Văn hóa – Di sản

Nguyễn Thượng Hiền – nhà chí sĩ, nhà thơ

Hà Thanh Vân 16/11/2023 15:04

Nguyễn Thượng Hiền tự Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn, Long Sơn, Thiếu Mai Sơn Nhân, Giao Chỉ Khách, Bão Nhiệt, Đỉnh Thần, tục gọi ông Đốc Nam (vì từng làm Đốc học Nam Định). Sinh năm 1868 trong một gia đình Nho học tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội). Ông là con rể quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết. Thân phụ của ông là Nguyễn Thượng Phiên, đậu Hoàng giáp khoa Nhã sĩ niên hiệu Tự Đức thứ 18 (1865), giữ chức Tham tri Bộ công, rồi Thượng thư Bộ Công niên hiệu Thành Thái (1889).

nguyen-thuong-hien.jpg
Danh nhân Nguyễn Thượng Hiền.

Thuở nhỏ, Nguyễn Thượng Hiền đã bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học. Tuy nhiên, do thời vận thay đổi, con đường khoa danh của ông lại gặp nhiều khó khăn, trở ngại.

Nguyễn Thượng Hiền đỗ Cử nhân năm Giáp Thân (1884), sau một thời gian đợi chờ, trèo đèo vượt suối đến trường thi Thanh Hóa. Năm Ất Dậu (1885), ông thi Hội đáng lẽ đỗ đầu, nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh đô Huế thất thủ. Năm 1892, ông ra thi Đình, đỗ Hoàng giáp, song do lúc bấy giờ đất nước rơi vào tay giặc Pháp, lại chưa thỏa mãn đậu nhị giáp tiến sĩ nên Nguyễn Thượng Hiền lui về ở ẩn tại núi Nưa (Nga Sơn, Thanh Hoá), không chịu ra làm quan. Ít lâu sau, triều đình thúc ép ông ra nhận chức, hậu bổ làm Toản tu Quốc sử quán, biên soạn quốc sử về triều Nguyễn, rồi thăng Đốc học ở Ninh Bình (1901), Hà Nam (1905), Nam Định (1906). Nhận chức quan nhỏ, “quan bất phiền, dân bất nhiễu”, Nguyễn Thượng Hiền có thì giờ giao thiệp với nhiều nhân sĩ kinh kỳ bấy giờ như Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Nguyên Cẩn, Hoàng Mậu, Trà Quý, Nguyễn Tùng Hiên, một phần vì duyên nợ văn chương, một phần do giữa họ có chung chí hướng, quan niệm trước thời cuộc dâu bể.

Trong thời gian làm việc ở Huế, Nguyễn Thượng Hiền có sự chuyển biến rõ rệt về quan niệm đấu tranh xã hội. Ông đọc nhiều tân thư Trung Quốc, hào hứng tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, đánh giá cao các bài văn có tinh thần cách mạng, có hiểu biết rộng về thời cuộc ở châu Âu và trên thế giới, tiếp xúc, liên lạc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... lo việc cứu nước; chung sức đẩy mạmh phong trào Duy tân, cổ động, giúp đỡ thanh niên xuất dương du học. Ngoài ra ông còn lập hội cứu tế ở Huế và Hà Đông. Năm Đinh Mùi (1907), vua Thành Thái bị Pháp phế truất, Nguyễn Thượng Phiên qua đời. Lấy cớ thọ tang cha, ông đã xin tạm nghỉ việc quan, gấp rút sửa soạn xuất dương tìm đường cứu nước. Cuốn Ký ức lục của Dương Bá Trạc có đoạn chép: “Năm Đinh Mùi, thân sinh ông (Nguyễn Thượng Hiền) mất, ông lập tức lấy cớ định ưu cáo về. Tang sự xong, ông liền ra Hà Nội mưu với tôi việc khứ quốc. Ông có chí ấy đã lâu, chỉ dùng dằng đợi cho tròn đạo hiếu với cha mới thực hiện ý định được. Bấy giờ chúng tôi đóng cửa một hiệu thuốc gọi là Nam Thọ, đón ông ở tạm đấy, làm thầy thuốc để lo sắp đặt rồi đi; đúng ngày tốt khốc cụ thân sinh ông về nhà làm lễ xong là thất tích biệt. Tôi đưa ông ra tới Đông Hưng thế là ông bỏ hết vợ con nhà cửa, cơ đồ phú quý mà dấn thân vào con đường cách mạng”... Để che mắt Pháp, Nguyễn Thượng Hiền đã cải trang Hoa thương, bí mật qua đường duyên hải sang Trung Quốc gặp gỡ những nhà cách mạng Việt Nam nhờ họ giúp thế lực. Ở Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền gặp Lưu Vĩnh Phúc, Tán Thuật... cùng bàn bạc việc nước. Ngoài ra ông còn giúp đỡ được nhiều học sinh Việt Nam bị chính phủ Nhật Bản trục xuất hoặc được tham gia học ở Bắc Kinh, hoặc được cấp học bổng, bổ dụng và cấp giấy tờ để có thể tham gia hoạt động chính trị. Ở Trung Quốc, Nguyễn Thượng Hiền gặp gỡ, sau đó cùng Phan Bội Châu sang Nhật hưởng ứng phong trào Đông Du. Ở Nhật, ông theo chủ trương bạo động của Phan Bội Châu, hoạt động trong Hội Công hiến. Năm 1912, Duy Tân hội cải tổ lại, Việt Nam Quang phục hội được thành lập, Nguyễn Thượng Hiền được bầu làm ủy viên Bộ Bình nghị đại biểu cho Bắc Kỳ. Quyển Phan Bội Châu niên biểu ghi lại sự kiện này như sau: “Tháng 5 năm Mậu Thân (1908), tôi từ Xiêm về, gặp ông ở Quảng Đông, mời ông sang chơi Nhật Bản. Trước hết, tôi gửi điện cho Đồng Văn thư viện dặn đến thượng tuần tháng 9, toàn thể học sinh cử đại biểu đến Hoành Tân đón tiếp để về Đông Kinh mở đại hội hoan nghênh. Nguyễn Thượng Hiền có đọc diễn văn khai hội và làm một bài trường thiên khuyên học sinh, có câu rằng: Cơm vào thịt giặc mới no/ Canh nêm mẫu giặc mới ngon... Ông lại làm Viễn hải quy Hồng (Chim hồng ở bể xa bay về), đều đưa in gửi về nước". Các sáng tác của Nguyễn Thượng Hiền gửi về nước đều được giới trí thức hoan nghênh, đón nhận, tin tưởng, vận động, lôi cuốn được nhiều thanh niên ưu tú đi theo cách mạng ở khắp các tỉnh thuộc cả ba kỳ. Năm 1913, Phan Bội Châu bị quân phiệt Trung Quốc bắt giam, Nguyễn Thượng Hiền được giao đảm trách tổ chức các hoạt động của Hội. Năm 1915, ông được Tổng bộ của Việt Nam Quang phục hội cử sang Thái Lan giao thiệp nhờ hai viên công sứ Đức và Áo đóng tại Băng Cốc trợ giúp, cùng đi có Đặng Tử Kính. Sau Việt Nam Quang phục hội bị đàn áp, ông phải bôn tẩu khắp nơi, cuối cùng do thất chí, giảm sút nghị lực và tiến thoái lưỡng nan, ông đã tựa nương bóng Phật tại chùa Thường Tịch Quan Lan Nhược trên núi Vân Sơn ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Nguyễn Thường Hiền mất ở đó ngày 28 tháng 12 năm 1925. Ông có lời trối dặn lại trước lúc mất rằng: “Khi nào tôi chết hãy đem xác đi thiêu và vất tro xuống sông Tiền Đường”... Nhận được tin ông mất, Phan Bội Châu có đặt bàn thờ tại nhà riêng ở Bến Ngự (Huế). Bài điếu văn của Phan Bội Châu có câu: “Lửa can tĩnh thiêu xương người khí tiết, sống thanh cao mà chết cũng thanh cao; đời văn minh mỏi mắt chốn quê hương, danh viên mãn nhưng chí chưa viên mãn...”, “Gót bôn tẩu trải bao phen nguy hiểm, khi Hương Cảng, khi Quảng Đông, khi Long Châu, khi Băng Cốc, tức tối đất không dụng võ, giọt khấp đình ai nếm máu Thân Tư: Thuốc cứu đời toan mượn ngón văn chương, nào Yên Kinh, nào Tam Tỉnh, nào Ngô Quận, nào Hán Thành, ngậm ngùi trời chẳng chiều người, phương y thuốc khó ra tay Biền Hoãn; Ngoài năm chục thân già lận đận vóc hạc mình mai; Hai mươi năm hồn mộng đi về sông Lô núi Tản...”.

Nguyễn Thượng Hiền là một nhà cách mạng yêu nước, thiên về khuynh hướng dẫn chủ, cổ vũ duy tân, từ bỏ lập trường quân chủ, quan điểm Nho giáo lỗi thời. Những hoạt động nhiệt thành của ông trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Đông du, Việt Nam Quang phục hội... có đóng góp tích cực cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX.

Nguyễn Thượng Hiền còn là một nhà văn hóa lớn, một thi sĩ tài hoa nổi tiếng trong giới sĩ phu đương thời. Ông đã để lại một sự nghiệp văn học đa dạng, gồm hơn 600 bài thơ, văn bằng chữ Hán, chữ Nôm, sáng tác trong khoảng 30 năm, từ 1885 đến 1918. Sáng tác thơ văn ở Nguyễn Thượng Hiền chủ yếu nhằm vận động chính trị, cổ vũ đấu tranh, phục vụ công cuộc cứu nước.

Nam chi tập là tập thơ văn đáng kể nhất của Nguyễn Thượng Hiền, chia làm ba quyển. Quyển thượng gồm những bài thơ ông làm khi chưa ra nước ngoài. Quyển trung gồm những bài thơ được sáng tác trong giai đoạn 1907 - 1919. Quyển hạ gồm những bài văn xuôi kêu gọi cứu nước, duy tân, thuật chuyện một số nhà ái quốc đương thời. Nam chi tập được xuất bản tại Trung Quốc năm 1925, do Chương Bính Lân viết lời tựa. Cuốn thơ văn này có giá trị lịch sử, văn chương đặc sắc. Có thể tìm thấy ở đó hiện thực đất nước cùng diễn biến tâm tư tình cảm chân thành của tác giả - tâm hồn thi sĩ, lời lẽ thiết tha, thúc giục; ý chí chiến đấu cao, lời lẽ chặt chẽ, hùng hồn; tập trung tố cáo tội ác của bè lũ thực dân, lời lẽ đanh thép, gay gắt; miêu tả nỗi cơ cực của dân tộc, nhân dân, lời lẽ buồn da diết, thấm nỗi tủi hổ. Nam chi tập bộc lộ lòng yêu nước sâu sắc, ý thức trách nhiệm thường trực và lòng căm thù giặc của Nguyễn Thượng Hiền. Các bài Ký Long Thành chư hữu, Tức sự, Long Thành thu nhật, Tống vân phong đạo nhân bắc du, Long Biên tây quách tản bộ hữu cảm... cho thấy con người và vùng đất Hà thành giữ một vị trí quan trọng trong thơ ông. Phan Bội Châu nhận xét thơ ông: “Kiểu theo Thịnh Đường, văn khuôn Tiền Hán”.

Nguyễn Thượng Hiền cũng chân thành trong các trang truyện ký lịch sử. Ông dùng những câu văn giản dị phác họa vẻ đẹp cao cả của các nhân vật lịch sử Tăng Bạt Hổ, Phạm Hồng Thái, Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Cao, Lê Tăng Trai, Nguyễn Thận Sinh, Tôn Thất Đạm... Văn Nguyễn Thượng Hiền toát lên chí khí quyết tâm của phái cách mạng bạo động. Chính ông cũng đại diện cho mẫu hình tư tưởng tiến bộ của sĩ phu Bắc Kỳ ngay sau Phan Bội Châu.

Ngoài Nam chi tập, Nguyễn Thượng Hiền còn có Viễn hải quy Hồng, Hát Đông thư dị; thơ điếu, tiễn biệt Hoàng Hoa Cương, Hồ Hán Dân, Hoàng Hưng; thư gửi Nguyễn Lộ Trạch; câu đối chữ Hán; thơ, phú Nôm (Bài phú cải lương, Thuyết hợp quần doanh sinh, Chơi Sài Sơn...).

Trong nền văn chương yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Nguyễn Thượng Hiền đã có một địa vị xứng đáng. Thơ văn Nguyễn Thượng Hiền cả chữ Nôm lẫn chữ Hán đều chứa đựng tình cảm thấm thía, tư tưởng sâu sắc, với nhiều giằng xé dằn vặt. Ban đầu tư tưởng, tình cảm của ông phát triển theo hướng tiêu cực, nửa muốn thoát ly trần tục, nửa vẫn nặng một mối sầu mơ hồ do chưa tìm thấy đường đi và chịu ảnh hưởng của đạo Lão, đạo Phật:

Hiển khởi văn oanh hoán,

Xuân hàn tọa thảo đường.

Tình hà cách thủy đạm,

Mai liễu nhật song hương.

Bạch nhật thôi nhân sự,

Thanh sơn khuyến khách trường.

Dạ lai hương quốc mộng,

Thiên mẫu tận canh tang.

(Sơn phòng xuân văn)

(Sớm mai dậy nghe chim oanh hót,

Xuân lạnh ngồi trong mái nhà tranh.

Cách mặt nước, Ngân hà ánh nhạt,

Vào cửa sổ, mai liễu đưa mùi thơm.

Mặt trời giục việc người đời,

Non xanh khuyên khách uống rượu.

Đêm mộng thấy làng nước,

Ngàn mẫu đều cấy lúa, trồng dâu)

Đó là chân dung Nguyễn Thượng Hiền trong thơ, một Nguyễn Thượng Hiền bình lặng, gắn bó, hòa làm một với thiên nhiên, cảm thụ thiên nhiên theo tinh thần của Đạo giáo. Càng về sau, do chứng kiến những biến cố đau xót của nước nhà, nếm trải mọi cảnh sống, giao thiệp với Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... ông từ bỏ lối viết đài các ủy mị, ước mơ xa xôi thoát tục, chuyển dần sang văn phong hiện thực, lời lí mạnh mẽ, cương quyết, tràn đầy nhiệt huyết cách mạng. Nguyễn Thượng Hiền là nhà Nho trung nghĩa, đồng thời cũng là nhà Nho ẩn dật, một nhà thơ yêu nước lưu vong. Ông đem cả cuộc đời cống hiến cho Tổ quốc, dùng thơ văn để cổ động cứu nước và duy tân. Cái nhìn mới mẻ, tấm lòng yêu nước, thương dân của ông đã có tác dụng kích thích lòng căm thù thực dân đế quốc, khơi gợi những tình cảm dân tộc sâu sắc ở người đọc./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Lai Xá – Một địa chỉ du lịch văn hóa – lịch sử hấp hẫn
    Lai Xá là một làng cổ ngoại vi kinh thành Thăng Long. Làng Lai Xá nằm cạnh con đường quốc lộ 23. Đến năm sau đổi mới, dân làng Lai Xá, một số gia đình di chuyển sang xây dựng hai bên đường quốc lộ 23 trở thành phố Lai Xá. Như vậy Lai Xá vừa là làng vừa là phố, ta quen gọi là Phố làng Lai Xá hiện nay.
  • Phường Hai Bà Trưng: Công bố các quyết định sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập
    Trong không khí khẩn trương, phấn khởi chuẩn bị cho năm học mới 2026 - 2027, Đảng ủy - UBND phường Hai Bà Trưng tổ chức Hội nghị công bố và trao các quyết định sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập; thành lập Đảng bộ các trường học trực thuộc Đảng ủy phường và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục trên địa bàn phường.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính.
  • Chè lam Thạch Xá - thức quà quê dân dã của xứ Đoài
    Nhắc đến ẩm thực xứ Đoài, nhiều người nhớ ngay đến chè lam, đặc sản thơm dẻo của làng Thạch Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tây Phương, TP Hà Nội). Trải qua thời gian, chè lam Thạch Xá vẫn giữ nguyên hương vị truyền thống, trở thành thức quà quen thuộc với người dân và du khách gần xa.
  • Từ cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026, Hà Nội gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trọng điểm
    Tại kỳ họp thứ 6 diễn ra ngày 10/8, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • “Bến sông Trăng” giành giải Nhất thiết kế cầu Cồn Hến, kiến trúc mang đậm bản sắc Huế
    “Bến sông Trăng” với ý tưởng khai thác hình ảnh thơ mộng của sông Hương, ánh trăng, thuyền và hoa đăng tạo nên chuỗi biểu tượng kiến trúc mang đậm bản sắc Huế đạt giải Nhất thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến.
  • Làng nghề hơn 600 năm tuổi, lưu giữ sản phẩm mây tre đan truyền thống ở Cố đô Huế thu hút du khách
    Không chỉ đa dạng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà làng nghề mây tre đan Bao La (TP Huế) đã tìm ra hướng mới là hình thành địa chỉ tham quan trải nghiệm sản phẩm truyền thống.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Nguyễn Thượng Hiền – nhà chí sĩ, nhà thơ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO