Văn hóa – Di sản

Nguyễn Văn Siêu – quan chức, danh nho thông kim bác cổ

Nguyễn Vinh Phúc 12/11/2023 08:44

Nguyễn Văn Siêu sinh năm Kỷ Mùi (1799), ban đầu tên là Định, sau đổi là Siêu, tự Tốn Ban, nhân ngôi nhà là nơi ông dạy học có hình vuông nên lấy hiệu là Phương Đình. Năm 20 tuổi, Nguyễn đến tập văn tại trường cụ Phạm Quý Thích. Năm 26 tuổi, Nguyễn bắt đầu lều chõng và đỗ Á nguyên nhưng không xin bổ làm quan mà ở nhà đọc sách, học thêm và dạy trẻ.

Chính trong thời gian này ông kết bạn thân thiết với Cao Bá Quát (1808 - 1854). Đến năm 1839, hai người vào Huế thi Hội, Cao hỏng (và sẽ còn hỏng mãi), Nguyễn đỗ Phó bảng. Sau khi đỗ Phó bảng, Nguyễn Văn Siêu được bổ làm ở toà Hàn lâm; năm sau 1839 làm Chủ sự ở Bộ Lễ. Năm sau nữa thăng Viên ngoại lang. Cũng năm này Minh Mệnh chết, Thiệu Trị nối ngôi. Vốn đã biết tài thần Siêu, nên vừa lên ngôi, Thiệu Trị chuyển Nguyễn Văn Siêu vào Nội các làm Thừa chỉ. Ít lâu sau, Nguyễn kiêm giữ cả chức Thị giảng, phụ trách việc giảng sách cho các hoàng tử Hồng Bảo, Hồng Nhậm... Năm 1847, Hồng Nhậm lên ngôi (tức Tự Đức). Hai năm sau 1849, Nguyễn đi sứ nhà Thanh. Tự Đức có dặn: “Khanh học vấn uyên bác, chuyến này đi sang sứ, xem xét núi sông, phong tục, ghi chép kỹ, khi về tiến lãm”.

danh-nhan-nguyen-van-sieu.jpg
Danh nhân Nguyễn Văn Siêu.

Khi về (1850), Nguyễn dâng lên quyển Vạn lý tập dịch trình tấu thảo, được thăng Học sĩ ở Viện Tập hiền. Năm sau ra làm Án sát Hà Tĩnh, rồi Án sát Hưng Yên kiêm cả chức Tuần phủ tỉnh này. Thuở đó Hưng Yên hay bị vỡ đê, Nguyễn có gửi về kinh một số điều trần, song có lẽ không hợp ý vua. Ít lâu sau, ông bị giáng trật. Tới năm 1854, ông đệ sớ xin từ quan và được chấp nhận ngay. Từ đó cho tới khi qua đời (1872), non 20 năm ông ở Hà Nội, vui với việc dạy học và soạn sách, cho nên cũng đã để lại nhiều di tích: tại nguyên quán (làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì), còn ngôi mộ của ông, còn cả ngôi nhà thờ họ do ông xây dựng và một tấm bia viết về ông do người cháu họ là tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp soạn vào cuối thế kỷ XIX. Còn ở nội thành, ngay dãy phố mang tên ông - phố Nguyễn Siêu - cũng có nhiều di tích. Quy mô đường phố kiểu hiện nay đã làm thay đổi diện mạo xóm làng thời xưa, tuy vậy vẫn có thể chỉ ra rằng khu vực các số nhà 10, 12 chính là khu Trại Găng, nhà cũ của thần Siêu và ngôi nhà số 20 chính là nơi ông dạy học trong những năm cuối đời. Nguyễn Văn Siêu viết nhiều, có tới vài ngàn trang sách đều bằng chữ Hán, bao gồm nhiều loại nghiên cứu về văn, sử, địa lý, triết học và sáng tác thơ ca. Sau khi ông mất, học trò mới đem toàn bộ tác phẩm của thầy ra khắc ván và xuất bản, bao gồm: Địa dư chí, Chư sử khảo thích, Chư kinh khảo ước, Tứ thư bị giảng, Vạn lý tập, Phương Đình thi tập, Phương Đình văn loại... Về nghiên cứu, ông là một học giả nghiêm túc, có nhiều phát hiện đáng quý. Bộ Địa dư chí (còn gọi là Đại Việt địa dư toàn biên) là một tác phẩm do ông cộng tác với Bùi Quỹ soạn trong hàng chục năm và hoàn thành vào mùa thu 1862. Sách đã thâu tóm khá nhiều hiểu biết về địa lý, lịch sử từ trước cho đến đương thời.

Về văn chương, ngòi bút của Nguyễn thật cứng cáp mà tươi, sắc mà tinh tế, nghiêm mà có tình. Vốn lớn lên giữa lúc chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn suy thoái, hoài bão đem tài học ra giúp dân giúp nước của ông không có điều kiện thi thố. Bài tán do chính ông đề vào bức chân dung vẽ trên lụa nhân dịp ông 70 tuổi (1868), đã nói lên cả một tâm sự, một cách nhìn nhận cuộc đời:

Hoà quang đồng trần,

Phi tâm trí khoái.

Hi cổ bạt tục,

Tắc lực bất đãi.

Mục kiến nhĩ văn,

Vô hồ bất tại.

Thứ cơ tồn tồn,

Dĩ tiến ngô thoái.

(Hoà sáng với bụi đường,

Thì lòng ta chẳng thích.

Noi xưa vượt thói thường,

Thì sức ta không kịp.

Điều mắt thấy tai nghe,

Chẳng có gì không thật.

Tiến bước trong cảnh lui,

Giữ sinh tồn muôn vật)

(Nguyễn Vinh Phúc dịch)

Ông cảm thấy trước mắt ông nhiều bụi quá. Không bụi sao được khi tình hình xã hội khốn quẫn mà vua quan thì phè phỡn trên mồ hôi, xương máu dân lành. Ông không thể đem sự trong sáng của tâm hồn hoà vào cái bẩn đục của cuộc thế. Nhưng ông cũng hiểu “Hỉ cổ bạt tục - Tắc lực bất đãi”, tức là vượt ra ngoài lề thói thông thường - như ông bạn Cao Bá Quát vừa “bạt tục” nổi dậy chống lại triều đình - thì bản thân ông không đủ sức theo. Cho nên trước thực tế đáng buồn làm ông thất vọng, ông chỉ còn một cách giải quyết là rút ra khỏi quan trường bụi bặm, đành lấy “thoái” để “tồn tồn”, đưa những điều mắt thấy tai nghe” vào trong tác phẩm. Có lẽ vì thế trong thơ, ông tỏ ra có cái nhìn hiện thực khá sắc. Vào năm Mậu Ngọ (1858), đi từ Bắc Ninh sang Hải Dương, ông chứng kiến cảnh sống cơ cực của nhân dân, ông viết:

Ai ta Bắc Kỳ dân,

Cập tư Mậu Ngọ xuân.

Đông tây hổ chuyển tỉ,

Cơ biều vô nhai tân.

Khung thương tân đẩu thược,

Đãi bổ di nhật tuần.

Mễ lạp thanh đáo thủ,

Cương phốc tử tương điền.

(Tự Bắc Ninh phó Hải Dương vịnh hoài)

Dân Bắc Kỳ khổ thay,

Gặp xuân Mậu Ngọ này.

Đông, Tây chạy luẩn quẩn,

Đường thây chết đói đầy.

Dốc kho phát từng chén,

Chờ cơm hàng tuần nay.

Hột gạo vừa tranh được,

Đã đè nhau chết ngay.

(Nguyễn Vinh Phúc dịch)

Ông phần nào đã nêu được nguyên nhân của các thảm cảnh trên. Đó là do tình trạng của một xã hội binh đao không ngớt, triều đình bất lực, thiên tai lại xảy ra liên miên, vì thế bọn cướp cũng ngang nhiên hoành hành.

Quái sự, quái sự bất nhẫn văn,

Bạch trú sát nhân toàn gia khứ.

Quân lại quá giả cố chi tha,

Hương lý tàng nặc bất cảm ngữ.

(Nhân tự Bắc Ninh lai, ngôn Bắc Ninh sự, cảm tác)

(Sự quái lạ, sự quái lạ, không nỡ nghe,

Ban ngày vào giết cả nhà người ta rồi đi.

Lính tráng quan lại qua đó phải làm ngơ,

Làng xóm cũng giấu giếm sự tình không dám nói)

(Nguyễn Vinh Phúc dịch)

Tuy vậy, Nguyễn không chỉ trích thẳng vào vua. Ông chỉ âm thầm trách: Thiên lý xương môn bất tận văn (Cửa nhà vua cách xa nghìn dặm, không nghe, không biết hết được việc này). Có lẽ chỉ trong bài thơ vịnh sử, ông mới tỏ rõ được lòng khinh bỉ đối với bọn vua quan ươn hèn cũng như nói hết lòng yêu nước, lòng tự hào về dân tộc mình.

Tiễn bạn trên bến Chương Dương, ông hào hứng ca ngợi chiến công đời Trần:

Nguyên nhân vô yếm tứ lăng xâm,

Bách vạn Nam lai độc tựu cầm.

(Chương Dương độ)

(Người Nguyên không chán thói xâm lăng càn rỡ,

Trăm vạn quân kéo sang Nam đều bị bắt)

Nhà thơ đã có một nhận thức thật là mới mẻ về vai trò của quần chúng trong cuộc chiến tranh giữ nước:

Tranh đạo chiết sung đa tướng lược,

Thuỷ trì sát Thát thứ nhân tâm.

(Chương Dương độ)

(Cứ bảo phá được giặc là do nhiều tướng tài,

Biết đâu cái chí sát Thát đã sẵn sàng nơi lòng người)

Nguyễn Văn Siêu còn mạnh dạn đánh giá lại các nhân vật lịch sử. Đối với vua quan nhà Nguyễn thì Tây Sơn là “ngụy”, ai nói trái lại thì coi chừng. Phương Đình không dám nói trái, nhưng trong bài Thăng Long hoài cổ ông kín đáo ca ngợi Tây Sơn đã có công duy trì nền độc lập tự chủ của đất nước và bày tỏ một nỗi niềm luyến tiếc:

Tây Sơn trực Bắc thướng Long Biên,

Thử nhật hồi đầu tứ thập niên.

Vạn cổ sơn hà nhưng đế Việt,

Tam triều văn vật uỷ Nam thiên.

Thương nhan bạch phát do tồn giả,

Lưu thuỷ hành vân khước diểu nhiên.

Nhật lạc cô thành thu sắc mộ,

Kỷ hồi vãng sự cánh thuỳ liên.

Hoài Anh dịch thơ:

Tây Sơn ra Bắc đến Long Biên,

Thấm thoát nay đà bốn chục niên.

Muôn thuở núi sông vua Việt đóng,

Ba triều văn vật cõi Nam riêng.

Mày xanh tóc bạc người còn đó,

Nước chảy mây trôi cảnh tự nhiên.

Thành lở, trời tà thu sắc muộn,

Người xưa chuyện cũ xót xa thêm.

Đến bài Điếu thành tây Loa Sơn cổ chiến trường xứ (Viếng núi Ốc, nơi chiến trường xưa ở phía tây thành Hà Nội), tác giả lên án hành động hèn hạ của Chiêu Thống bán nước và sự ngu ngốc của Tôn Sĩ Nghị xâm lược.

Có lẽ cũng xuất phát từ tinh thần yêu nước, phê phán quân xâm lược như ông thể hiện trong thơ, Nguyễn Văn Siêu đã có một việc làm trong phong trào chống Pháp. Đó là vào năm 1860, giặc Pháp hết gây chiến ở bán đảo Sơn Trà lại chiếm đóng Gia Định và chiếm luôn ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Triều đình Huế do dự, cầu hoà nhưng trong giới sĩ phu yêu nước đã dấy lên một phong trào tình nguyện đầu quân dẹp giặc. Lúc này Phương Đình đang dạy học ở Giang Nguyên và đã động viên được tinh thần yêu nước của môn sinh, nên học trò trường Phương Đình cũng làm một bài biểu dâng vua tình nguyện vào Nam đánh Pháp. Bài biểu này còn thấy chép trong sách Phương Đình tiên sinh trường văn tuyển – một bộ sách tuyển những áng văn hay của học sinh trường Phương Đình (ký hiệu A.451, Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Có thể đây là một bài tập của học sinh nhưng chủ đề rõ ràng là chống Pháp.

Căm ghét những thế lực tàn bạo, Phương Đình cũng thật sự thông cảm với dân chúng. Họ đau khổ, ông cất tiếng nói đồng cảm, họ hoan hỉ, ông cũng cất tiếng hoà vui. Trên đường đi Nam Định gặp cảnh nông thôn được mùa, ông hồ hởi reo mừng.

Đạo mạch đối giao cù,

Bách thất ca đình chỉ.

(Lúa ngô ngập đường xá,

Trăm nhà ca hát vui)

Nhà thơ mong mỏi mọi người được yên vui. Lòng mong mỏi đó hồn hậu và chân thật:

Dân nguyện hàn thử điều hoà nhân tiền bệnh,

Đạo tặc bình tức tuế phong nhương.

Tức sử đỗ môn diệc hoan hỉ,

Vô sầu, vô hận đáo xuân dương.

(Mong thuận nắng mưa, người ít bệnh,

Xua tan trộm cướp, được mùa luôn.

Dù ta đóng cửa, lòng vui vẻ,

Đón rước xuân sang, chẳng giận hơn)

(Nguyễn Vinh Phúc dịch)

Cho nên khó có thể phân biệt trong khối lượng thơ ca phong phú của ông đâu là hiện thực, đâu là trữ tình. Hiện thực và trữ tình xen lẫn nhau để cùng nói lên tâm hồn nhà thơ. Nhưng nếu cân lường tách bạch ra thì quả là trong thơ Phương Đình có bàng bạc một ngòi bút trữ tình đặc sắc, tình quyện trong cảnh và cảnh chứa tình. Cảnh trong thơ Phương Đình đẹp một cách dung dị; màu sắc, âm thanh hình dáng và đường nét thật sáng trong, thanh tú; tình trong cảnh đó nhã mà đôn hậu, thật mà nhuyễn.

Đây là một buổi chiều quang mây ở nơi thôn dã:

Phi quan nhiễm chức phiên thành cẩm,

Bất tại đan thanh hốt hữu văn.

(Không nhuộm, không thêu mà cứ như gấm dệt,

Không tô xanh, tô đỏ mà bỗng như nổi những đường vân)

Đây là đêm sáng trăng bên hồ, núi in hình trong nước, ven nước muôn hoa nở:

Sơn ảnh đảo thuỳ thanh nhược tẩy,

Ngạn hoa lưu lệ chiếu vô biên.

(Bóng núi đảo ngược sắc xanh như được rửa cho rõ ra,

Bờ hoa nở rộ ngời sáng không cùng)

Đặc biệt, là người dân Hà Nội nên cảnh Hà Nội tràn vào thơ Phương Đình không ít. Nhiều bài đẹp. Ngồi ngắm trăng trên sông Nhị hay đi chơi hồ Tây ông đều có những vần thơ tả cảnh tinh tế. Ông cũng viết về cảnh đẹp hồ Gươm, về lầu chuông của đền Ngọc Sơn nhìn xuống:

Nhất trản trung phù địa,

Trường lưu đảo tải thiên.

Ngư chu xuân tống khách,

Hồi trạo túc hoa biên.

(Một chén trong lòng đất nổi,

Nước dài trở lật trời qua.

Thuyền ca ngày xuân đưa khách,

Quay chèo về ngủ bên hoa)

(Nguyễn Vinh Phúc dịch)

Vạn hồ mênh mang mà ví như chén nước. Cách nhìn thật độc đáo. Nhưng chưa hết: nước lăn tăn chạy dài như lật trời mà trở về xa. Tứ thơ thật lạ mà táo bạo! Và thế là mùa xuân hiển hiện lên trong hình dáng một con thuyền bé đang quay mái chèo về nép cạnh bờ hoa. Xuân đẹp, xuân hữu tình nhưng man mác buồn, vì đây là xuân của một thời khá đen tối trong lịch sử!

Phương Đình còn nhiều bài viết khác nhau về hồ Gươm: Chơi hồ Gươm, Lên lầu chuông đền Ngọc Sơn, Trên núi Ngọc trông xuống... Đề tài hồ Gươm quả là quen thuộc trong thơ ông. Và chính ông là người đã đứng lên trùng tu lại thắng cảnh này: sửa sang ngôi đền Ngọc, bắc lại cầu Thê Húc nối bờ phía đông với đảo Ngọc, rồi bồi đắp thêm cho núi Độc Tôn và xây trên đó ngọn Tháp Bút với ý tứ sâu sắc: Tả thanh thiên (Viết lên trời xanh), tức là viết tư tưởng lên trời xanh, so với mặt trời, với trăng sao, phải chăng đó là viết ra cái chính khí hạo nhiên của con người chân chính? Và đã có bút tất phải có nghiên. Cho nên, cạnh Tháp Bút ngay ở đầu cầu Thê Húc, Phương Đình cho xây Đài Nghiên, một cái cửa cuốn trên có xây một cái nghiên bằng đá tạo theo hình nửa quả đào. Ở thành nghiên có khắc bài minh do Phương Đình soạn và Vũ Tá Trữ - đỗ Tú tài, có hiệu là Thọ Pháp - viết theo lối chữ lệ:

Cổ hữu huyệt địa tiến nghiên,

Chú đạo đức kinh.

Nghiên đại phương nghiễn,

Trứ Hán Xuân thu.

Thạch tư nghĩa dã,

Phi tượng hà hình.

Bất phương bất viên,

Diệu tồn chư dụng.

Bất cao bất hạ,

Vị hồ quyết trung.

Ứng thượng thai nhi thổ vân vật,

Hàm nguyên khí nhi ma hư không.

Bài minh thực ra viết liền một mạch, không có chấm câu, ý tứ lại hàm súc nên chúng tôi tạm chấm câu như trên và tạm dịch:

Xưa lấy hốc đất làm nghiên,

Chú kinh đạo đức.

Nghiền ngẫm bên nghiên lớn,

Viết sách Hán Xuân thu.

Từ đá tách ra làm nghiên vậy,

Chẳng có hình dáng.

Không vuông, không tròn,

Dùng vào mọi việc thật kỳ diệu.

Không cao, không thấp,

Ngôi ở chính giữa.

Cúi soi hồ Gươm,

Ngửa trông gò Bút đá,

Ứng vào sao Thai mà làm ra mọi biến đổi,

Ngậm nguyên khí mà mài hư không.

Đầu bên kia là lầu Đắc Nguyệt (được trăng). Qua lầu này tới ba nếp đền. Ở mặt nếp đền nhìn ra hồ ông cho khắc đôi câu đối:

- Đạo hữu chủ trương, Đấu Bắc văn minh tri tượng

(Đạo có chủ tể, đó là vẻ đẹp sáng của sao Bắc Đẩu)

- Nhân đồng chiêm ngưỡng, Giao Nam lễ nhạc chi đô

(Người đều ngửa trông, ấy thật đô thành lễ nhạc của cõi Nam)

Người xưa quan niệm, sao Bắc Đẩu là chủ mọi vì sao, là gốc của đạo lớn trong vũ trụ. Và lễ chính là trật tự xã hội, suy rộng ra là chính trị, còn nhạc là hoà hợp nhịp nhàng, tức là văn hoá. Đôi câu đối của Phương Đình đã khẳng định quả nơi đây - Hà Nội, Thăng Long là nơi muôn nẻo chầu về, là trung tâm chính trị và văn hoá của cả nước. Thời ấy nhà Nguyễn đã rời đô vào Huế trên sáu chục năm mà ông vẫn khẳng định như vậy, điều này cho thấy tầm vóc của bản lĩnh Phương Đình.

Phía ngoài đền ông cho xây đình “Chắn sóng” (Trấn Ba Đình). Ở đây cũng có câu đối:

- Kiếm hữu dư linh quang nhược thuỷ

(Kiếm sót dư linh ngời ánh nước)

-Văn tòng đại khối thọ như sơn

(Văn cùng trời đất thọ như non)

Như vậy với quần thể kiến trúc - mỹ thuật - văn học Ngọc Sơn mà ông là tác giả, Nguyễn Văn Siêu xứng đáng là một nhà văn hoá, một nghệ sĩ danh tiếng của Thăng Long.

Tất nhiên như xảy ra trong thực tế, Nguyễn Văn Siêu chưa nhìn thấy hết những vấn đề lớn của thời đại nên không có những hành động tích cực như Cao Bá Quát. Khóc họ Cao, bên cạnh sự xót xa vì mất bạn tri âm, Phương Đình cảm thấy xấu hổ vì mình cứ luẩn quẩn trong quan trường, ông chưa thấy hết ý nghĩa công việc “động trời” của bạn:

Duy biên thư sử bích biên cầm,

Nhất mộng du du thất hảo âm.

Sơn hải di tung hà xứ ẩn,

Hương quan ly hận thử hồi thâm.

Văn chương hữu mệnh tương chung thuỷ,

Thanh khí đồng bi tự cổ câm.

Ngô đạo bất kham phân hiểu hối,

Câu y kỳ nại sỉ lưu tâm.

Nguyễn Vinh Phúc dịch:

Đàn còn bên vách, sách bên mình,

Một giấc mơ màng bặt tiếng lành.

Sông núi chốn nào còn vết tích

Tình quê sâu nặng hận xa vương

Văn chương có mệnh tình sau trước,

Thanh khí cùng đâu chuyện cũ càng.

Đạo học tỏ mờ không hiểu nổi

Áo xiêm ràng buộc thẹn khôn lường.

Song, là một trí thức trong sạch, đạo đức cao đẹp, học thức uyên bác, một nhà giáo gương mẫu, một nhà khảo cứu nghiêm túc, một nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm, đáng trọng, Nguyễn Văn Siêu xứng đáng có một chỗ đứng nhất định trong nền văn học và văn hoá Việt Nam thế kỷ XIX./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Quang Triều - nhà Nho thanh cao
    Nhà thơ Trần Quang Triều (1286 - 1325), còn có tên là Nguyên Đạo, Nguyên Thụ, hiệu Cúc Đường, Vô Sơn Ông, sinh năm Bính Tuất (1286). Ông là con cả Trần Quốc Tảng, cháu nội Trần Quốc Tuấn và là anh vợ vua Trần Anh Tông. Năm 14 tuổi (1301), ông được phong tước Văn Huệ Vương, sau đó làm quan trong triều. Ông giỏi cả văn lẫn võ, từng cầm quân đi đánh dẹp Thích Na. Có thời gian Trần Quang Triều lui về ở tại am Bích Động, gần chùa Quỳnh Lâm (nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).
(0) Bình luận
  • Xã Ô Diên (Hà Nội): Xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí
    Sáng 23/2, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ xã Ô Diên đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí. Tham dự buổi lễ có Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Phạm Hồng Hoàn; Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Ô Diên Nguyễn Thị Bảy; Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND xã Bùi Thị Thu Hằng.
  • Khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn tri ân Tản Viên Sơn Thánh
    Sáng 23/2 (mùng 7 tháng Giêng năm Bính Ngọ 2026), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Đoài Phương (TP. Hà Nội) long trọng tổ chức khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn, đình Sơn Trung và đình Sơn Đông.
  • Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng
    Sự kiện Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng lâu nay vẫn là hai mảng đề tài đặt ra những câu hỏi không dễ giải đáp. Chẳng hạn, giặc Ân là có thật hay chỉ là truyền thuyết? Nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn cho rằng việc phát hiện một loại nha chương bằng ngọc khuê/đá quý trong quá trình khai quật tại di chỉ văn hóa Phùng Nguyên ở Việt Nam (khoảng thế kỷ XV trước Công nguyên) giống hệt loại nha chương đã tìm được trong một số di chỉ có niên đại Ân - Thượng ở Trung Quốc cho thấy chắc chắn giặc Ân đến từ phương Bắc.
  • Xã Đa Phúc long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà
    Trong không khí linh thiêng, rộn ràng của mùa lễ hội đầu xuân Bính Ngọ 2026, ngày 20/2 (mùng 4 tháng Giêng năm Bính Ngọ) thôn Xuân Lai, xã Đa Phúc đã long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà.
  • Quần thể di tích Thổ Hà và Nhà ngục Kon Tum được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 19) đối với 2 di tích.
  • Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
    Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Kiến tạo bản sắc Hà Nội từ văn hóa dân gian
    Vốn được hiểu là tổng thể những đặc trưng văn hóa ổn định, bản sắc văn hóa của một nơi chốn trên thực tế lại không ngừng vận động, biến đổi qua thời gian. Bản sắc văn hóa Hà Nội cũng không phải ngoại lệ. Là kết quả của một quá trình kiến tạo lâu dài, bền bỉ, bản sắc văn hóa Hà Nội là sự kết tinh của quá trình đan xen, bồi đắp của những lớp trầm tích của đời sống dân gian và những mảng màu đa sắc của đời sống đô thị hàng nghìn năm. Trong quá trình này, văn hóa dân gian giữ vai trò nền tảng, từ đó, bản sắc văn hóa Hà Nội được định hình; và qua biết bao lớp vun bồi của giao lưu văn hóa, qua bao chảy trôi, thăng trầm của lịch sử, qua những tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, vẫn có thể thấy vẻ đẹp đặc sắc của linh hồn phố thị Hà Nội được kiến tạo từ văn hóa dân gian.
  • “Lấm lưng, trắng bụng” trong Lễ hội truyền thống vật làng Sình
    Đông đảo người dân và du khách thập phương đến khu vực Đình làng Lại Ân (phường Dương Nỗ, TP Huế) xem cổ vũ Lễ hội truyền thống vật làng Sình và xem các đô vật hạ đối phương “lấm lưng, trắng bụng”.
  • Ngày thơ Hà Nội 2026 với chủ đề "Vươn mình ra biển lớn"
    Trong chuỗi hoạt động của Ngày thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026 trên phạm vi cả nước, Ngày thơ Hà Nội sẽ được tổ chức vào ngày 1/3/2026 (tức ngày 13 tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Với chủ đề “Vươn mình ra biển lớn”, Ngày thơ Hà Nội do Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội và Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức tiếp tục thể hiện vị thế của Hà Nội đồng thời góp phần tôn vinh các giá trị của thi ca.
  • Bài 2: Cất cánh trong kỷ nguyên mới - hành trình và khát vọng
    Năm 2026, Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội kỷ niệm 60 năm thành lập - một dấu mốc không chỉ của truyền thống mà còn của khát vọng bứt phá. Từ một Trường Cán bộ Y tế thiếu thốn về mọi mặt trong giai đoạn đất nước còn chiến tranh những năm đầu thành lập, hôm nay Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đã trở thành địa chỉ đào tạo uy tín, hội nhập mạnh mẽ, sẵn sàng đồng hành cùng thế hệ trẻ trên hành trình chinh phục tri thức trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
  • "Tuần lễ Áo dài" và đồng diễn dân vũ năm 2026 trên toàn quốc từ 1/3 đến 8/3
    Điểm nhấn của chuỗi sự kiện là chương trình đồng diễn dân vũ tổ chức đồng loạt vào Chủ nhật, ngày 8/3/2026, tại các địa điểm công cộng gắn với di tích văn hóa, lịch sử của từng địa phương.
Đừng bỏ lỡ
  • Mưa chùa Trăm Gian
    Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài thơ Mưa chùa Trăm Gian của tác giả Phạm Đình Ân.
  • Huế phát triển thông minh và bền vững dựa trên phát huy giá trị di sản
    Trong giai đoạn mới, TP Huế phát huy tối đa giá trị di sản như một nguồn lực đặc biệt cho phát triển trên nền tảng bảo tồn – sáng tạo – chuyển đổi số – tăng trưởng xanh và bền vững.
  • [Video] Mục đích, ý nghĩa của cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031
    Hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, Sở Tư pháp Thành phố Hà Nội đã xây dựng và phát hành các video tuyên truyền về nội dung này. Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu video mục đích, ý nghĩa của cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 để nhân dân và cử tri Thủ đô nắm vững các quy định của pháp luật, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong sự kiện trọng đại của đất nước diễn ra vào ngày 15/3/2026.
  • [Video] Tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2026 - 2031
    Theo Quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 phải đáp ứng tiêu chuẩn chung, như: có trình độ học vấn, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ; liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm...
  • "Con đĩ đánh bồng": Điệu múa đặc sắc tại hội làng Triều Khúc
    Chiều mùng 9 tháng Giêng (25/2), lễ hội làng Triều Khúc chính thức khai hội tại phường Thanh Liệt (Hà Nội) và kéo dài đến hết ngày 12 tháng Giêng. Ngay ngày đầu khai hội, điệu múa trống bồng độc đáo đã trở thành tâm điểm, thu hút đông đảo người dân và du khách.
  • Phim "Mùi phở" chuẩn bị được công chiếu ở nhiều quốc gia
    Bên cạnh câu chuyện gia đình giàu cảm xúc, Mùi Phở còn tạo dấu ấn ở phần âm nhạc mang âm hưởng dân gian truyền thống. Khán giả được thưởng thức những màn hát chầu văn, hát xẩm đặc trưng do nghệ sĩ Xuân Hinh thể hiện, góp phần làm nổi bật màu sắc dân gian Bắc Bộ. Phim sẽ phát hành toàn cầu, với sự đồng hành của 3388 Films tại các thị trường Âu, Mỹ, Úc, Nhật và Lotte Entertainment cho các thị trường quốc tế còn lại.
  • Phường Cửa Nam chuẩn bị kỹ lưỡng cho cuộc bầu cử ĐBQH và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
    Thông tin từ Ủy ban Bầu cử phường Cửa Nam (TP. Hà Nội), thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Thành phố, phường Cửa Nam đã chuẩn bị kỹ lưỡng các điều kiện để tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra ngày 15/3/2026.
  • [Podcast] Tản văn: Xa quê nhớ Tết
    Một ngày cuối năm không có mưa phùn, không có khói sương Hà Nội, không có hoa đào và bánh chưng xanh chỉ có tuyết rơi trắng xóa ngoài cửa sổ, trong nhà là cây thông noel, rượu whisky, chocolate và hạt dẻ rừng. Những ngày này trong khung cảnh này, mỗi người con xa xứ lại nhớ về quê hương nhiều hơn...
  • Nét đẹp văn hóa Lễ hội Đền Huyền Trân “Ngưỡng vọng Tiền nhân - Dấu thiêng mở cõi”
    Người dân và du khách về núi Ngũ Phong phường An Cựu (TP Huế) tham gia Lễ hội Đền Huyền Trân “Ngưỡng vọng Tiền nhân - Dấu thiêng mở cõi” để tưởng nhớ đến người có công lao trong sự nghiệp mở mang bờ cõi phía Nam.
  • Văn hóa, tri thức và sức khỏe trở thành nguồn lực quan trọng phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô
    Ngay sau khi kết thúc Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TƯ, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về "Phát triển kinh tế nhà nước" và Nghị quyết số 80-NQ/TƯ, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về "Phát triển văn hóa Việt Nam", sáng 25/2, Thành ủy Hà Nội đã tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thực hiện các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị.
Nguyễn Văn Siêu – quan chức, danh nho thông kim bác cổ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO