Văn hóa – Di sản

Nguyễn Trực – nhà khoa bảng “lưỡng quốc trạng nguyên”

Lê Văn Tấn • 14/11/2023 15:45

Nguyễn Trực, hiệu là Sư Liêu, tự là Công Dĩnh, quê xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (nay thuộc xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, ngoại thành Hà Nội). Nguyễn Trực sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi có học vấn, đỗ đạt cao: Ông nội là Tiến sĩ Nguyễn Bính (dưới triều vua Trần Hiến Tông từng giữ chức Nho học huấn đạo giáo quan Quốc Tử Giám), cha là Tiến sĩ Nguyễn Thời Trung (làm quan giáo thụ Quốc Tử Giám dưới triều vua Lê Thái Tông)...

Ông sinh ngày 16-5 năm Đinh Dậu (1417), thuở nhỏ đã nổi tiếng là người rất mực thông minh, mẫn tiệp. Lên 8 tuổi đi học, 12 tuổi có khả năng làm thơ văn. Năm Thiệu Bình thứ nhất (1434), ở tuổi 17, Nguyễn Trực tham dự kỳ thi Hương và đỗ đầu (Giải nguyên). Đến năm Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba (1442), Nguyễn Trực 25 tuổi, tham dự kỳ thi Đình và đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ Đệ nhất danh (Trạng nguyên). Ông được nhà vua ban sắc “Quốc Tử Giám thị thư” và ban thưởng á Liệt Khanh, đứng đầu trong số 33 vị Tiến sĩ cùng khóa, được coi là lưỡng quốc Trạng nguyên (Việt Nam và Trung Quốc). Lần đầu tiên trong lịch sử nước Việt, vua Lê ban mũ áo Trạng nguyên cho người đỗ đạt cao nhất. Hiện nay, tên tuổi của ông vẫn đứng đầu trong các bia Tiến sĩ ở Văn Miếu.

nguyen-truc.jpg
Nhà thờ họ Nguyễn - dòng tộc Lưỡng quốc trạng nguyên Nguyễn Trực ở Thanh Oai, Hà Nội ngày nay).

Sử sách chép rằng: Nguyễn Trực sinh ra trong thời buổi loạn lạc, nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần. Cha của Nguyễn Trực lúc đó phải lánh nạn về phía tây ở Tiểu Đông Mộng - thôn Cây Thượng - xã Nghĩa Hương - Quốc Oai - Hà Nội. Tại đây Nguyễn Thời Trung gặp và kết duyên với một phụ nữ tên là Đỗ Thị Chừng, sinh ra Nguyễn Trực ở am Long Khôi, núi Phật Tích, thuộc địa phận xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội. Thấy ông còn ít tuổi mà đã đăng quang, nên vua Lê Thái Tông ban cho ông yến tiệc ở vườn Quỳnh, cho cưỡi bạch mã đi dạo quanh kinh đô Thăng Long.

Ngày 3-5-1442, cha Nguyễn Trực qua đời, ông phải về chịu tang. Năm Giáp Tý niên hiệu Thái Hòa thứ hai (1444), dưới triều vua Lê Nhân Tông, Nguyễn Trực được vua ban chức Triều nghi đại phu Hàn lâm viện học sĩ Vu kỵ úy. Ít lâu sau, ông được vua tuyên triệu về triều ban chức Hàn lâm viện thị giảng chi thập thị học sĩ ngự tiền học sinh nhị cục tầm ban. Năm Ất Sửu niên hiệu Thái Hòa thứ ba (1445) được đổi lại thành Thiếu trung khanh đại phu Ngự sử Đài ngự sử thị Đô úy. Nhưng Nguyễn Trực đã dâng biểu từ chối, khiến vua Lê Nhân Tông phải ra sắc dụ tới ba lần ông mới chịu nhận.

Ngày 13-3 năm Giáp Tuất (1454), mẹ ông qua đời, ông phải về chịu tang. Trên đường về, các học sĩ của bốn phương đến theo học với ông rất đông. Cũng từ đây, nhiều bậc cự nho, danh sĩ khoa bảng được vua ban áo, mũ đều từng là học trò của Trạng nguyên Nguyễn Trực trong thời gian ông về quê chịu tang mẹ. Năm Đinh Sửu (1457), tháng sáu mãn tang mẹ thì đến tháng tám có sứ nhà Minh là Hoàng Gián tìm gặp. Vua Lê Nhân Tông tuyên triệu ông vào tiền điện. Nhờ tài thơ văn ứng phó tuyệt vời, ông đã khiến sứ giả nhà Minh vô cùng cảm phục. Sau tập thơ Lưu biệt gồm 50 vận làm vẻ vang đất nước, ông được vua cử đi sứ sang Trung Quốc. Sang đó, gặp kỳ thi Đình, Trạng nguyên Nguyễn Trực cùng Phó sứ là Trịnh Khiết Tường muốn cho nhà Minh biết tài học vấn của người nước Việt, nên đã đăng ký tham dự kỳ thi đó. Sau kỳ thi năm ấy, Trạng nguyên Nguyễn Trực được người Minh xưng tặng là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, Phó sứ Trịnh Khiết Tường được đỗ Bảng nhãn. Trở về nước, cả hai ông đều được vua phong chức Thượng thư và ban thưởng tám chữ vàng: Thành công danh Nam Bắc triều biên ngã (Công danh ở cả hai nước đều hoàn thành). Trải qua nhiều chức vị khác nhau, ông là người luôn được vua Lê đánh giá cao về học vấn và tiết tháo. Theo xác định của Bùi Duy Tân, ông từng được Lê Nhân Tông vẽ hình để bên cạnh ngồi, tỏ ý không lúc nào quên. Vua Lê Thánh Tông thì kính trọng đến mức sai đem bộ Thiên Nam dư hạ tập đến tận chỗ ông ở là đình Hoàn Bích để ông tiện phê duyệt. Ông cũng chính là một trong những văn thần được bình thơ văn của Lê Thánh Tông từ trước khi có hội Tao đàn. Đóng góp của Nguyễn Trực trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật cũng có nhiều điều đáng chú ý. Tương truyền ông có tập thơ Sư Liêu, nhưng văn bản hiện thất truyền; Ngu nhàn tập, Kinh nghĩa chư văn tân tập, Văn bia Mục Lăng (soạn chung với Nguyễn Bá Ký, nay đã thất truyền), chỉ còn sót lại một số bài trong Gia phả họ tộc họ và trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn; bài phú thi Hội có tên Xuân đài phú (Bài phú đài xuân) và Đình đối sách văn (Bài văn sách thi Đình).

Qua số tác phẩm văn thơ ít ỏi còn lại so với số lượng sáng tác thực có của ông chúng ta có thể ít nhiều hiểu được những mâu thuẫn mà thống nhất trong con người Nguyễn Trực: thời trẻ trung thì hừng hực với những hoài bão và khát vọng phò vua giúp nước, tinh thần tự nhiệm cao cả của một nho sĩ hành đạo mẫu mực; và bên cạnh đó là một Nguyễn Trực của chiều tà xế bóng với niềm nhớ nhung quê cũ, những ước mong bình dị của một con người dường như đã “mỏi gối, chồn chân” trên con đường hoạn lộ, muốn được hoà mình vào cùng với không gian, thời gian yên ả và thanh bình của làng mạc, quê hương.

Nguyễn Trực trưởng thành khi nhà Lê đã hoàn thành công cuộc “bình Ngô”, cái thời tối tăm, bĩ vận đã qua đi, đất nước bước vào buổi kiến thiết và dựng xây, dù có ít nhiều khủng hoảng nội bộ song nhìn trên đại cục là thời thanh bình. Mặc dù thế, cũng giống như đa số nho sĩ hành đạo khác, trong nhiều thơ văn của mình, Nguyễn Trực bày tỏ niềm mơ ước về một xã hội tốt đẹp có vua sáng tôi hiền với những Nghiêu, những Thuấn, Thành Thang, Cao, Quỳ, Tắc... Trong Xuân đài phú, Nguyễn Trực bày tỏ niềm vui mừng trước cảnh đất nước thanh bình. Đài xuân - một biểu tượng tượng trưng cho nội dung tụng ca sơn hà xã tắc và cũng là hình ảnh của đất nước giai đoạn đầu đời Lê. Theo ông, “đài này không nền, không móng, không dựng, không xây”, không cần phí công nện đắp, không cần muôn vàn của cải tiền tài mà chỉ cần đạo đức làm cơ sở:

Chẳng cần đến trăm nghìn công lao nện đắp,

Chẳng phí đến muôn vàn của cải tiền tài.

Chi cần lễ nghĩa tạo hướng đi cho mưu lược,

Chi cần đạo đức làm cơ sở để tài bồi.

Từ đó mà ông mường tượng đến một mô hình xã hội ổn định cần được kiến tạo bằng lễ nghĩa đạo đức kiểu Nho gia, đồng thời cũng nhận thấy trách nhiệm của những người “ở trên” là phải không ngừng quan tâm đến việc xây dựng Xuân đài - tiêu chí thẩm định cuộc cai trị của một thời đại:

Đẹp thay đài này biểu tượng sáng ngời,

Gặp phải thời suy, người, vật tơi bời!

Sao nỡ để dài xuân đổ nát,

Khiến đời sau oán trách chê cười...

Cuối thời Trần vận nước suy vi; thời nhà Hồ “chính sự phiền hà” (Nguyễn Trãi) khiến cho “đài xuân đổ nát”, dân chúng lầm than, dẫn đến thảm họa mất nước. Lời văn lúc này của ông ngụ ý chê trách, nhưng không gay gắt đến mức khinh bạc, chỉ đủ để giúp cho người đọc hồi tưởng về quá khứ và ghi nhận một cuộc đổi thay đã có, đồng thời mạch cảm xúc cũng chuyển hẳn sang cảm hứng ca ngợi triều đại đương thời (một phần không thể thiếu trong những bài văn có tính trường quy):

Bĩ rồi lại thái,

Vận trời xoay vần.

Đức Cao Hoàng ta: trị vì thiên hạ,

Gió nhân thổi khắp, cả nước thanh bình.

Nghiệp lớn vững mạnh,

Hoà khí lung linh.

Xây cuộc đời vui, phong tục thuần khiết,

Tạo nên cảnh mới, đạo đức quang minh.

Ta cũng gặp cảm xúc này trong bài văn sách của ông. Đây là tác phẩm có tính quyết định vị trí đứng hàng đầu của Nguyễn Trực trong kỳ thi Đình. Bài văn sách cho thấy tác giả của nó là một người có kiến thức uyên bác, biện luận chặt chẽ và sắc sảo, nhất là những đoạn văn luận về đạo quân tử và tiểu nhân. Xin dẫn một đoạn dưới đây:

“Ôi, quân tử và tiểu nhân hoàn toàn trái ngược nhau. Đạo quân tử mạnh thì đạo tiểu nhân suy; đạo quân tử suy thì đạo tiểu nhân mạnh. Như âm với dương, như ngày với đêm không thể cùng song song vận hành; như nước với lửa, như thơm với thối, không thể cùng chứa trong một rọ. Cho nên bậc bề trên, mỗi lúc dùng người phải bình tĩnh, phải chuyển tâm, phải thử thách, phải thận trọng mới được...

Bệ hạ muốn quân tử tiến, tiểu nhân lùi thì không gì bằng gần gũi bề tôi khí tiết, sử dụng kẻ sỹ chính trực để họ đưa vua đi đúng đường đặt vua vào chỗ không lầm lỗi. Cho nên, Mạnh Tử nói: Không thể chỉ trách cứ người mình dùng, không thể chỉ chê bai việc chính sự. Duy bậc Đại nhân mới biết sửa lỗi lầm của vua. Vua có nhân, không ai không có nhân; vua có nghĩa, không ai không có nghĩa; vua chân chính, không ai không chân chính. Trước hết, vua chân chính rồi cả nước sẽ bình yên...”.

Qua đây, chúng ta có thể thấy việc tiến cử hiền tài là một vấn đề mà Nguyễn Trực quan tâm hàng đầu. Theo ông, việc dùng người muốn đạt hiệu quả thì nhà vua phải chăm bề tu đức, phải có nhân - trí - dũng và giỏi thuật dùng người. Trong suy nghĩ của Nguyễn Trực, cơ sở của một nền thịnh trị cần phải có vua sáng tôi hiền “trăm tè quan tựu quanh vua đều có phong thái của bậc sĩ quân tử”. Đó chính là ý thức về vai trò và tầm quan trọng của nhân tài, đúng như cách mà Thân Nhân Trung viết “hiền tài là nguyên khí quốc gia”, có quan hệ mật thiết với sự hưng vong của đất nước. Quả là vấn đề mà Nguyễn Trực đặt ra ở đây có ý nghĩa thời sự nguyên vẹn của nó cho đến tận bây giờ. Chỉ có điều là trong bài văn này, ông chỉ tập trung nhấn mạnh việc lựa chọn và sử dụng nhân tài như một biện pháp tốt nhất để đẩy lùi tiểu nhân chứ chưa đặt ra vấn đề đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Điều này sẽ được bù đắp ở những học giả đời sau.

Khi tuổi cao sức yếu, thân mỏi, tâm mệt, hoài bão tráng chí một thời theo quy luật mà dần dần giảm đi, ý muốn ganh đua không còn nữa. Hình tượng của một con người thời trai trẻ hăm hở, hình ảnh một con người mang trong mình hoài bão hành đạo bị mờ dần để thay vào đó là hình bóng một Nguyễn Trực già yếu, đôi chỗ thất vọng và một niềm mong mỏi tha thiết được quay về thôn quê sống một cuộc đời giản dị, nhàn tản:

Man Xúc tâm hội tục lựu hưu,

Yên ba vạn khoảnh phiếm cô châu.

Kỳ sơn tú thuỷ cung thanh trí,

Lệ nhật xuân phong trợ thắng du.

Tuý lý vong cơ tuỳ sở thích,

Nhàn trung dữ thế đạm vô cầu.

Tự tằng tương thức hoàn tương phỏng,

Lưỡng lưỡng phi lai thậm xứ âu.

Vân Trình dịch thơ:

Lửa lòng Man Xúc tắt lâu rồi,

Thuyền lẻ xa xa lướt sóng trôi.

Núi thẳm, nước trong thêm thú vị,

Gió xuân, nắng ấm giúp niềm vui.

Say sưa, quên hết, riêng tuỳ thích,

Nhàn ẩn, càng hay, khỏi lụy đời!

Thương cảm tình ta như có ý:

Chim âu sà xuống tự phương trời. "

Quê hương của Nguyễn Trực có cách kinh thành Thăng Long bao xa đâu, vậy mà cái ước ao nhỏ bé đơn sơ đến thế ở ông cuối cùng cũng không thành:

Bệnh thừa ân chiếu hứa lưu kinh,

Quy kế Sơn Tây nhất vị thành.

Hà nhật Sơn Tây sơn hạ lộ,

Thoa y, tiểu lạp khán xuân canh?

Tác giả sách Hoàng Việt thi văn tuyển dịch thơ:

Ơn cho dưỡng bệnh chốn kinh kỳ,

Về nghỉ chưa thành mãi đến nay.

Mong mỏi ngày nào đường dưới núi,

Mang tơi đội nón ngắm dân cày?

Thế rồi ông đã mất khi đang đương chức tại kinh thành Thăng Long. Niềm mong mỏi đến khắc khoải ấy ở ông vẫn còn vẹn nguyên của một niềm mơ ước.

Trở lên có thể thấy, thơ văn Nguyễn Trực đã bộc lộ tiết tháo của một con người có phần hờ hững với công danh phú quý, luôn mong ước một cuộc sống bình dị, gắn bó với thiên nhiên. Đánh giá về Nguyễn Trực,

Thân Nhân Trung viết: “Khai quốc Trạng nguyên, văn chương vẻ vang trong nước, nổi tiếng một đời. Triều vua nào cũng được yên chuyện, giữ việc văn hành, ở ngôi quán các, là người khiêm tốn, trước sau vẹn toàn”. Vua Tự Đức trong Việt sử tổng vịnh thì khen ông: Triều Lê lừng lẫy mấy ai tày. Học giả Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí cũng cho rằng thơ Nguyễn Trực “lời và ý đều tao nhã đáng ưa”. Với tất cả những lí do đó và dù lịch sử dân tộc đã trải qua nhiều bước thăng trầm, song tên tuổi của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực mãi mãi là dấu son chói ngời trong lịch sử Việt Nam, rạng danh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Huế khảo sát, định hướng phát huy giá trị các di sản và không gian văn hóa
    TP Huế khảo sát, định hướng kết nối giữa các điểm di tích, không gian văn hóa và cảnh quan sông nước để hình thành những sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng và nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
  • Gìn giữ và phát huy giá trị Di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long
    Điện Kính Thiên là cung điện quan trọng nhất nằm giữa trung tâm Cấm thành Thăng Long, nơi ngự trị của các Hoàng đế và là biểu tượng cho quyền lực tối cao của nước Đại Việt thời kỳ nhà Lê từ thế kỷ XV đến XVIII. Đây là nơi diễn ra các nghi thức quan trọng nhất của quốc gia như: lễ Đăng cơ (Hoàng đế lên ngôi), lễ Đại triều và lễ đón tiếp sứ thần các nước... Việc nghiên cứu phục dựng Chính điện Kính Thiên, góp phần phát huy giá trị di sản. Đây là một dấu mốc quan trọng trong hành trình bảo tồn và phát huy giá
  • “Thanh âm Gốm”- cách cảm nhận mới về di sản làng nghề
    Trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, tối 19/9, chương trình biểu diễn nghệ thuật “Thanh âm Gốm” diễn ra tại Làng gốm Bát Tràng đưa công chúng đến với một cách cảm nhận mới về di sản làng nghề, khi gốm không chỉ được nhìn ngắm qua hình dáng, màu men mà còn được lắng nghe qua âm thanh, chuyển động và nghệ thuật trình diễn đương đại.
  • Định vị Cổ Loa trong lịch sử khu vực và văn minh nhân loại
    Lưu giữ dấu tích của một kinh đô cổ cùng những truyền thuyết gắn với buổi đầu dựng nước, Cổ Loa đồng thời chứa đựng những giá trị có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một di sản quốc gia. Trên cơ sở nhận diện, làm rõ giá trị nổi bật toàn cầu, Hà Nội đang từng bước triển khai chuẩn bị hồ sơ đề cử Khu di tích Cổ Loa trình UNESCO xem xét ghi danh vào Danh mục Di sản thế giới, qua đó làm nổi bật vị thế của kinh đô Âu Lạc trong lịch sử Đông Nam Á và tiến trình hình thành các nền văn minh của nhân loại.
  • Đưa giá trị văn hóa khoa cử tái hiện vào thiết kế thời trang đương đại
    Tối 4/9, tại sân Thái Học, Văn Miếu - Quốc Tử Giám diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu - Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội hướng tới trở thành điểm gặp gỡ thường xuyên của các nền văn hóa trên thế giới
    Từ thành công của năm 2025 và 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục phối hợp với Bộ Ngoại giao, Thành phố Hà Nội, UNESCO, các cơ quan đại diện ngoại giao và các đối tác quốc tế để xây dựng Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội trở thành một nền tảng giao lưu và hợp tác văn hóa quốc tế có uy tín, tổ chức thường niên, có bản sắc riêng và tạo ra những kết quả hợp tác cụ thể qua từng năm.
  • Triển lãm “Sắc Tâm 2026”: Điểm chạm giữa nghệ thuật và di sản
    Triển lãm “Sắc Tâm 2026” lần thứ 2 mang đến những cách tiếp cận đa dạng với sơn mài, từ trừu tượng đến hiện thực, từ tinh tế đến mạnh mẽ. Qua ngôn ngữ nghệ thuật riêng, các họa sĩ mở ra những đối thoại về con người, thiên nhiên, thời gian và đời sống đương đại.
  • Rực rỡ “Sắc màu năm châu” giữa lòng Thủ đô Hà Nội
    Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu” thuộc Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai – năm 2026, đã diễn ra vào chiều 3/10 tại không gian phố đi bộ quanh hồ Hoàn Kiếm. “Sắc màu năm châu” do UBND Thành phố Hà Nội chỉ đạo nội dung; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội chủ trì, chỉ đạo Nhà hát Múa rối Thăng Long tổ chức thực hiện.
  • Tam Fruit và nét thanh lịch trong văn hóa quà tặng Hà Nội
    Trong nhịp sống đô thị hiện đại, một món quà được trân trọng không chỉ bởi giá trị vật chất mà còn bởi cách người trao gửi gắm sự quan tâm. Từ nhu cầu ấy, Tam Fruit lựa chọn giỏ trái cây nhập khẩu như một ngôn ngữ quà tặng thanh lịch, phù hợp với văn hóa ứng xử của người Hà Nội hôm nay.
  • Phường Hồng Hà phát động Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026
    Ngày 05/10, tại Trường Tiểu học và THCS Chương Dương, UBND phường Hồng Hà tổ chức Lễ phát động Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026 với chủ đề “Thực học, thực hành, làm chủ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời”.
Đừng bỏ lỡ
  • Thủ đô Hà Nội lần đầu tiên đạt mức tăng trưởng 2 con số
    Chiều 5/10, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức họp báo thông tin tình hình kinh tế, xã hội Quý III năm 2026. Đồng chí Nguyễn Tiến Thiết, Thành ủy viên – Chánh Văn phòng UBND Thành phố; Nguyễn Thị Mai Hương – Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Đỗ Thu Hằng – Phó Giám đốc Sở Tài chính; Nguyễn Công Anh – Phó Giám đốc Sở Tư pháp đồng chủ trì buổi họp báo.
  • Những sắc màu tuổi thơ trên sân khấu Nhà Bát Giác
    Tối 4/10, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội thực hiện, tiếp tục mang đến một không gian giải trí giàu tính tương tác dành cho các em nhỏ. Những màn xiếc, ảo thuật, tung hứng cùng các tiết mục giàu màu sắc tạo nên một điểm hẹn cuối tuần phù hợp với nhiều gia đình, nơi trẻ nhỏ được trực tiếp cảm nhận nghệ thuật bằng trí tò mò, sự thích thú và những trải nghiệm gần gũi.
  • Nhộn nhịp Hội sách Hà Nội lần thứ XI - 2026
    Hội sách Hà Nội lần thứ XI năm 2026 đã thu hút đông đảo người dân và bạn đọc tham gia với chủ đề “Sách mở tri thức - Công nghệ dẫn tương lai”. Hội sách diễn ra từ ngày 1 đến 4 tháng 10 tại không gian phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm, nơi có nhiều gian hàng sách và các chương trình giao lưu, tọa đàm, giới thiệu sách mới. Hội sách không chỉ là nơi bạn đọc tìm đến những cuốn sách hay mà còn là không gian khơi mở tinh thần học tập, nơi những giá trị của quá khứ được kết nối với tri thức hiện đại và công nghệ tương lai.
  • “Những lớp phù sa”: Dòng chảy văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu múa đương đại
    Sáng 3/10, tại Nhà hát thực hành Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, Hội Nghệ sĩ Múa Hà Nội tổ chức tọa đàm “Ngôn ngữ múa dân gian đương đại qua tác phẩm múa "Những lớp phù sa”.
  • Gần 900 vận động viên sôi nổi tranh tài Giải Bơi chải thuyền rồng và Ván SUP Hà Nội 2026
    Sáng 4/10, tại khu vực hồ Tây, gần 900 vận động viên trong nước và quốc tế đã sôi nổi tranh tài Giải Bơi chải thuyền rồng và Ván SUP Hà Nội mở rộng năm 2026.
  • Mùa thu Hà Nội trong những thanh âm Jazz chiều 4/10
    Từ những giai điệu quen thuộc của nhạc hiệu "Hà Nội niềm tin và hy vọng", "Mưa chiều", "Bây giờ tháng mấy" đến những tác phẩm Jazz kinh điển như "The Girl from Ipanema", "Blue Monk", "I Get A Kick Out Of You", chương trình "Âm nhạc cuối tuần" ngày 4/10 tại Nhà Bát Giác sẽ mở ra một cuộc gặp gỡ thú vị giữa âm nhạc Việt Nam và thế giới. Trong không gian văn hóa bên hồ Gươm, những thanh âm ấy tiếp tục góp phần làm nên một Hà Nội giàu sức sống, nơi di sản, nghệ thuật và đời sống đương đại cùng hiện diện tự nhiên trong nhịp sống của người dân và du khách.
  • Thủ đô Hà Nội vinh dự được trao 2 “Giải Oscar của ngành Du lịch”
    Thành phố Hà Nội vừa được vinh danh tại Lễ trao Giải thưởng Du lịch thế giới (World Travel Awards) khu vực châu Á, châu Đại Dương và Ấn Độ Dương tại Maldives vào ngày 27/9/2026.
  • Hà Nội khẳng định quyết tâm, tiên phong đưa Ngày Văn hóa Việt Nam thành ngày hội của Nhân dân
    Thực hiện Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, sáng 3/10 tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, TP Hà Nội), UBND thành phố Hà Nội tổ chức Lễ phát động hưởng ứng “Ngày Văn hóa Việt Nam tại Hà Nội năm 2026” với thông điệp “Thăng Long - Hà Nội, ngàn năm văn hiến - Muôn sắc Việt Nam”.
  • Lan tỏa văn hóa Việt Nam trong đêm giao lưu nghệ thuật IOAA 2026
    Tối 2/10, Chương trình Giao lưu nghệ thuật trong khuôn khổ Kỳ thi Olympic Thiên văn và Vật lý thiên văn Quốc tế lần thứ XIX (IOAA 2026) được tổ chức tại Đại học Phenikaa.
  • Nhà thơ Bằng Việt nhận Giải thưởng Lớn tại lễ trao giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội năm 2026
    Kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), chiều 2/10, tại Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Lễ trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 19 năm 2026 đã diễn ra, tôn vinh những cá nhân, tác phẩm, ý tưởng và việc làm có giá trị, thể hiện tình yêu sâu sắc với Thủ đô.
Nguyễn Trực – nhà khoa bảng “lưỡng quốc trạng nguyên”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO