Thu cảm).

Chị thấy phận người trong phận chim, khi bị lừa dối bởi chính lòng tham, độc thứ nhất trong tam độc, của mình: “Thèm ánh sáng giữa vùng bóng tối/ Đâu phải là tội lỗi/ Mà giờ đây/ Cùng nhau chen chúc trong chiếc lồng” (Nhân chứng kiến cuộc săn bìm bịp). Chị biết con người tất yếu cần tồn tại, nhưng không nguôi khắc khoải về thân phận của những loài hữu tình mất mạng để con người được sống: “Biết người thả lưới quăng chài/ Chỉ mong cho cá đừng vơi khoang thuyền/ Mà lòng vẫn chẳng bình yên/ Nhìn đàn cá mắc lưới êm của người” (Nỗi niềm). Nhà thơ ơi, chị hãy yên lòng bởi thiền sư – thi sĩ Thích Nhất Hạnh trong bài thơ “Con cá dung thông” đã thác lời cá mà nói với con người rằng: “Để mỗi khi sa vào lưới/ Được chết thong dong/ Không hận thù, không tuyệt vọng/ Bởi vì tôi biết/ Sự sống làm bằng sự chết/ Cái có làm bằng cái không/ Mọi loài tương tức/ Tôi và em dung thông.”

Trong một bài thơ khác của chị, đọc qua thấy đẫm bi quan với chữ “không”: “Một mình trong cả tâm linh/ Nào ngờ ngay cả một mình cũng không” (Biển đêm). Nhưng ngẫm kỹ thấy mừng, bởi chị đã đi đến một đại ngộ: ngộ ra tính không của từ một mình, của sự sở hữu; và lờ mờ ý một ý thức về xây dựng hải đảo tự thân (một mình). Chị cũng thấy quá trình ấy cần sự tinh tấn của cả thân và tâm: “Nhưng tâm hồn thương mến/ Lại nằm trong thân ta/ Chiều cao và cân nặng/ Đếm đong rất thật thà” (Tâm hồn).

Tiếng nói trữ tình công dân

Là một nhà thơ chuyên nghiệp đầy trách nhiệm, chị đã nhạy cảm nhận ra và cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng về tính chất khác thường của vùng biên. Ở đấy không có chỗ cho lấp lửng mơ hồ hay ba phải: “Cây biên giới thật xanh/ Người biên giới thật thẳng” (Biên giới). Người và đất cùng tự quên mọi chiến công đã qua để luôn sẵn sàng giải quyết các nguy cơ mới: “Em tự quên chính mình/ Những phút thành dũng sĩ/ Như núi rừng tự quên/ Những phút thành chiến lũy” (Bình dị).

Chị là công dân của một nước Việt Nam thống nhất, nhưng cũng đầy đủ ý thức công dân toàn cầu. Và hơn cả công dân toàn cầu, chị còn là công dân vũ trụ trong trục thời gian tính bằng thiên niên kỷ: “Một ngàn năm/ Mấy ngàn năm/ Chẳng lẽ thời gian không giúp gì ư/ Cho loài người nghĩ suy về nhân tính/ Cho loài người tiến lên dù chút ít/ Lòng yêu thương con người!/ Loài người sẽ đi về đâu/ Hay kể cả khi họ tìm được hành tinh khác để sống/ Họ sẽ đem theo gì/ Chiến tranh ư?/ Tôi ngờ lắm!!!” (Một chút bi quan hay Những hài cốt ở Hoàng thành cổ). Cái “chút ít” tương phản mạnh mẽ với cái “ngàn năm”!

Tự khúc - dấu hiệu báo trước của trường ca

Nhà thơ Phùng Văn Khai tâm sự với tôi rằng mã thơ Nguyễn Thị Hồng nằm trong bài “Tự khúc” này. Tôi đã gặp lại cái tình mênh mang trong veo thời thanh xuân, nhớ quê và nhớ mẹ của người viết. Tôi cũng gặp lại nữ tính ở đây, kiểu“đánh Sơn Tây chết cây Hà Nội”: “Lòng không còn vô tư như tiếng trống/ Mắt ai nhìn xao động mùa xuân… (I). Và gặp lại trách nhiệm công dân khi chị lên với vùng cao, chiêm nghiệm cả cái hay và dở ở đó: “Cối đá xoay nặng nề chậm chạp/ Như cuộc đời chậm chạp đổi thay/ Tôi gặp những tấm lòng trong sạch/ Sự trong sạch tạo ra lửa/ Giữ cho bếp tâm hồn không lụi tắt ánh hồng/ Dù bến nước cuộc đời khi đục khi trong” (II).

“Và tôi gặp nấm mồ người liệt sĩ/ Những xóm làng san sát bát hương” (II) - Từ san sát thường dùng để mô tả cảnh trù phú giàu có nào đó nhưng ở đây, chị đã thay đổi cách dùng chính xác một cách đau xót! Là thơ mà dường như cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của chị: “Ôi con người nhỏ nhoi hạt cát/ Lại cũng như hạt cát chẳng có gì/ Ngoài chính mình trần trụi với thiên nhiên” (II). Không hờn oán, nhưng chị cần minh định những thiệt thòi oái oăm ấy của thời chiến: “Hầm trú ẩn che luôn thời má phấn” (II).

Chị “như thực tuệ tri” cái ngoài mình, trong mình. “Cám ơn người tạo nên con như thế/ nhỏ nhoi một hạt sa bồi/ Mỗi mùa lũ cùng vô vàn hạt khác/ Vật vã rồi thành bờ bãi sinh sôi” (II). Khi ví mình cũng tựa như một hạt sa bồi, chị đã ý thức được tính không (không bản ngã, không tự tính) của mình cùng lẽ tương tức, duyên sinh và sẵn sàng cho mọi cuộc chu du vô tận. Và chị đã khép lại bài thơ trường thiên này bằng một cách tân hình thức tự nhiên, nghĩa là xuất phát từ nhu cầu biểu đạt ý tưởng. Khát vọng thấy lại ngày xưa của mình đã khiến khái niệm không gian hàm chứa biểu tượng thời gian; khát vọng gặp lại người thân khiến khái niệm thời gian hàm chứa biểu tượng không gian: “Dường như ở phía chân trời/ Mút không gian ấy cuộc đời ngày xưa/ Và trong dòng chảy vô bờ/ Của thời gian/ có/ bến chờ/ người thân…” (III).

Cấu trúc chặt chẽ, không gian và thời gian khoáng đạt, nội dung phong phú với ít nhiều kịch tính của bài trường thiên này là những dấu hiệu báo trước của trường ca “Hồn khèn” mà chị đã hoàn thành trong thời gian dài đến khó tin là 30 năm!

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Hồng Thanh Quang - một hồn thơ lãng mạn say đắm
    Trong thơ tình Việt Nam đương đại, Hồng Thanh Quang là một giọng thơ dễ nhận ra bởi sự say đắm, nồng nàn, giàu nhạc tính và một nỗi muộn màng rất riêng. Thơ ông không phải tình yêu trong trẻo, non tơ, cũng không phải lời than thở ủy mị của một cái tôi thất tình, mà là tiếng nói của một trái tim từng trải qua lỡ dở, xa cách, nhớ thương, tha thứ và mất mát. Đó là hồn thơ lãng mạn hiện đại, say đắm mà từng trải, ngọt ngào mà đắng xót, da diết mà không bi lụy; luôn biết biến tình yêu thành nhạc điệu, ký ức thành những hình ảnh trữ tình lay động. Nếu “Chút sen còn lại” lấy hình tượng sen làm trung tâm cảm xúc, thì “Cúc muộn” nghiêng về vẻ đẹp cuối mùa, sau bão giông, lỡ làng và những dấu vết của thời gian.
  • Ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Đoan Bui
    Chiều ngày 11/10/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức buổi giao lưu, ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Doan Bui, do dịch giả Thuận chuyển ngữ. Tác phẩm từng được đề cử Giải Femina (Prix Femina) - một giải thưởng văn chương danh giá của Pháp.
  • Nhà thơ Bằng Việt nhận Giải thưởng Lớn tại lễ trao giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội năm 2026
    Kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), chiều 2/10, tại Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Lễ trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 19 năm 2026 đã diễn ra, tôn vinh những cá nhân, tác phẩm, ý tưởng và việc làm có giá trị, thể hiện tình yêu sâu sắc với Thủ đô.
  • Những cánh cửa mở ra từ trang sách Kim Đồng
    Một cuốn sách có thể đưa người đọc trở về một Hà Nội hơn trăm năm trước, theo bước chân một vị vua, bước vào khu rừng của những loài vật biết nói hay đơn giản là ngồi lại với những câu chuyện rất gần gũi của tuổi thơ. Tại Hội sách Hà Nội lần thứ XI, Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu nhiều ấn phẩm mới, trải rộng từ sách về Hà Nội, văn học thiếu nhi, truyện tranh, truyện kể lịch sử đến sách kỹ năng và văn học dành cho bạn đọc trẻ. Sự đa dạng ấy không chỉ nằm ở thể loại hay độ tuổi độc giả, mà còn ở cách mỗi cuốn sách mở ra một thế giới riêng để người đọc khám phá.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • Ra mắt tác phẩm văn học thiếu nhi kinh điển “Khu vườn bí mật”
    Crabit Kidbooks liên kết với NXB Hà Nội vừa ra mắt ấn bản “Khu vườn bí mật” của nhà văn người Anh - Frances Hodgson Burnett, với phần minh họa của họa sĩ Inga Moore và bản dịch của Ngô Hà Thu.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Lan tỏa giá trị múa cổ truyền Hà Nội
    Tối 31/10, tại Không gian Biểu diễn Nghệ thuật, Ẩm thực đường phố phường Tây Hồ (thuộc Không gian Văn hóa sáng tạo Tây Hồ - phố đi bộ Trịnh Công Sơn, Hà Nội), Hội Nghệ sĩ múa Hà Nội tổ chức chương trình biểu diễn “Bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội năm 2026”. Đây là năm thứ 3 Hội triển khai Đề án “Sưu tầm, bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa cổ truyền Thăng Long - Hà Nội” do UBND thành phố Hà Nội phê duyệt năm 2024.
  • Triển lãm 90 bức tranh sơn mài được vẽ bằng góc nhìn đương đại
    Ngày 30.10 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, triển lãm "Nguyên - Lãng du cùng Sơn" khai mạc, giới thiệu 90 tác phẩm sơn mài của 8 họa sĩ gồm: Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Thị Tiến, Nguyễn Đình Văn, Lily Lai, Bùi Thị Mừng, Hoàng Ngọc Nhung, Nguyễn Thùy Dương và Cao Phương Thảo.
  • Tiếp tục đổi mới, khơi dậy tinh thần sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô
    Sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội đã trở thành mái nhà chung của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa Thủ đô và nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Tại tọa đàm “Văn học, nghệ thuật Thủ đô - 60 năm xây dựng và phát triển” do Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức tại Hà Nội sáng 29/10, các ý kiến, tham luận đã làm rõ những dấu ấn sáng tạo, hành trình phát triển cùng những yêu cầu đặt ra trong thời gian tới của văn học nghệ thuật Thủ đô.
  • Hà Nội ban hành Bộ tiêu chí và Phương pháp khảo sát, đo lường Chỉ số hạnh phúc của người dân
    Hoạt động khảo sát trực tiếp được thực hiện vào quý IV hằng năm tại 126 xã, phường và dự kiến công bố kết quả vào Ngày Quốc tế Hạnh phúc (20/3). Bộ tiêu chí khảo sát và đo lường Chỉ số hạnh phúc gồm 50 tiêu chí thuộc 5 trụ cột về kinh tế, mối quan hệ xã hội, dịch vụ an sinh, môi trường sống và quản trị đô thị, được tính theo thang điểm 10. Bên cạnh phỏng vấn trực tiếp, thành phố còn triển khai khảo sát trực tuyến qua ứng dụng iHanoi để phục vụ công tác theo dõi xu hướng và cải thiện chất lượng sống cho Nhâ
  • Chung kết Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow (SFT) 2026
    Ngày 31/10, tại Hà Nội, Samsung Việt Nam phối hợp cùng Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC), trực thuộc Bộ Tài chính, tổ chức Vòng Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow (SFT) 2026 nhằm tôn vinh các giải pháp ứng dụng STEM giải quyết những vấn đề của cộng đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Rock Concert “Thái Nguyên bừng sáng”: Hứa hẹn bùng nổ tại xứ Trà với dàn sao Việt và 30.000 khán giả
    Tiếp nối tinh thần tự hào dân tộc từ Concert Quốc gia “Tôi là người Việt Nam - Nối vòng tay lớn” tối 1/11, Rock Concert “Thái Nguyên bừng sáng” sẽ diễn ra vào tối 2/11/2026 tại Sân vận động Thái Nguyên với quy mô dự kiến 30.000 khán giả. Nằm trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh Thái Nguyên và Festival Trà Quốc tế - Thái Nguyên 2026, chương trình sử dụng ngôn ngữ âm nhạc rock để kết nối truyền thống lịch sử với sức trẻ, tinh thần đổi mới và khát vọng hội nhập của vùng đất xứ Trà.
  • Huế đẩy mạnh kích cầu, giới thiệu sản phẩm du lịch mới
    Cơ cấu lại, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao sức hấp dẫn cùng với các sản phẩm du lịch mới có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhằm thu hút du khách và quảng bá hình ảnh Huế trên thị trường khu vực, quốc tế.
  • Kết nối khán giả với những giai điệu jazz giữa lòng Hà Nội
    Những mùa hoa của Hà Nội, sắc thu trong âm nhạc quốc tế và nhịp điệu phóng khoáng của jazz cùng hội tụ trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần” vào lúc 17h ngày 1/11. Qua phần trình diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, Nhà Bát Giác sẽ trở thành điểm hẹn để công chúng thưởng thức những giai điệu thân quen trong một không gian biểu đạt mới.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Tự khúc
    Rèm cửa, hạ xuống. Trước mỗi bàn trang điểm, chiếc đèn nhỏ phía trên lại được bật sáng; trong tấm gương, phản chiếu hình ảnh một cô gái đang kẻ lông mày, sửa lại tóc.
  • Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại
    Gần 300 nhà quản lý, chuyên gia và nhà thiết kế trao đổi, chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại” tại Trường Đại học Nghệ thuật - Đại học Huế.
  • Phát triển không gian đô thị Hà Nội theo Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Vừa qua, tại kỳ họp thứ bảy (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 3.5 (đoạn từ Quốc lộ 2 đến đầu cầu Thượng Cát). Qua đó góp phần phát triển không gian đô thị đa trung tâm, hiện đại, bền vững theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
  • Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (1947-1950) được xếp hạng Di tích quốc gia
    Ngày 29/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ban hành Quyết định số 2913/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), tại xóm Cây Hồng (1947-1950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026
    Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 sẽ diễn ra vào ngày 24/11/2026 tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình với quy mô khoảng 50.000 người. Sự kiện nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp di sản với sáng tạo đương đại và khẳng định văn hóa là nguồn lực phát triển đất nước...
  • Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung: Người sáng tạo giá trị mới từ chất liệu truyền thống
    Từ những sợi mây, nan tre vốn gắn với nghề đan lát truyền thống làng nghề Phú Vinh (TP Hà Nội), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung đã tìm ra một hướng sáng tạo riêng cho nghề: đan tranh chân dung. Bắt đầu từ bức chân dung Bác Hồ vào năm 1976, ông từng bước đưa kỹ thuật đan thủ công vượt ra ngoài những sản phẩm quen thuộc, tái hiện hình ảnh các nhân vật lịch sử bằng ngôn ngữ tạo hình độc đáo. Hành trình ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo của người nghệ nhân mà còn mở ra những hướng đi mới cho chất liệu truyền thống.
  • [Podcast] Tản văn: Suối cạn
    Chẳng nhớ tôi đã đi dọc con suối cạn sau nhà bao nhiêu lần. Mỗi lần đi, lại một lần suy tư về con suối mà mình chưa biết tuổi. Có lẽ ngày xửa, ngày xưa khi rừng đầu nguồn chưa bị tàn phá, nó là con suối xinh đẹp, tràn đầy sức sống từ dòng nước trong vắt đầu nguồn.
Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO