Tác giả - tác phẩm

Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng

Hoàng Liên Sơn 06:08 07/06/2023

Sinh năm 1948 với hơn 50 năm sáng tác, nhà thơ Nguyễn Thị Hồng vừa ra mắt bạn đọc tập sách mới nhất là “Thơ tuyển Nguyễn Thị Hồng” vào đầu năm 2023. Trước đó, các tập thơ của chị đã được xuất bản như “Em ra đi”, “Gọi thu”, “Biển đêm”, “Những bông hoa thiên sứ”, “Cuộc bàn giao vĩnh cửu - hồn khèn”. Khi cầm cuốn sách trên tay, tôi đã có dự cảm không sai về một không khí thơ đằm thắm, trong lành ở hơn trăm bài thơ với gần 50 năm sáng tác.

tap-tho-nguyen-thi-hong.jpg

Tuổi xuân

Sinh ra ở một xã thuần nông của huyện Hưng Hà, quê lúa Thái Bình, thật dễ hiểu khi tuổi xuân vất vả của chị gắn bó với cánh đồng. Tuy nhiên những mỹ cảm riêng có ở người làm thơ đã chớm xuất hiện với từ gót hoa: “Mùa này đồng rạ quê ta/ Nứt đồng nứt cả gót hoa làm đồng” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…).

Như nhiều nhà thơ cùng thời, Nguyễn Thị Hồng không cách tân mạnh mẽ về hình thức, nhưng thỉnh thoảng cũng xuất hiện những điều chỉnh nho nhỏ rất nhuần nhuyễn; ví dụ cái “hun hút” thường sẽ tiếp tục để tả rõ hơn về ngõ thì được chuyển sang tả nụ hôn: “Ngõ xưa nhỏ lắm và sâu lắm/ Hun hút nụ hôn tuổi đôi mươi” (Về La Khê). Trong thanh xuân của chị, đời sống vật chất tinh thần của con người có thể chưa nhiều bộn bề phức tạp, nhưng lại là thời chiến, vì vậy: “Tuổi thanh xuân/ đẹp tươi/ và mất mát” (Với Exenhin 1).

Nhớ tình xưa là đặc điểm nổi bật của nữ giới. Chị cũng không là ngoại lệ: “Dẫn em về tuổi sim chín đồi xưa/ Tuổi đinh ninh sim tàn tình tím mãi/ Tuổi bất ngờ tình qua sim ở lại/ Mà suốt đời tiếc mãi một mùa sim” (Thu). Chữ “sim” xuất hiện ở cả bốn câu thơ liền nhau, nhưng không theo kiểu một điệp từ; cùng với chữ “tình” tạo một cảm giác xoắn bện như một vòng lặp khiến người trong cuộc dường như không thể dứt ra nổi nỗi tiếc tình dang dở. Hãy chú ý câu thứ hai và ba trong trích đoạn trên, cho thấy sự thay đổi nhanh đến chóng mặt, từ “đinh ninh” tới “bất ngờ”; từ “tình tím mãi” tới “tình qua”. Lối thao tác chóng mặt này không có nhiều trong thơ thời đó.

“Gái nhớ tình xưa” đã đành kinh điển rồi, sự mạnh mẽ ở đây là gái còn muốn trai cũng nhớ như mình: “Trước khi cầm lấy tay nàng/ Ôm vào lòng hãy nhớ rằng anh ơi” (Mai sau). Một sự ích kỷ đáng yêu bởi cũng vì yêu mà ích kỷ! Vậy chị đã yêu như thế nào? Chị đã yêu như con cuốc nhớ bạn mà quên cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp vẫn bao quanh: “Ngày thì nắng giãi bên thềm/ Đêm thì trăng trải khắp miền trần gian/ Điều gì để cuốc thở than/ Thì ra cuốc nhớ bạn vàng cuốc thôi” (Tiếng cuốc). Và tình yêu ấy không chấp nhận những giới hạn nhỏ nhoi: “Không thể đem biển xanh/ Với bao la khát vọng/ Đựng vào một cốc xinh/ Trên mặt bàn yên tĩnh” (Lại nói về giới hạn). Và nếu vì phá vỡ những giới hạn mà nó đổ vỡ thì người con gái cũng luôn có thủy có chung, ít nhất là trong tâm tưởng và tư tưởng: “Có thể hai chúng mình/ Không gần nhau được nữa/ Nhưng anh ở trong em/ Là mặt trời rực rỡ”(Lại nói về giới hạn).
Tôi thường nhoẻn cười thú vị khi bắt gặp nhân vật trữ tình bộc lộ mình một cách tự nhiên, ở đây là lộ giới tính nữ: “Chỉ/ nước mắt/ ngược đời/ tưới/ cây tình/ đang tươi/ thành héo” (Lệ thường). Nhà thơ ơi, “đàn bà chỉ nhớ người đàn ông khiến cho mình cười, đàn ông chỉ nhớ người đàn bà khiến cho mình khóc”. Với người đàn ông, khi anh ta khóc cây tình có thể mới thực sự từ héo thành tươi!

Quê hương và mẹ

Cấu trúc “cầu cho” rất sẵn trong ca dao, truyện thơ rồi. Sự thừa kế phổ biến, nên một mảy sáng tạo cũng rất đáng ghi nhận, trân trọng. Ở đây là cụm từ “lạnh thì lạnh ít”: “Cầu cho mưa thuận gió hòa/ Lạnh thì lạnh ít mẹ già đỡ run” (Đừng như chuối chín mẹ ơi…). Dù là vì mẹ mà cầu, cũng cần tiết chế chứ không thể cầu “không lạnh” được! Đấy là khi mẹ còn, chứ lúc mẹ mất thì: “Bây giờ biết Mẹ ở đâu/ Ở đây chỉ nắm cỏ rầu khôn nguôi/ Lời rằng nước mắt chảy xuôi/ Cầu cho nước mắt ngược đời chảy lên” (Mẹ). Dẫu vẫn là nước mắt thôi, nhưng “ngược đời chảy lên” cũng hơn không còn một chỉ dấu nào của sự giao cảm nữa.

Nhà thơ yêu quê hương không phải với tình yêu sáo mòn giả tạo. Chị biết rõ từng yếu tố cấu thành tình yêu có cả phần bất toại nguyện: “Ta có yêu sự lầy lội không/ không/ ta có yêu con đường lầy lội không/ có” (Con đường lầy lội). Tình yêu ấy đã vượt lên trên cái độc đầu tiên trong tam độc: tham. Chị yêu sâu sắc trong sự tỉnh thức, biết rõ vì sao mà mình yêu: “Bởi vì/ Trên con đường này/ Đã in dấu chân những người thân yêu nhất” (Con đường lầy lội). Trong tình yêu quê có cả niềm hoan hỉ cùng nỗi đau của đời sống đương đại phức tạp hơn xưa; và cũng có nghĩa là yêu trong tỉnh thức: “Có người giỏi/ thành nhân vật/ tiêu biểu/ năm 2000/ Còn/ Em/ Cường/ đã – chết – vì/ Bệnh AIDS” (Trai làng).

Ánh sáng tâm linh

Ngay từ bài thơ đầu tiên của tập thơ, sự giác ngộ của chị đã chớm xuất hiện: “Mới hay là cõi vô thường/ Mùa yêu chưa thỏa – mùa hương qua rồi” (Mùa yêu chưa thỏa). Chị ngộ về sự bất toại nguyện, về sự vô tình của thiên nhiên trước thành trụ hoại diệt của con người: “Mai sau dẫu có một ngày/ Tuổi tàn – có chợ hoa này hồi xuân” (Chợ hoa ngày Tết). Chị biết chấp nhận quy luật hoại – diệt ấy, và cao hơn, trân trọng nâng niu những gì chỉ đơn giản là gợi nhớ thanh xuân của mình. Tuyệt vời hơn nữa, lại là một tình yêu đến nửa say, nửa ngây nhưng vẫn như thực tuệ tri: “Người thì nửa tỉnh nửa say/ Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời/ Mùa thu ơi đẹp vừa thôi/ Giăng chi khoảng cách giữa đời và mơ”(Thu cảm).

Chị thấy phận người trong phận chim, khi bị lừa dối bởi chính lòng tham, độc thứ nhất trong tam độc, của mình: “Thèm ánh sáng giữa vùng bóng tối/ Đâu phải là tội lỗi/ Mà giờ đây/ Cùng nhau chen chúc trong chiếc lồng” (Nhân chứng kiến cuộc săn bìm bịp). Chị biết con người tất yếu cần tồn tại, nhưng không nguôi khắc khoải về thân phận của những loài hữu tình mất mạng để con người được sống: “Biết người thả lưới quăng chài/ Chỉ mong cho cá đừng vơi khoang thuyền/ Mà lòng vẫn chẳng bình yên/ Nhìn đàn cá mắc lưới êm của người” (Nỗi niềm). Nhà thơ ơi, chị hãy yên lòng bởi thiền sư – thi sĩ Thích Nhất Hạnh trong bài thơ “Con cá dung thông” đã thác lời cá mà nói với con người rằng: “Để mỗi khi sa vào lưới/ Được chết thong dong/ Không hận thù, không tuyệt vọng/ Bởi vì tôi biết/ Sự sống làm bằng sự chết/ Cái có làm bằng cái không/ Mọi loài tương tức/ Tôi và em dung thông.”

Trong một bài thơ khác của chị, đọc qua thấy đẫm bi quan với chữ “không”: “Một mình trong cả tâm linh/ Nào ngờ ngay cả một mình cũng không” (Biển đêm). Nhưng ngẫm kỹ thấy mừng, bởi chị đã đi đến một đại ngộ: ngộ ra tính không của từ một mình, của sự sở hữu; và lờ mờ ý một ý thức về xây dựng hải đảo tự thân (một mình). Chị cũng thấy quá trình ấy cần sự tinh tấn của cả thân và tâm: “Nhưng tâm hồn thương mến/ Lại nằm trong thân ta/ Chiều cao và cân nặng/ Đếm đong rất thật thà” (Tâm hồn).

Tiếng nói trữ tình công dân

Là một nhà thơ chuyên nghiệp đầy trách nhiệm, chị đã nhạy cảm nhận ra và cụ thể hóa một khái niệm trừu tượng về tính chất khác thường của vùng biên. Ở đấy không có chỗ cho lấp lửng mơ hồ hay ba phải: “Cây biên giới thật xanh/ Người biên giới thật thẳng” (Biên giới). Người và đất cùng tự quên mọi chiến công đã qua để luôn sẵn sàng giải quyết các nguy cơ mới: “Em tự quên chính mình/ Những phút thành dũng sĩ/ Như núi rừng tự quên/ Những phút thành chiến lũy” (Bình dị).

Chị là công dân của một nước Việt Nam thống nhất, nhưng cũng đầy đủ ý thức công dân toàn cầu. Và hơn cả công dân toàn cầu, chị còn là công dân vũ trụ trong trục thời gian tính bằng thiên niên kỷ: “Một ngàn năm/ Mấy ngàn năm/ Chẳng lẽ thời gian không giúp gì ư/ Cho loài người nghĩ suy về nhân tính/ Cho loài người tiến lên dù chút ít/ Lòng yêu thương con người!/ Loài người sẽ đi về đâu/ Hay kể cả khi họ tìm được hành tinh khác để sống/ Họ sẽ đem theo gì/ Chiến tranh ư?/ Tôi ngờ lắm!!!” (Một chút bi quan hay Những hài cốt ở Hoàng thành cổ). Cái “chút ít” tương phản mạnh mẽ với cái “ngàn năm”!

Tự khúc - dấu hiệu báo trước của trường ca

Nhà thơ Phùng Văn Khai tâm sự với tôi rằng mã thơ Nguyễn Thị Hồng nằm trong bài “Tự khúc” này. Tôi đã gặp lại cái tình mênh mang trong veo thời thanh xuân, nhớ quê và nhớ mẹ của người viết. Tôi cũng gặp lại nữ tính ở đây, kiểu“đánh Sơn Tây chết cây Hà Nội”: “Lòng không còn vô tư như tiếng trống/ Mắt ai nhìn xao động mùa xuân… (I). Và gặp lại trách nhiệm công dân khi chị lên với vùng cao, chiêm nghiệm cả cái hay và dở ở đó: “Cối đá xoay nặng nề chậm chạp/ Như cuộc đời chậm chạp đổi thay/ Tôi gặp những tấm lòng trong sạch/ Sự trong sạch tạo ra lửa/ Giữ cho bếp tâm hồn không lụi tắt ánh hồng/ Dù bến nước cuộc đời khi đục khi trong” (II).

“Và tôi gặp nấm mồ người liệt sĩ/ Những xóm làng san sát bát hương” (II) - Từ san sát thường dùng để mô tả cảnh trù phú giàu có nào đó nhưng ở đây, chị đã thay đổi cách dùng chính xác một cách đau xót! Là thơ mà dường như cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của chị: “Ôi con người nhỏ nhoi hạt cát/ Lại cũng như hạt cát chẳng có gì/ Ngoài chính mình trần trụi với thiên nhiên” (II). Không hờn oán, nhưng chị cần minh định những thiệt thòi oái oăm ấy của thời chiến: “Hầm trú ẩn che luôn thời má phấn” (II).

Chị “như thực tuệ tri” cái ngoài mình, trong mình. “Cám ơn người tạo nên con như thế/ nhỏ nhoi một hạt sa bồi/ Mỗi mùa lũ cùng vô vàn hạt khác/ Vật vã rồi thành bờ bãi sinh sôi” (II). Khi ví mình cũng tựa như một hạt sa bồi, chị đã ý thức được tính không (không bản ngã, không tự tính) của mình cùng lẽ tương tức, duyên sinh và sẵn sàng cho mọi cuộc chu du vô tận. Và chị đã khép lại bài thơ trường thiên này bằng một cách tân hình thức tự nhiên, nghĩa là xuất phát từ nhu cầu biểu đạt ý tưởng. Khát vọng thấy lại ngày xưa của mình đã khiến khái niệm không gian hàm chứa biểu tượng thời gian; khát vọng gặp lại người thân khiến khái niệm thời gian hàm chứa biểu tượng không gian: “Dường như ở phía chân trời/ Mút không gian ấy cuộc đời ngày xưa/ Và trong dòng chảy vô bờ/ Của thời gian/ có/ bến chờ/ người thân…” (III).

Cấu trúc chặt chẽ, không gian và thời gian khoáng đạt, nội dung phong phú với ít nhiều kịch tính của bài trường thiên này là những dấu hiệu báo trước của trường ca “Hồn khèn” mà chị đã hoàn thành trong thời gian dài đến khó tin là 30 năm!

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Cẩm nang nhận diện và phòng, chống lừa đảo trực tuyến
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Nhận diện và phòng, chống lừa đảo trực tuyến” do tác giả Nguyễn Thái Bình làm chủ biên. Đây là một cẩm nang thiết thực dành cho người sử dụng internet, góp phần xây dựng “hệ miễn dịch số” trước những thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi. Thông qua việc phân tích các tình huống thực tế, cuốn sách chỉ ra dấu hiệu cảnh báo, hướng dẫn kỹ năng phòng tránh, giúp người đọc chủ động bảo vệ thông tin và tài sản cá nhân trên môi trường số.
  • Ra mắt sách 'Yêu con bằng dải ngân hà – Yêu mẹ bằng dải ngân hà'
    Ngày 15/3, tại Hà Nội đã diễn ra buổi ra mắt bộ sách “Yêu con bằng dải ngân hà – Yêu mẹ bằng dải ngân hà”, ấn phẩm hướng tới các bà mẹ sau sinh và gia đình, mang đến những góc nhìn đầy thấu cảm về hành trình làm mẹ trong những tháng đầu đời của con trẻ.
  • “Vương miện của Mặt Trời” - Sách tranh về cảm xúc và sự trưởng thành của trẻ nhỏ
    Crabit Kidbooks và NXB Hà Nội vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách tranh“Vương miện của Mặt Trời” dành cho độc giả từ 3 tuổi trở lên. Cuốn sách hướng tới các gia đình đang tìm kiếm những tác phẩm giúp trẻ nhận diện và đối diện với cảm xúc của mình, đồng thời mở ra những cuộc trò chuyện nhẹ nhàng giữa cha mẹ và con cái về hành trình trưởng thành từ bên trong.
  • Tôn vinh di sản sử học của Lê Quý Đôn qua ấn bản bìa cứng đặc biệt "Đại Việt thông sử"
    Kỷ niệm 300 năm ngày sinh nhà bác học, danh nhân văn hóa thế giới, Lê Quý Đôn (1726-2026), Nhà xuất bản Trẻ vừa ra mắt ấn bản bìa cứng đặc biệt tác phẩm "Đại Việt thông sử", thuộc bộ sách “Cảo thơm”.
  • NXB Kim Đồng “bội thu” với 8 ấn phẩm được trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII
    Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII diễn ra tối 8/3 tại Hà Nội tôn vinh 50 cuốn sách và bộ sách tiêu biểu có giá trị nổi bật về tư tưởng, học thuật, khoa học và thẩm mỹ. Trong mùa giải năm nay, NXB Kim Đồng ghi dấu ấn nổi bật khi có 8 ấn phẩm được vinh danh ở nhiều hạng mục khác nhau. Kết quả này tiếp tục khẳng định vị thế của NXB Kim Đồng trong lĩnh vực xuất bản dành cho thiếu nhi và độc giả trẻ, đồng thời cho thấy sự đầu tư ngày càng bài bản về nội dung và mỹ thuật của đơn vị.
  • Bốn ấn phẩm của Nhã Nam được vinh danh tại Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII
    Tối 8/3, Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ VIII diễn ra tại Đài Truyền hình Việt Nam với sự tham dự của đông đảo đơn vị xuất bản, tác giả, dịch giả và các nhà nghiên cứu trên cả nước. Trong tổng số 50 cuốn sách, bộ sách được trao giải năm nay, 4 ấn phẩm do Công ty CP Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam xuất bản đã được vinh danh ở nhiều hạng mục khác nhau, trải rộng trên các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, lịch sử và khoa học công nghệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hy vọng (Kỳ 1)
    Ngày tôi được sinh ra đã định sẵn cuộc sống sẽ gắn liền với một khu vườn ươm chật hẹp. Mỗi ngày, tôi đều nhìn thấy các bạn xung quanh rời đi. Đúng vậy, họ thường nói với nhau rằng: “Nó chẳng nở hoa được, mang về làm gì cho chật nhà!”...
  • Cẩm nang nhận diện và phòng, chống lừa đảo trực tuyến
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Nhận diện và phòng, chống lừa đảo trực tuyến” do tác giả Nguyễn Thái Bình làm chủ biên. Đây là một cẩm nang thiết thực dành cho người sử dụng internet, góp phần xây dựng “hệ miễn dịch số” trước những thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi. Thông qua việc phân tích các tình huống thực tế, cuốn sách chỉ ra dấu hiệu cảnh báo, hướng dẫn kỹ năng phòng tránh, giúp người đọc chủ động bảo vệ thông tin và tài sản cá nhân trên môi trường số.
  • Hà Nội đã ban hành 66 văn bản triển khai Luật, tạo động lực phát triển Thủ đô
    Báo cáo đánh giá việc thi hành Luật Thủ đô 2024 (Luật số 39/2024/QH15), Bộ Tư pháp nhấn mạnh việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành Luật thời gian qua. Cụ thể, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là thành phố Hà Nội đã tích cực, chủ động, chỉ đạo quyết liệt việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) quy định chi tiết thi hành Luật để trình cấp có thẩm quyền ban hành.
  • Phường Phú Thượng công bố 18 đại biểu HĐND phường nhiệm kỳ 2026-2031
    Ngày 20/3, Ủy ban Bầu cử phường Phú Thượng tổ chức Hội nghị công bố kết quả bầu cử đại biểu HĐND phường nhiệm kỳ 2026-2031.
  • Triển khai hiệu quả việc phổ biến, quán triệt và các văn bản quy định chi tiết của Luật
    Bộ Tư pháp và UBND Thành phố Hà Nội, các bộ, ngành, địa phương liên quan vừa phối hợp đánh giá việc thi hành Luật Thủ đô 2024 (Luật số 39/2024/QH15). Sau hơn một năm triển khai thi hành Luật, đã xác định những tác động tích cực của cơ chế đặc thù về xây dựng, phát triển và quản lý Thủ đô Hà Nội; nhận diện những hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc; kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành Luật và đề xuất việc sửa đổi, bổ sung quy định của Luật cho phù hợp với tình hình mới.
  • Bí thư Thành ủy Nguyễn Duy Ngọc: Xử lý dứt điểm bài toán dữ liệu để phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
    Sáng 19/3, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc, Trưởng ban Chỉ đạo 57 Thành ủy chủ trì Hội nghị Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy giao ban quý I-2026 đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TƯ ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn thành phố.
  • Chiếu miễn phí 7 bộ phim tại Liên hoan Phim Pháp ngữ 2026
    Liên hoan phim pháp ngữ lần thứ 16 năm 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ 21 đến 27/3 (Trung tâm Chiếu phim Quốc gia - 87 Láng Hạ) và tại TP Hồ Chí Minh từ 21 đến 24/3 (DCiné Bến Thành - 6 Mạc Đĩnh Chi).
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026)
    Thông qua các hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076-2026), khẳng định vị thế của Hà Nội - Thủ đô nghìn năm văn hiến, tri thức, trung tâm giáo dục, đào tạo, khoa học và văn hóa hàng đầu của cả nước, thành phố học tập trong mạng lưới các thành phố học tập của UNESCO.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • [Infographic] Các mốc thời gian quan trọng sau ngày bầu cử ĐBQH khóa XVI và HĐND các cấp
    Ngày 15/3/2026, đã có 76.188.970 cử tri trên cả nước (đạt tỉ lệ 99,68%) đi bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Sau ngày bầu cử, Hội đồng Bầu cử Quốc gia và Ủy ban Bầu cử các địa phương sẽ triển khai nhiều công việc theo luật định để hoàn tất quy trình bầu cử, qua đó góp phần xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự đằm thắm trong thơ Nguyễn Thị Hồng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO