Nhà thơ Thanh Tùng với ký ức một thời hoa đỏ

Nguyễn Việt Chiến| 04/01/2020 10:45

Tôi nghĩ mỗi một nhà thơ đích thực, nổi tiếng đều tìm thấy miền đất ký thác của thơ mình trong cuộc đời sáng tạo của riêng họ dẫu hành trình thơ mở ra ở nhiều miền sống khác nhau, nhiều thể tài khác nhau, nhiều giai đoạn khác nhau, nhiều thi tầng khác nhau.

Tôi nghĩ mỗi một nhà thơ đích thực, nổi tiếng đều tìm thấy miền đất ký thác của thơ mình trong cuộc đời sáng tạo của riêng họ dẫu hành trình thơ mở ra ở nhiều miền sống khác nhau, nhiều thể tài khác nhau, nhiều giai đoạn khác nhau, nhiều thi tầng khác nhau. Và, điều tôi muốn nói tới chính là chất thơ của những miền sống đã làm nên một đặc trưng phổ quát, một định hình ngôn thi, một định tính phong cách… của miền thi ca ấy. Như thể nhiều năm qua, dư luận văn học thường nhắc tới chất thơ Hà Nội, chất thơ xứ Đoài, chất thơ Kinh Bắc rồi chất thơ Hải Phòng, chất thơ miền Trung Thanh - Nghệ - Tĩnh, chất thơ Bình Định - Phú Yên đến chất thơ xứ Huế, chất thơ Sài Gòn, chất thơ Nam Bộ…

 Với tuyển thơ “Còn đây một thời hoa đỏ” của cố nhà thơ Thanh Tùng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành, qua 159 bài thơ trong tập, tôi cho rằng cái phong vận của người thơ tài hoa ấy có hai nét nổi bật đẫm chất thơ - chất sống Hải Phòng đó là sự phóng khoáng trong nhịp điệu thi ca và sự phiêu bạt trong cảm xúc và suy ngẫm. Trong đời thơ của mình, Thanh Tùng đi khá nhiều nơi, viết về nhiều miền đất khác nhau nhưng thành phố Hải Phòng của một “Thời hoa đỏ” vẫn là một miền thi ca giàu chất sống lãng mạn dữ dội và ký thác tâm tưởng nhiều nhất đối với ông. Trong bài thơ “Hải Phòng - muối của đời tôi” Thanh Tùng chia sẻ:

Tôi để lại Hải Phòng giàu có của tôi
Bước ra cửa là rơi vào trái tim bè bạn
Cùng ngọn gió tươi mặn chát của biển khơi
Với tôi ngày nào cũng Tết
Tôi đã mang thơ trải khắp con đường
Thơ có máu của những ngày bom đạn
Dồn lên cùng ngọn lửa lò nung
Chắt ra từ giọt rượu đêm
Quán vắng bạn bè khật khưỡng…
Rồi:

Tôi đã làm thơ từ sau xe bò chở gạch
Đến quảng trường nổi gió lúc nửa đêm
Tiếng ghi-ta ngập ngừng ven bờ sông Lấp
Rồi bay lên sóng sánh ánh sao trời 
Hải Phòng ơi ai cũng đã an ủi tôi
Bằng cách yêu của thợ
Đến vỉa hè cũng nóng lên mời gọi
Trong những ngày tưởng không đứng lên được nữa
Hải Phòng ơi tôi đã tan vào Người
Trong ngổn ngang mãnh liệt
Để hôm nay dù ở nơi nào
Cũng không nhạt nhẽo
Vì Người là muối của đời tôi

 Qua những câu thơ trên, có thể nói, thơ Thanh Tùng là thứ thơ đậm đặc chất sống, tươi rói chất sống mà cũng trầm luân chất sống, mặn mòi chất muối của Hải Phòng. Hơi thở đời sống cần lao nhọc nhằn, lấm láp của thành phố những tháng năm ấy cứ hiện lên trong thơ ông những nỗi niềm trở trăn, day dứt:

Thành phố gầy như ngực mẹ tôi
Tôi không dám mạnh chân sợ mặt đường long nhựa
Không dám cả cười buông thả
Sợ bao vết thương bom đạn vẫn chưa lành
Bờ sông khúc khuỷu hoang sơ
Nham nhở cỏ xanh tràn mép phố
Những em gái thập thò sau khung cửa
Ánh mắt như màu rượu lâu ngày…
(Trở về)  

Hải Phòng lưu dấu ký ức tháng năm trong trái tim nhà thơ không chỉ là “Tiếng búa khắc vào hồn phố nhỏ/Cùng mộng mơ lảng vảng cuối con đường” cùng với “Những giọt mồ hôi từng hát lên trong suốt/ Những lưng thợ đã bết mãi vào nhau” mà thành phố quê hương còn thắp lên một tình yêu không bao giờ nguôi cũ trong đời thơ phiêu bạt của ông:

Tôi có thể lại yêu thêm lần nữa
Với trái tim nặng trĩu nhọc nhằn
Bao nhiêu xanh tôi đã để lại cho màu liễu bên bờ hồ 
Tam Bạc
Máu đã bừng lên mỗi sớm nơi đây
Tôi vẫn khát những mặt hè như cậu bé ngày xưa
Những tên phố rộn lên trong tôi niềm say lang bạt
Rồi mai đây ở bất cứ nơi nào
Tôi cũng chỉ thấy mình chen chân trên đường Cầu Đất
Hoa bằng lăng tím đến dại khờ 
(Hải Phòng lúc ra đi)

Có thể nói trái tim nhà thơ như một bảo tàng trữ tình của những hình ảnh kỷ niệm thân thương về  một dĩ vãng Hải Phòng, cũng là nơi chất chứa những xúc động yếu đuối mà chân thành khi ông phải chia tay thành phố trước một chuyến đi rất xa về phương trời khác:

Mới biết mình yếu đuối nhường nào khi phải ra đi
Nếu tôi không vội nghiến răng thì cơn gió 
cũng làm cho nhàu rối
Mới thèm làm sao những em thơ nhởn nhơ quanh 
những gốc bàng già điềm tĩnh
Những cô gái bước đi như hôn lên mặt hè
Cả những người thợ đang tất bật áo quần bê bết mỡ dầu
Tất cả nhìn tôi với tự hào và thương hại
Tôi hiểu từ đây tất cả là của họ từ nhành cây ngọn cỏ đến vệt mưa xám xịt đã cất giữ của tôi bao dĩ vãng.

Rồi sau những khoảnh khắc yếu đuối phút chia tay, Thanh Tùng chợt nhận ra trong cuộc đời phiêu dạt của mình những câu thơ xa xót, những câu thơ phiêu bạt của một người thơ luôn đau đáu một tình yêu máu thịt với thành phố quê hương với những liên tưởng đầy ám ảnh:

Chỉ lát nữa thôi tôi sẽ trắng tay
Cái đồng hồ nhà ga như khuôn mặt viên quan tòa 
nghiêm khắc
Những cánh cửa nhà ga cũng cương quyết mở ra rồi
Tiếng còi tàu bàng hoàng như tiếng thét chính hồn tôi
Tôi rối lên ôm vào tất cả
Hết thứ này lại thêm thứ nữa
Như người khuân vác tham lam
Tôi xin xỏ, giằng co rồi thương lượng
Để mai trên quê người không quá cô đơn
(Ở ga Hải Phòng)

Đa phần những bài thơ trong tập “Còn đây một thời hoa đỏ” của nhà thơ Thanh Tùng đều nằm trong mạch chảy ngầm của những tiểu - tự - sự với giọng thơ trầm buồn, giầu chia sẻ, khơi gợi và gần gũi, thân thiết với con người. Thanh Tùng đã nâng nghệ thuật thi ca thành một cách viết tự thân giàu phẩm cách thi sĩ, nó giản dị, hồn nhiên và tươi nguyên như chính hơi thở đời sống xung quanh đã được ông đưa vào thơ theo cách giàu cảm xúc nội tâm nhất, điều mà không phải nhà thơ nào cũng có được.

Có lẽ về mặt kỹ năng viết, Thanh Tùng là một trong những bậc thầy của thơ trữ tình tự do mà bài thơ “Thời hoa đỏ” là một dẫn liệu bên cạnh những bài thơ đặc sắc khác của ông. Ở những bài thơ như thế, nhịp điệu dài ngắn của câu thơ lại phụ thuộc vào nhạc điệu nội tại của những tâm sự mà nhà thơ muốn gửi gắm, muốn chuyển tải như trong một bài thơ viết về “Hà Nội ngày trở về” của ông đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc:

Hà Nội ơi tôi đã cất giữ người cẩn thận
Như dưới làn da kia dẫu đã héo nhầu máu 
vẫn âm thầm chảy
Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân
Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác
Tôi lại về đánh cắp
Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên
Dẫu một mảnh lá vàng còn ướt nước hồ Gươm
Tôi rung lên mỗi khi chạm tới bóng cửa ô
Như được chạm vào vai gầy áo mẹ
Tôi bé nhỏ và tôi vẫn thế
Trái tim luôn xao động
Như bên trong đầy ắp sóng Hồ Tây
Vội vã trở về, vội vã ra đi
Chẳng kịp nhận ra từng mặt phố…
(Hà Nội)

Trong bài viết ngắn này về thơ Thanh Tùng, tôi muốn phác họa đôi nét cái chất sống - chất thơ Hải Phòng trong nhiều bài thơ của ông để thấy thành phố cảng của cần lao, phóng khoáng nơi ông sinh ra và lớn lên đã ngấm vào máu thịt, vào từng hơi thở của thi ca ông với nhiều nỗi đời, nỗi người trong gian khó, nhọc nhằn nhưng vẫn vượt lên bền bỉ một chất sống mãnh liệt của những con người không chịu cúi đầu, không chịu thua cuộc và luôn gắn bó, thủy chung với quê hương:

Tôi vẫn tin có một ngày trở lại
Bao già nua trút ở ngoại ô
Để lại chạy với bàn chân tinh khiết
Phố Hàng Cau rồi phố Hàng Song
Những đường phố trong như nước mắt
Sông Đào lại chảy vào tôi nguồn mơ mộng
Những cánh buồm nâu đã viết lên tôi nỗi buồn thứ nhất
Tôi lang thang vá víu đã nhiều
Bao nhiêu gió chẳng làm đỡ khát
Bao nhiêu nắng chẳng làm mặn lại
Chỉ quê hương đau đáu vẫn còn xa
(Quê hương)

Theo tôi, sở dĩ thơ Thanh Tùng có một sức sống ngôn ngữ giàu cảm xúc, giàu chiêm nghiệm và ý tưởng mới lạ trong thi ca là do phẩm chất thi sĩ khá đậm đặc, mãnh liệt mang dấu ấn phong cách của tài năng ông với những câu thơ đã chạm vào được mạch nguồn sâu sa và tươi mới của đời sống con người, đời sống thiên nhiên, đời sống quê hương. “Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao/ Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng/ Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh/ Chẳng cho lòng ta nguôi/ Anh mải mê về một màu mây xa/ Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ/ Về cái vẻ thần kỳ của ngày qua/ Em hát một câu thơ ngày cũ/ Cái say mê một thời thiếu nữ/ Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ…”. Những câu thơ giản dị, trong suốt này ngân vang trong tâm tưởng người đọc những cung bậc tình yêu về một miền sống, miền thương yêu nơi mỗi chúng ta đã từng đi qua và luôn khát khao trở lại. Trong hành trình thơ của Thanh Tùng không thể không nói tới thơ tình, đây là một mảng thơ đặc biệt ghi dấu ấn sâu lắng và nồng nhiệt của một tâm hồn thi sĩ cháy bỏng yêu thương và luôn tụng ca cái đẹp nơi ông mà bài thơ “Thời hoa đỏ” đã đọng lại như một trong những bài thơ tình hay nhất của thi ca đương đại Việt Nam.

Sau những năm dài đầy biến động và sống hết mình cho thi ca, một trong những bài thơ cuối cùng Thanh Tùng viết trước khi giã biệt cuộc đời gian truân và giàu mộng mơ thi sĩ của ông là bài “Khi nhà thơ đi xa” với những câu thơ dự cảm đầy tâm trạng: “Anh đã đi xa/ Chỉ còn những câu thơ ở lại/ Những câu thơ tê tái/ Chạy như lá khô/ Viền tang trên trán phố chiều nay”. Tôi như thấy trong bài thơ này, Thanh Tùng đã viết về chính mình, về một nhà thơ đã sống một cuộc sống không dễ dàng gì trong những tháng năm lao khổ đầy biến động cùng với bạn bè, với thành phố Cảng quê hương. Ông lo lắng, nếu thành phố ấy thiếu một người thơ như ông thì lấy “Ai đi đón mùa thu ngoài đồng nội?/ Ai vẽ lối cho mùa xuân trở lại?/ Ai cãi cho lũ trẻ cầu bơ?/ Ai nâng lên cánh hoa vừa rụng?/ Trời thấp xuống không gian chật chội/ Đàn ai từng giọt âm thầm”. Nhà thơ với nỗi lo của trái tim nhân hậu trước khi ngừng đập đã quặn lên nỗi đau đầy xúc động và ngậm ngùi khi chợt nhận ra: “Đời chỉ dành anh chỗ xót xa/ Anh vẫn ghìm từng câu thơ một/ Trận chiến này hụt sức/ Anh vẫn cần cho phía ngày mai/ Anh đã đi xa/ Gió nói thế và hoa nói thế/ Có mang thơ vào cõi xanh xa”.

Có thể nói, với bài thơ trên, trước lúc ra đi, Thanh Tùng vẫn như thấy mình còn cần cho cuộc chiến “chống lại cái ác và cứu rỗi cái đẹp” ngày mai như một tráng - sĩ - thơ giàu chất sống phóng khoáng, phiêu bạt và thấm đẫm chất Hải Phòng nơi thi ca ông.
(0) Bình luận
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Những món quà của tạo hóa
    Tôi rất cô đơn, không có lấy một người bạn nào để gọi là thân. Vì không giỏi giao tiếp hay vì không tìm được người nào đủ tin tưởng để mở lòng mình ra, tôi không biết nữa, chỉ thấy mỗi khi lòng đầy lên là lại ước mình được rủ rỉ cùng Dung.
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Văn học với sứ mệnh bồi đắp hệ giá trị văn hóa và con người Hà Nội
    Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần lưu giữ ký ức dân tộc, kiến tạo hệ giá trị văn hóa và bồi đắp nhân cách con người. Trong bối cảnh đất nước và Thủ đô Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, sứ mệnh ấy càng trở nên quan trọng, đòi hỏi văn học tiếp tục đồng hành cùng đời sống, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa và góp phần xây dựng hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh trên nền tảng truyền thống và tinh thần sáng tạo.
  • Chương trình “Khúc quân hành” 2026: Hành trình một thập kỷ nghĩa tình tri ân
    Sáng 18/7, đoàn công tác Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X - năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026) đã đến viếng, dâng hoa, dâng hương tri ân các anh hùng, liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Đông Khê (Cao Bằng). Mở đầu chuỗi hoạt động, tại xã Đông Khê đoàn đã trao 150 suất quà tặng các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Phía sau bước chân người lên đường
    Sinh trưởng ở xứ Đoài mây trắng, từng làm việc ở Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, (nay là Hà Nội), Phan Quế - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đến với thơ từ buổi đầu sáng tác và ông cũng được bạn đọc biết đến khá sớm. Tuy nhiều năm qua Phan Quế dành thời gian và tâm sức nhiều cho tiểu thuyết, nhưng thơ đối với ông vẫn là nỗi niềm canh cánh trong lòng.
  • Vì sao The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa chọn để chinh phục IELTS?
    The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa để chinh phục IELTS là bởi đội ngũ giảng viên sở hữu khả năng ngoại ngữ xuất sắc, kỹ năng sư phạm giỏi.
  • Bệnh viện Tim Hà Nội: Dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), mới đây, trong khuôn khổ chuyến công tác khám bệnh, tư vấn sức khỏe và trao quà cho các cựu chiến binh, người có công với cách mạng tại tỉnh Tuyên Quang, PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền - Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội cùng đoàn công tác của Bệnh viện đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang).
Đừng bỏ lỡ
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
  • Khởi động Cuộc thi sáng tác Ca khúc và Logo về phường Mường Thanh năm 2026
    Ban tổ chức mong muốn thu hút, khuyến khích đội ngũ nhạc sĩ, họa sĩ chuyên nghiệp lẫn không chuyên trên toàn quốc đóng góp tài năng, trí tuệ. Từ đó, địa phương sẽ lựa chọn được một biểu trưng chính thức cùng những ca khúc tiêu biểu mang tính khái quát cao, phản ánh chân thực bản sắc độc đáo và dòng chảy phát triển của phường.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Mùa thu Hà Nội trong tôi đầy nhung nhớ
    Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận để các nhà thơ họa nên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp thông qua ngôn ngữ của thơ ca. Nếu như với nhà thơ Hữu Thỉnh khoảnh khắc "sang thu" đến với thi sĩ thật bất ngờ thông qua mùi thơm nồng nàn của hương ổi: "Bỗng nhận ra hương ổi,...". Thì với Anh Thơ, mùa thu của tác giả lại là: "Gió heo may nổi bờ tre buồn xao xác...", mùa thu của tác giả bắt đầu từ cái se lạnh đặc trưng của làng quê Bắc bộ giản dị, và đầy hấp dẫn.
  • Đổi pin một phút, chạy cả trăm cây số: VinFast Viper đúng chất xe điện cho dân phượt
    Hình ảnh xe máy điện lướt đi nhẹ nhàng trên phố đã trở nên quen thuộc. Với VinFast Viper, xe máy điện còn cho thấy khả năng vận hành mạnh mẽ, đáp ứng những chuyến đi xa hàng trăm kilômet qua nhiều dạng địa hình.
  • VinFast hợp tác với các Đại học, trường Đại học: Giải bài toàn "chất và lượng" của ngành ô tô Việt về nhân sự
    Bằng việc chuẩn hóa chất lượng thế hệ kỹ sư “từ gốc”, VinFast không chỉ tạo lợi thế cạnh tranh khác biệt trên thị trường, mà còn góp phần nâng cao tiêu chuẩn nhân sự cho ngành công nghiệp ô tô điện Việt.
  • "Khúc quân hành" lần thứ X năm 2026: Viết tiếp hành trình đền ơn đáp nghĩa tại Thủ đô Hà Nội
    Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026), trong hai ngày 20 - 21/7, Ban tổ chức Chương trình Khúc quân hành lần thứ X năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức đã đến dâng hương tại Phù điêu “Hà Nội - Mùa đông 1946”, thăm hỏi và tặng quà 3 cán bộ lão thành có công với cách mạng hiện sinh sống trên địa bàn 3 phường: Ba Đình, Hoàn Kiếm và phường Láng (TP Hà Nội).
Nhà thơ Thanh Tùng với ký ức một thời hoa đỏ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO