Tác giả - tác phẩm

Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng

Hoàng Liên Sơn 06:08 07/06/2023

Sinh năm 1948 với hơn 50 năm sáng tác, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng vừa ra mắt bạn đọc tập sách mới nhất là “Thơ tuyển Nguyễn Thị Hồng” vào đầu năm 2023. Trước đó, các tập thơ của chị đã được xuất bản như “Em ra đi”, “Gọi thu”, “Biển đêm”, “Những bông hoa thiên sứ”, “Cuộc bàn giao vĩnh cửu - hồn khèn”. Khi cầm cuốn sách trên tay, tôi đã có dự cảm không sai về một không khí thơ đằm thắm, trong lành ở hơn trăm bài thơ với gần 50 năm sáng tác.

tap-tho-nguyen-thi-hong.jpg

Tuổi xuân

Sinh ra ở một xã thuần nông của huyện Hưng Hà, quê lúa Thái Bình, thật dễ hiểu khi tuổi xuân vất vả của chị gắn bó với cánh đồng. Tuy nhiên những mỹ cảm riêng có ở người làm thơ đã chớm xuất hiện với từ gót hoa: “Mùa này đồng rạ quê ta/ Nứt đồng nứt cả gót hoa làm đồng” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…).

Như nhiều nhà thơ cùng thời, Nguyễn Thị Hồng không cách tân mạnh mẽ về hình thức, nhưng thỉnh thoảng cũng xuất hiện những điều chỉnh nho nhỏ rất nhuần nhuyễn; ví dụ cái “hun hút” thường sẽ tiếp tục để tả rõ hơn về ngõ thì được chuyển sang tả nụ hôn: “Ngõ xưa nhỏ lắm và sâu lắm/ Hun hút nụ hôn tuổi đôi mươi” (Về La Khê). Trong thanh xuân của chị, đời sống vật chất tinh thần của con người có thể chưa nhiều bộn bề phức tạp, nhưng lại là thời chiến, vì vậy: “Tuổi thanh xuân/ đẹp tươi/ và mất mát” (Với Exenhin 1).

Nhớ tình xưa là đặc điểm nổi bật của nữ giới. Chị cũng không là ngoại lệ: “Dẫn em về tuổi sim chín đồi xưa/ Tuổi đinh ninh sim tàn tình tím mãi/ Tuổi bất ngờ tình qua sim ở lại/ Mà suốt đời tiếc mãi một mùa sim” (Thu). Chữ “sim” xuất hiện ở cả bốn câu thơ liền nhau, nhưng không theo kiểu một điệp từ; cùng với chữ “tình” tạo một cảm giác xoắn bện như một vòng lặp khiến người trong cuộc dường như không thể dứt ra nổi nỗi tiếc tình dang dở. Hãy chú ý câu thứ hai và ba trong trích đoạn trên, cho thấy sự thay đổi nhanh đến chóng mặt, từ “đinh ninh” tới “bất ngờ”; từ “tình tím mãi” tới “tình qua”. Lối thao tác chóng mặt này không có nhiều trong thơ thời đó.

“Gái nhớ tình xưa” đã đành kinh điển rồi, sự mạnh mẽ ở đây là gái còn muốn trai cũng nhớ như mình: “Trước khi cầm lấy tay nàng/ Ôm vào lòng hãy nhớ rằng anh ơi” (Mai sau). Một sự ích kỷ đáng yêu bởi cũng vì yêu mà ích kỷ! Vậy chị đã yêu như thế nào? Chị đã yêu như con cuốc nhớ bạn mà quên cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp vẫn bao quanh: “Ngày thì nắng giãi bên thềm/ Đêm thì trăng trải khắp miền trần gian/ Điều gì để cuốc thở than/ Thì ra cuốc nhớ bạn vàng cuốc thôi” (Tiếng cuốc). Và tình yêu ấy không chấp nhận những giới hạn nhỏ nhoi: “Không thể đem biển xanh/ Với bao la khát vọng/ Đựng vào một cốc xinh/ Trên mặt bàn yên tĩnh” (Lại nói về giới hạn). Và nếu vì phá vỡ những giới hạn mà nó đổ vỡ thì người con gái cũng luôn có thủy có chung, ít nhất là trong tâm tưởng và tư tưởng: “Có thể hai chúng mình/ Không gần nhau được nữa/ Nhưng anh ở trong em/ Là mặt trời rực rỡ”(Lại nói về giới hạn).
Tôi thường nhoẻn cười thú vị khi bắt gặp nhân vật trữ tình bộc lộ mình một cách tự nhiên, ở đây là lộ giới tính nữ: “Chỉ/ nước mắt/ ngược đời/ tưới/ cây tình/ đang tươi/ thành héo” (Lệ thường). Nhà thơ ơi, “đàn bà chỉ nhớ người đàn ông khiến cho mình cười, đàn ông chỉ nhớ người đàn bà khiến cho mình khóc”. Với người đàn ông, khi anh ta khóc cây tình có thể mới thực sự từ héo thành tươi!

Quê hương và mẹ

Cấu trúc “cầu cho” rất sẵn trong ca dao, truyện thơ rồi. Sự thừa kế phổ biến, nên một mảy sáng tạo cũng rất đáng ghi nhận, trân trọng. Ở đây là cụm từ “lạnh thì lạnh ít”: “Cầu cho mưa thuận gió hòa/ Lạnh thì lạnh ít mẹ già đỡ run” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…). Dù là vì mẹ mà cầu, cũng cần tiết chế chứ không thể cầu “không lạnh” được! Đấy là khi mẹ còn, chứ lúc mẹ mất thì: “Bây giờ biết Mẹ ở đâu/ Ở đây chỉ nắm cỏ rầu khôn nguôi/ Lời rằng nước mắt chảy xuôi/ Cầu cho nước mắt ngược đời chảy lên” (Mẹ). Dẫu vẫn là nước mắt thôi, nhưng “ngược đời chảy lên” cũng hơn không còn một chỉ dấu nào của sự giao cảm nữa.

Nhà thơ yêu quê hương không phải với tình yêu sáo mòn giả tạo. Chị biết rõ từng yếu tố cấu thành tình yêu có cả phần bất toại nguyện: “Ta có yêu sự lầy lội không/ không/ ta có yêu con đường lầy lội không/ có” (Con đường lầy lội). Tình yêu ấy đã vượt lên trên cái độc đầu tiên trong tam độc: tham. Chị yêu sâu sắc trong sự tỉnh thức, biết rõ vì sao mà mình yêu: “Bởi vì/ Trên con đường này/ Đã in dấu chân những người thân yêu nhất” (Con đường lầy lội). Trong tình yêu quê có cả niềm hoan hỉ cùng nỗi đau của đời sống đương đại phức tạp hơn xưa; và cũng có nghĩa là yêu trong tỉnh thức: “Có người giỏi/ thành nhân vật/ tiêu biểu/ năm 2000/ Còn/ Em/ Cường/ đã – chết – vì/ Bệnh AIDS” (Trai làng).

Ánh sáng tâm linh

Ngay từ bài thơ đầu tiên của tập thơ, sự giác ngộ của chị đã chớm xuất hiện: “Mới hay là cõi vô thường/ Mùa yêu chưa thỏa – mùa hương qua rồi” (Mùa yêu chưa thỏa). Chị ngộ về sự bất toại nguyện, về sự vô tình của thiên nhiên trước thành trụ hoại diệt của con người: “Mai sau dẫu có một ngày/ Tuổi tàn – có chợ hoa này hồi xuân” (Chợ hoa ngày Tết). Chị biết chấp nhận quy luật hoại – diệt ấy, và cao hơn, trân trọng nâng niu những gì chỉ đơn giản là gợi nhớ thanh xuân của mình. Tuyệt vời hơn nữa, lại là một tình yêu đến nửa say, nửa ngây nhưng vẫn như thực tuệ tri: “Người thì nửa tỉnh nửa say/ Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời/ Mùa thu ơi đẹp vừa thôi/ Giăng chi khoảng cách giữa đời và mơ”(Thu cảm).

Chị thấy phận người trong phận chim, khi bị lừa dối bởi chính lòng tham, độc thứ nhất trong tam độc, của mình: “Thèm ánh sáng giữa vùng bóng tối/ Đâu phải là tội lỗi/ Mà giờ đây/ Cùng nhau chen chúc trong chiếc lồng” (Nhân chứng kiến cuộc săn bìm bịp). Chị biết con người tất yếu cần tồn tại, nhưng không nguôi khắc khoải về thân phận của những loài hữu tình mất mạng để con người được sống: “Biết người thả lưới quăng chài/ Chỉ mong cho cá đừng vơi khoang thuyền/ Mà lòng vẫn chẳng bình yên/ Nhìn đàn cá mắc lưới êm của người” (Nỗi niềm). Nhà thơ ơi, chị hãy yên lòng bởi thiền sư – thi sĩ Thích Nhất Hạnh trong bài thơ “Con cá dung thông” đã thác lời cá mà nói với con người rằng: “Để mỗi khi sa vào lưới/ Được chết thong dong/ Không hận thù, không tuyệt vọng/ Bởi vì tôi biết/ Sự sống làm bằng sự chết/ Cái có làm bằng cái không/ Mọi loài tương tức/ Tôi và em dung thông.”

Trong một bài thơ khác của chị, đọc qua thấy đẫm bi quan với chữ “không”: “Một mình trong cả tâm linh/ Nào ngờ ngay cả một mình cũng không” (Biển đêm). Nhưng ngẫm kỹ thấy mừng, bởi chị đã đi đến một đại ngộ: ngộ ra tính không của từ một mình, của sự sở hữu; và lờ mờ ý một ý thức về xây dựng hải đảo tự thân (một mình). Chị cũng thấy quá trình ấy cần sự tinh tấn của cả thân và tâm: “Nhưng tâm hồn thương mến/ Lại nằm trong thân ta/ Chiều cao và cân nặng/ Đếm đong rất thật thà” (Tâm hồn).

Tiếng nói trữ tình công dân

Là một nhà thơ chuyên nghiệp đầy trách nhiệm, chị đã nhạy cảm nhận ra và cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng về tính chất khác thường của vùng biên. Ở đấy không có chỗ cho lấp lửng mơ hồ hay ba phải: “Cây biên giới thật xanh/ Người biên giới thật thẳng” (Biên giới). Người và đất cùng tự quên mọi chiến công đã qua để luôn sẵn sàng giải quyết các nguy cơ mới: “Em tự quên chính mình/ Những phút thành dũng sĩ/ Như núi rừng tự quên/ Những phút thành chiến lũy” (Bình dị).

Chị là công dân của một nước Việt Nam thống nhất, nhưng cũng đầy đủ ý thức công dân toàn cầu. Và hơn cả công dân toàn cầu, chị còn là công dân vũ trụ trong trục thời gian tính bằng thiên niên kỷ: “Một ngàn năm/ Mấy ngàn năm/ Chẳng lẽ thời gian không giúp gì ư/ Cho loài người nghĩ suy về nhân tính/ Cho loài người tiến lên dù chút ít/ Lòng yêu thương con người!/ Loài người sẽ đi về đâu/ Hay kể cả khi họ tìm được hành tinh khác để sống/ Họ sẽ đem theo gì/ Chiến tranh ư?/ Tôi ngờ lắm!!!” (Một chút bi quan hay Những hài cốt ở Hoàng thành cổ). Cái “chút ít” tương phản mạnh mẽ với cái “ngàn năm”!

Tự khúc - dấu hiệu báo trước của trường ca

Nhà thơ Phùng Văn Khai tâm sự với tôi rằng mã thơ Nguyễn Thị Hồng nằm trong bài “Tự khúc” này. Tôi đã gặp lại cái tình mênh mang trong veo thời thanh xuân, nhớ quê và nhớ mẹ của người viết. Tôi cũng gặp lại nữ tính ở đây, kiểu“đánh Sơn Tây chết cây Hà Nội”: “Lòng không còn vô tư như tiếng trống/ Mắt ai nhìn xao động mùa xuân… (I). Và gặp lại trách nhiệm công dân khi chị lên với vùng cao, chiêm nghiệm cả cái hay và dở ở đó: “Cối đá xoay nặng nề chậm chạp/ Như cuộc đời chậm chạp đổi thay/ Tôi gặp những tấm lòng trong sạch/ Sự trong sạch tạo ra lửa/ Giữ cho bếp tâm hồn không lụi tắt ánh hồng/ Dù bến nước cuộc đời khi đục khi trong” (II).

“Và tôi gặp nấm mồ người liệt sĩ/ Những xóm làng san sát bát hương” (II) - Từ san sát thường dùng để mô tả cảnh trù phú giàu có nào đó nhưng ở đây, chị đã thay đổi cách dùng chính xác một cách đau xót! Là thơ mà dường như cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của chị: “Ôi con người nhỏ nhoi hạt cát/ Lại cũng như hạt cát chẳng có gì/ Ngoài chính mình trần trụi với thiên nhiên” (II). Không hờn oán, nhưng chị cần minh định những thiệt thòi oái oăm ấy của thời chiến: “Hầm trú ẩn che luôn thời má phấn” (II).

Chị “như thực tuệ tri” cái ngoài mình, trong mình. “Cám ơn người tạo nên con như thế/ nhỏ nhoi một hạt sa bồi/ Mỗi mùa lũ cùng vô vàn hạt khác/ Vật vã rồi thành bờ bãi sinh sôi” (II). Khi ví mình cũng tựa như một hạt sa bồi, chị đã ý thức được tính không (không bản ngã, không tự tính) của mình cùng lẽ tương tức, duyên sinh và sẵn sàng cho mọi cuộc chu du vô tận. Và chị đã khép lại bài thơ trường thiên này bằng một cách tân hình thức tự nhiên, nghĩa là xuất phát từ nhu cầu biểu đạt ý tưởng. Khát vọng thấy lại ngày xưa của mình đã khiến khái niệm không gian hàm chứa biểu tượng thời gian; khát vọng gặp lại người thân khiến khái niệm thời gian hàm chứa biểu tượng không gian: “Dường như ở phía chân trời/ Mút không gian ấy cuộc đời ngày xưa/ Và trong dòng chảy vô bờ/ Của thời gian/ có/ bến chờ/ người thân…” (III).

Cấu trúc chặt chẽ, không gian và thời gian khoáng đạt, nội dung phong phú với ít nhiều kịch tính của bài trường thiên này là những dấu hiệu báo trước của trường ca “Hồn khèn” mà chị đã hoàn thành trong thời gian dài đến khó tin là 30 năm!

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • Ra mắt tác phẩm văn học thiếu nhi kinh điển “Khu vườn bí mật”
    Crabit Kidbooks liên kết với NXB Hà Nội vừa ra mắt ấn bản “Khu vườn bí mật” của nhà văn người Anh - Frances Hodgson Burnett, với phần minh họa của họa sĩ Inga Moore và bản dịch của Ngô Hà Thu.
  • Hồi ức “Những ô cửa gió lộng” - Khi tình yêu ở lại
    Tưởng niệm 38 năm ngày mất của gia đình nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ (29/8/1988 - 29/8/2026), sáng 29/8/2026, tại Hà Nội, NXB Kim Đồng tổ chức chương trình “Giới thiệu sách Những ô cửa gió lộng và giao lưu Xuân Quỳnh cùng tình yêu ở lại”. Chương trình có sự tham dự của tác giả Lưu Tuấn Anh, nhà báo Lưu Minh Vũ cùng các văn nghệ sĩ, độc giả yêu mến nhà thơ Xuân Quỳnh.
  • Nhạc sĩ Tuấn Phương: Lưu luyến những mảnh hồn quê
    Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, nhạc sĩ Tuấn Phương có khoảng 400 tác phẩm. Dù sáng tác ở đa dạng thể loại, nhưng khi nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ đến những ca khúc trữ tình như “Tình đất”, “Biển chiều”, “Bến sông xưa”, “Người ơi hãy về”… Có lẽ, điều gần gũi với người nghe hơn cả chính là những lời ca thủ thỉ về quê hương xứ sở, về nỗi nhọc nhằn của con người, về tình yêu đôi lứa. Tình đất và cũng là tình người, tình quê luôn thường trực trong các sáng tác của nhạc sĩ Tuấn Phương.
  • Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát: Quen mà lạ trong tự truyện cuộc đời “Đi theo một quầng sáng”
    Khi biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát đang lao tâm khổ tứ với những đêm thức giấc, những ngày miệt mài viết tự truyện cuộc đời mình, tôi thầm nghĩ trong thời kỳ công nghệ số lên ngôi, còn mấy ai muốn đọc một cuốn tự truyện dày gần 500 trang nữa dù tôi biết cuộc sống của chị cũng có nhiều khúc quanh, khúc rẽ mà không ít người tò mò muốn biết... Thế mà trái với ý nghĩ ban đầu, khi cầm trên tay cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng” (NXB Văn hóa Dân tộc, 2026) của chị, tôi đã đọc say sưa, hào hứng, thậm chí đọc miệt mài quên cả thời gian. Chỉ hai ngày, tôi đã “ngốn” xong cả dòng chảy ký ức cuộc đời tác giả.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” (từ 11 - 20/9) mở rộng cả về nội dung, không gian và phương thức tổ chức, là sự khẳng định tầm nhìn, hành động thiết thực thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Từ những trang sách đến không gian văn hóa tri thức của Thủ đô
    Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 24/8/2026 thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực thuộc đời sống tư tưởng, văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái xuất bản, thư viện và văn hóa đọc hiện đại, qua đó bồi đắp đời sống tinh thần, khơi mở tri thức và góp phần làm sâu sắc thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội hòa dòng chảy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Là thiết chế văn hóa quan trọng của Thủ đô, cùng với việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Hà Nội đã, đang trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa nghệ thuật góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới. Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội sẽ là nơi gặp gỡ giữa di sản, nghệ thuật, sáng tạo và cộng đồng, đưa những giá trị văn hóa của Thủ đô đến gần hơn với công chúng qua các hoạt động thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 vào tháng 9 này.
  • Khi những giai điệu truyền thống hoà quyện cùng tinh hoa jazz thế giới
    Chiều 6/9, tại Nhà Bát giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” với sự tham gia của NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club đã đem đến cho công chúng một cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa những giai điệu quen thuộc của Việt Nam hoà quyện với tinh hoa jazz thế giới. Từ “Hà Nội - Niềm tin và hy vọng”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” đến “Hà Nội 12 mùa hoa”, hình ảnh Thủ đô được tiếp nối bằng ngôn ngữ âm nhạc giàu sức sáng tạo.
  • “Âm nhạc cộng đồng” góp thêm sắc màu truyền thống cho đời sống văn hóa Hà Nội
    Tối 6/9, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội) chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội thực hiện đã đưa khán giả đi qua nhiều miền ký ức và sắc màu văn hóa bằng ngôn ngữ chung của âm nhạc. Từ những giai điệu mang âm hưởng Tây Bắc đến các ca khúc viết về Tổ quốc, về Thủ đô ngàn năm văn hiến đến khát vọng của thế hệ trẻ, đêm diễn mang đến một dòng chảy âm nhạc kết nối quá khứ với hiện tại, truyền thống với hơi thở đương đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội: Khi văn hóa trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 28/8/2026 về chỉ đạo triển khai “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Không chỉ là một hoạt động văn hóa thường niên, Kế hoạch đặt “Ngày Văn hóa Việt Nam” trong một tầm nhìn rộng hơn: trở thành điểm hội tụ để tôn vinh, lan tỏa các giá trị văn hóa, khơi dậy sức sáng tạo và từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của Thủ đô.
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Chương trình nghệ thuật “Giai điệu Tổ quốc” lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước
    Tối 31/8, tại xã Bát Tràng, Nhà hát Cải lương Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Giai điệu Tổ Quốc", chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026).
  • Cận cảnh lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn trị vì 130 ngày
    Trị vì được 130 ngày thì mất, vị vua thứ 6 triều Nguyễn có lăng mộ nằm giữa rừng thông khá khiêm tốn nhưng vẫn đảm bảo tính uy nghiêm về khu lăng mộ của một bậc hoàng đế.
  • Tọa đàm phân loại rác tại nguồn: Phụ nữ Phú Lương biến rác thải thành tài nguyên
    Nhằm đưa việc phân loại rác tại nguồn trở thành một thói quen thường xuyên trong từng gia đình, mới đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) đã phối hợp cùng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị tổ chức thành công chương trình Tọa đàm với chủ đề "Vai trò của phụ nữ trong bảo vệ môi trường - phân loại rác tại nguồn". Sự kiện không chỉ thu hút đông đảo cán bộ, hội viên tham gia mà còn mang đến những nội dung vô cùng thiết thực, gần gũi, gắn kết trực tiếp với đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân.
Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO