Tác giả - tác phẩm

Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng

Hoàng Liên Sơn 06:08 07/06/2023

Sinh năm 1948 với hơn 50 năm sáng tác, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng vừa ra mắt bạn đọc tập sách mới nhất là “Thơ tuyển Nguyễn Thị Hồng” vào đầu năm 2023. Trước đó, các tập thơ của chị đã được xuất bản như “Em ra đi”, “Gọi thu”, “Biển đêm”, “Những bông hoa thiên sứ”, “Cuộc bàn giao vĩnh cửu - hồn khèn”. Khi cầm cuốn sách trên tay, tôi đã có dự cảm không sai về một không khí thơ đằm thắm, trong lành ở hơn trăm bài thơ với gần 50 năm sáng tác.

tap-tho-nguyen-thi-hong.jpg

Tuổi xuân

Sinh ra ở một xã thuần nông của huyện Hưng Hà, quê lúa Thái Bình, thật dễ hiểu khi tuổi xuân vất vả của chị gắn bó với cánh đồng. Tuy nhiên những mỹ cảm riêng có ở người làm thơ đã chớm xuất hiện với từ gót hoa: “Mùa này đồng rạ quê ta/ Nứt đồng nứt cả gót hoa làm đồng” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…).

Như nhiều nhà thơ cùng thời, Nguyễn Thị Hồng không cách tân mạnh mẽ về hình thức, nhưng thỉnh thoảng cũng xuất hiện những điều chỉnh nho nhỏ rất nhuần nhuyễn; ví dụ cái “hun hút” thường sẽ tiếp tục để tả rõ hơn về ngõ thì được chuyển sang tả nụ hôn: “Ngõ xưa nhỏ lắm và sâu lắm/ Hun hút nụ hôn tuổi đôi mươi” (Về La Khê). Trong thanh xuân của chị, đời sống vật chất tinh thần của con người có thể chưa nhiều bộn bề phức tạp, nhưng lại là thời chiến, vì vậy: “Tuổi thanh xuân/ đẹp tươi/ và mất mát” (Với Exenhin 1).

Nhớ tình xưa là đặc điểm nổi bật của nữ giới. Chị cũng không là ngoại lệ: “Dẫn em về tuổi sim chín đồi xưa/ Tuổi đinh ninh sim tàn tình tím mãi/ Tuổi bất ngờ tình qua sim ở lại/ Mà suốt đời tiếc mãi một mùa sim” (Thu). Chữ “sim” xuất hiện ở cả bốn câu thơ liền nhau, nhưng không theo kiểu một điệp từ; cùng với chữ “tình” tạo một cảm giác xoắn bện như một vòng lặp khiến người trong cuộc dường như không thể dứt ra nổi nỗi tiếc tình dang dở. Hãy chú ý câu thứ hai và ba trong trích đoạn trên, cho thấy sự thay đổi nhanh đến chóng mặt, từ “đinh ninh” tới “bất ngờ”; từ “tình tím mãi” tới “tình qua”. Lối thao tác chóng mặt này không có nhiều trong thơ thời đó.

“Gái nhớ tình xưa” đã đành kinh điển rồi, sự mạnh mẽ ở đây là gái còn muốn trai cũng nhớ như mình: “Trước khi cầm lấy tay nàng/ Ôm vào lòng hãy nhớ rằng anh ơi” (Mai sau). Một sự ích kỷ đáng yêu bởi cũng vì yêu mà ích kỷ! Vậy chị đã yêu như thế nào? Chị đã yêu như con cuốc nhớ bạn mà quên cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp vẫn bao quanh: “Ngày thì nắng giãi bên thềm/ Đêm thì trăng trải khắp miền trần gian/ Điều gì để cuốc thở than/ Thì ra cuốc nhớ bạn vàng cuốc thôi” (Tiếng cuốc). Và tình yêu ấy không chấp nhận những giới hạn nhỏ nhoi: “Không thể đem biển xanh/ Với bao la khát vọng/ Đựng vào một cốc xinh/ Trên mặt bàn yên tĩnh” (Lại nói về giới hạn). Và nếu vì phá vỡ những giới hạn mà nó đổ vỡ thì người con gái cũng luôn có thủy có chung, ít nhất là trong tâm tưởng và tư tưởng: “Có thể hai chúng mình/ Không gần nhau được nữa/ Nhưng anh ở trong em/ Là mặt trời rực rỡ”(Lại nói về giới hạn).
Tôi thường nhoẻn cười thú vị khi bắt gặp nhân vật trữ tình bộc lộ mình một cách tự nhiên, ở đây là lộ giới tính nữ: “Chỉ/ nước mắt/ ngược đời/ tưới/ cây tình/ đang tươi/ thành héo” (Lệ thường). Nhà thơ ơi, “đàn bà chỉ nhớ người đàn ông khiến cho mình cười, đàn ông chỉ nhớ người đàn bà khiến cho mình khóc”. Với người đàn ông, khi anh ta khóc cây tình có thể mới thực sự từ héo thành tươi!

Quê hương và mẹ

Cấu trúc “cầu cho” rất sẵn trong ca dao, truyện thơ rồi. Sự thừa kế phổ biến, nên một mảy sáng tạo cũng rất đáng ghi nhận, trân trọng. Ở đây là cụm từ “lạnh thì lạnh ít”: “Cầu cho mưa thuận gió hòa/ Lạnh thì lạnh ít mẹ già đỡ run” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…). Dù là vì mẹ mà cầu, cũng cần tiết chế chứ không thể cầu “không lạnh” được! Đấy là khi mẹ còn, chứ lúc mẹ mất thì: “Bây giờ biết Mẹ ở đâu/ Ở đây chỉ nắm cỏ rầu khôn nguôi/ Lời rằng nước mắt chảy xuôi/ Cầu cho nước mắt ngược đời chảy lên” (Mẹ). Dẫu vẫn là nước mắt thôi, nhưng “ngược đời chảy lên” cũng hơn không còn một chỉ dấu nào của sự giao cảm nữa.

Nhà thơ yêu quê hương không phải với tình yêu sáo mòn giả tạo. Chị biết rõ từng yếu tố cấu thành tình yêu có cả phần bất toại nguyện: “Ta có yêu sự lầy lội không/ không/ ta có yêu con đường lầy lội không/ có” (Con đường lầy lội). Tình yêu ấy đã vượt lên trên cái độc đầu tiên trong tam độc: tham. Chị yêu sâu sắc trong sự tỉnh thức, biết rõ vì sao mà mình yêu: “Bởi vì/ Trên con đường này/ Đã in dấu chân những người thân yêu nhất” (Con đường lầy lội). Trong tình yêu quê có cả niềm hoan hỉ cùng nỗi đau của đời sống đương đại phức tạp hơn xưa; và cũng có nghĩa là yêu trong tỉnh thức: “Có người giỏi/ thành nhân vật/ tiêu biểu/ năm 2000/ Còn/ Em/ Cường/ đã – chết – vì/ Bệnh AIDS” (Trai làng).

Ánh sáng tâm linh

Ngay từ bài thơ đầu tiên của tập thơ, sự giác ngộ của chị đã chớm xuất hiện: “Mới hay là cõi vô thường/ Mùa yêu chưa thỏa – mùa hương qua rồi” (Mùa yêu chưa thỏa). Chị ngộ về sự bất toại nguyện, về sự vô tình của thiên nhiên trước thành trụ hoại diệt của con người: “Mai sau dẫu có một ngày/ Tuổi tàn – có chợ hoa này hồi xuân” (Chợ hoa ngày Tết). Chị biết chấp nhận quy luật hoại – diệt ấy, và cao hơn, trân trọng nâng niu những gì chỉ đơn giản là gợi nhớ thanh xuân của mình. Tuyệt vời hơn nữa, lại là một tình yêu đến nửa say, nửa ngây nhưng vẫn như thực tuệ tri: “Người thì nửa tỉnh nửa say/ Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời/ Mùa thu ơi đẹp vừa thôi/ Giăng chi khoảng cách giữa đời và mơ”(Thu cảm).

Chị thấy phận người trong phận chim, khi bị lừa dối bởi chính lòng tham, độc thứ nhất trong tam độc, của mình: “Thèm ánh sáng giữa vùng bóng tối/ Đâu phải là tội lỗi/ Mà giờ đây/ Cùng nhau chen chúc trong chiếc lồng” (Nhân chứng kiến cuộc săn bìm bịp). Chị biết con người tất yếu cần tồn tại, nhưng không nguôi khắc khoải về thân phận của những loài hữu tình mất mạng để con người được sống: “Biết người thả lưới quăng chài/ Chỉ mong cho cá đừng vơi khoang thuyền/ Mà lòng vẫn chẳng bình yên/ Nhìn đàn cá mắc lưới êm của người” (Nỗi niềm). Nhà thơ ơi, chị hãy yên lòng bởi thiền sư – thi sĩ Thích Nhất Hạnh trong bài thơ “Con cá dung thông” đã thác lời cá mà nói với con người rằng: “Để mỗi khi sa vào lưới/ Được chết thong dong/ Không hận thù, không tuyệt vọng/ Bởi vì tôi biết/ Sự sống làm bằng sự chết/ Cái có làm bằng cái không/ Mọi loài tương tức/ Tôi và em dung thông.”

Trong một bài thơ khác của chị, đọc qua thấy đẫm bi quan với chữ “không”: “Một mình trong cả tâm linh/ Nào ngờ ngay cả một mình cũng không” (Biển đêm). Nhưng ngẫm kỹ thấy mừng, bởi chị đã đi đến một đại ngộ: ngộ ra tính không của từ một mình, của sự sở hữu; và lờ mờ ý một ý thức về xây dựng hải đảo tự thân (một mình). Chị cũng thấy quá trình ấy cần sự tinh tấn của cả thân và tâm: “Nhưng tâm hồn thương mến/ Lại nằm trong thân ta/ Chiều cao và cân nặng/ Đếm đong rất thật thà” (Tâm hồn).

Tiếng nói trữ tình công dân

Là một nhà thơ chuyên nghiệp đầy trách nhiệm, chị đã nhạy cảm nhận ra và cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng về tính chất khác thường của vùng biên. Ở đấy không có chỗ cho lấp lửng mơ hồ hay ba phải: “Cây biên giới thật xanh/ Người biên giới thật thẳng” (Biên giới). Người và đất cùng tự quên mọi chiến công đã qua để luôn sẵn sàng giải quyết các nguy cơ mới: “Em tự quên chính mình/ Những phút thành dũng sĩ/ Như núi rừng tự quên/ Những phút thành chiến lũy” (Bình dị).

Chị là công dân của một nước Việt Nam thống nhất, nhưng cũng đầy đủ ý thức công dân toàn cầu. Và hơn cả công dân toàn cầu, chị còn là công dân vũ trụ trong trục thời gian tính bằng thiên niên kỷ: “Một ngàn năm/ Mấy ngàn năm/ Chẳng lẽ thời gian không giúp gì ư/ Cho loài người nghĩ suy về nhân tính/ Cho loài người tiến lên dù chút ít/ Lòng yêu thương con người!/ Loài người sẽ đi về đâu/ Hay kể cả khi họ tìm được hành tinh khác để sống/ Họ sẽ đem theo gì/ Chiến tranh ư?/ Tôi ngờ lắm!!!” (Một chút bi quan hay Những hài cốt ở Hoàng thành cổ). Cái “chút ít” tương phản mạnh mẽ với cái “ngàn năm”!

Tự khúc - dấu hiệu báo trước của trường ca

Nhà thơ Phùng Văn Khai tâm sự với tôi rằng mã thơ Nguyễn Thị Hồng nằm trong bài “Tự khúc” này. Tôi đã gặp lại cái tình mênh mang trong veo thời thanh xuân, nhớ quê và nhớ mẹ của người viết. Tôi cũng gặp lại nữ tính ở đây, kiểu“đánh Sơn Tây chết cây Hà Nội”: “Lòng không còn vô tư như tiếng trống/ Mắt ai nhìn xao động mùa xuân… (I). Và gặp lại trách nhiệm công dân khi chị lên với vùng cao, chiêm nghiệm cả cái hay và dở ở đó: “Cối đá xoay nặng nề chậm chạp/ Như cuộc đời chậm chạp đổi thay/ Tôi gặp những tấm lòng trong sạch/ Sự trong sạch tạo ra lửa/ Giữ cho bếp tâm hồn không lụi tắt ánh hồng/ Dù bến nước cuộc đời khi đục khi trong” (II).

“Và tôi gặp nấm mồ người liệt sĩ/ Những xóm làng san sát bát hương” (II) - Từ san sát thường dùng để mô tả cảnh trù phú giàu có nào đó nhưng ở đây, chị đã thay đổi cách dùng chính xác một cách đau xót! Là thơ mà dường như cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của chị: “Ôi con người nhỏ nhoi hạt cát/ Lại cũng như hạt cát chẳng có gì/ Ngoài chính mình trần trụi với thiên nhiên” (II). Không hờn oán, nhưng chị cần minh định những thiệt thòi oái oăm ấy của thời chiến: “Hầm trú ẩn che luôn thời má phấn” (II).

Chị “như thực tuệ tri” cái ngoài mình, trong mình. “Cám ơn người tạo nên con như thế/ nhỏ nhoi một hạt sa bồi/ Mỗi mùa lũ cùng vô vàn hạt khác/ Vật vã rồi thành bờ bãi sinh sôi” (II). Khi ví mình cũng tựa như một hạt sa bồi, chị đã ý thức được tính không (không bản ngã, không tự tính) của mình cùng lẽ tương tức, duyên sinh và sẵn sàng cho mọi cuộc chu du vô tận. Và chị đã khép lại bài thơ trường thiên này bằng một cách tân hình thức tự nhiên, nghĩa là xuất phát từ nhu cầu biểu đạt ý tưởng. Khát vọng thấy lại ngày xưa của mình đã khiến khái niệm không gian hàm chứa biểu tượng thời gian; khát vọng gặp lại người thân khiến khái niệm thời gian hàm chứa biểu tượng không gian: “Dường như ở phía chân trời/ Mút không gian ấy cuộc đời ngày xưa/ Và trong dòng chảy vô bờ/ Của thời gian/ có/ bến chờ/ người thân…” (III).

Cấu trúc chặt chẽ, không gian và thời gian khoáng đạt, nội dung phong phú với ít nhiều kịch tính của bài trường thiên này là những dấu hiệu báo trước của trường ca “Hồn khèn” mà chị đã hoàn thành trong thời gian dài đến khó tin là 30 năm!

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Ra mắt sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”
    Chiều 4/7, tại VNU Bookstore (Đại học Quốc gia Hà Nội), Công ty Cổ phần Xuất bản và Giáo dục Quảng Văn tổ chức ra mắt cuốn sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”. Thông qua hành trình của một chú voi nhỏ, cuốn sách gửi gắm những thông điệp ý nghĩa về tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm với thế giới xung quanh.
  • Nhà thơ Hữu Thỉnh ra mắt tiểu thuyết “Thép dưới cỏ”
    Nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt độc giả tiểu thuyết đầu tay có tên "Thép dưới cỏ". Đây là cuốn sách viết về sự kiện Tà Mây - Làng Vây của binh chủng Tăng thiết giáp. Cuốn tiểu thuyết ra mắt đầu tháng 7, như món quà tri ân không chỉ độc giả, mà còn dành tặng cho những người lính đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, cùng những cựu chiến binh, những thương bệnh binh đã có một thời thanh xuân “hoa lửa” đáng tự hào của mình.
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • Lan tỏa những điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Ban Chuyên đề - Báo Nhân Dân phối hợp Ban sách Lý luận, Kinh điển - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Hoa vườn Bác” (Những điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh). Cuốn sách tuyển chọn 70 bài viết về những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác Hồ, tích cực lao động, sản xuất, học tập, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến trên nhiều lĩnh vực của đời
  • Thế giới tuổi thơ và hình tượng người mẹ trong tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” của Trương Anh Tú
    Tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” (NXB Kim Đồng, 2024) của tác giả Trương Anh Tú viết về thế giới trẻ thơ, song lại chứa đựng bề sâu cảm xúc mà cả người lớn lẫn trẻ nhỏ đều có thể cảm nhận. Với 24 bài thơ, được sắp xếp theo nhịp thời gian bốn mùa và những khoảnh khắc đời thường, tập thơ đã dệt nên một thế giới trong trẻo. Xuyên suốt tập thơ, bóng dáng người mẹ hiện lên với sự yêu thương, che chở.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Văn học với sứ mệnh bồi đắp hệ giá trị văn hóa và con người Hà Nội
    Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần lưu giữ ký ức dân tộc, kiến tạo hệ giá trị văn hóa và bồi đắp nhân cách con người. Trong bối cảnh đất nước và Thủ đô Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, sứ mệnh ấy càng trở nên quan trọng, đòi hỏi văn học tiếp tục đồng hành cùng đời sống, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa và góp phần xây dựng hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh trên nền tảng truyền thống và tinh thần sáng tạo.
  • Chương trình “Khúc quân hành” 2026: Hành trình một thập kỷ nghĩa tình tri ân
    Sáng 18/7, đoàn công tác Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X - năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026) đã đến viếng, dâng hoa, dâng hương tri ân các anh hùng, liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Đông Khê (Cao Bằng). Mở đầu chuỗi hoạt động, tại xã Đông Khê đoàn đã trao 150 suất quà tặng các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Phía sau bước chân người lên đường
    Sinh trưởng ở xứ Đoài mây trắng, từng làm việc ở Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, (nay là Hà Nội), Phan Quế - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đến với thơ từ buổi đầu sáng tác và ông cũng được bạn đọc biết đến khá sớm. Tuy nhiều năm qua Phan Quế dành thời gian và tâm sức nhiều cho tiểu thuyết, nhưng thơ đối với ông vẫn là nỗi niềm canh cánh trong lòng.
  • Vì sao The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa chọn để chinh phục IELTS?
    The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa để chinh phục IELTS là bởi đội ngũ giảng viên sở hữu khả năng ngoại ngữ xuất sắc, kỹ năng sư phạm giỏi.
  • Bệnh viện Tim Hà Nội: Dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), mới đây, trong khuôn khổ chuyến công tác khám bệnh, tư vấn sức khỏe và trao quà cho các cựu chiến binh, người có công với cách mạng tại tỉnh Tuyên Quang, PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền - Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội cùng đoàn công tác của Bệnh viện đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang).
Đừng bỏ lỡ
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
  • Khởi động Cuộc thi sáng tác Ca khúc và Logo về phường Mường Thanh năm 2026
    Ban tổ chức mong muốn thu hút, khuyến khích đội ngũ nhạc sĩ, họa sĩ chuyên nghiệp lẫn không chuyên trên toàn quốc đóng góp tài năng, trí tuệ. Từ đó, địa phương sẽ lựa chọn được một biểu trưng chính thức cùng những ca khúc tiêu biểu mang tính khái quát cao, phản ánh chân thực bản sắc độc đáo và dòng chảy phát triển của phường.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Mùa thu Hà Nội trong tôi đầy nhung nhớ
    Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận để các nhà thơ họa nên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp thông qua ngôn ngữ của thơ ca. Nếu như với nhà thơ Hữu Thỉnh khoảnh khắc "sang thu" đến với thi sĩ thật bất ngờ thông qua mùi thơm nồng nàn của hương ổi: "Bỗng nhận ra hương ổi,...". Thì với Anh Thơ, mùa thu của tác giả lại là: "Gió heo may nổi bờ tre buồn xao xác...", mùa thu của tác giả bắt đầu từ cái se lạnh đặc trưng của làng quê Bắc bộ giản dị, và đầy hấp dẫn.
  • Đổi pin một phút, chạy cả trăm cây số: VinFast Viper đúng chất xe điện cho dân phượt
    Hình ảnh xe máy điện lướt đi nhẹ nhàng trên phố đã trở nên quen thuộc. Với VinFast Viper, xe máy điện còn cho thấy khả năng vận hành mạnh mẽ, đáp ứng những chuyến đi xa hàng trăm kilômet qua nhiều dạng địa hình.
  • VinFast hợp tác với các Đại học, trường Đại học: Giải bài toàn "chất và lượng" của ngành ô tô Việt về nhân sự
    Bằng việc chuẩn hóa chất lượng thế hệ kỹ sư “từ gốc”, VinFast không chỉ tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt trên thị trường, mà còn góp phần nâng cao tiêu chuẩn nhân sự cho ngành công nghiệp ô tô điện Việt.
  • "Khúc quân hành" lần thứ X năm 2026: Viết tiếp hành trình đền ơn đáp nghĩa tại Thủ đô Hà Nội
    Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026), trong hai ngày 20 - 21/7, Ban tổ chức Chương trình Khúc quân hành lần thứ X năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức đã đến dâng hương tại Phù điêu “Hà Nội - Mùa đông 1946”, thăm hỏi và tặng quà 3 cán bộ lão thành có công với cách mạng hiện sinh sống trên địa bàn 3 phường: Ba Đình, Hoàn Kiếm và phường Láng (TP Hà Nội).
Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO