Văn hóa – Di sản

Lê Đại – nhà cách mạng duy tân, nhà thơ yêu nước

Nguyễn Hữu Sơn 15/11/2023 15:57

Lê Đại (1875-1951), tự Siêu Tùng, hiệu Từ Long; sinh tại làng Thịnh Hào, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Hàng Bột, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội) là nhà chí sĩ yêu nước và là nhà thơ tiêu biểu giai đoạn đầu thế kỷ XX. Cha ông không đỗ đạt cao, chỉ đỗ tú tài hai lần nên thường được gọi là Tú Kép Thịnh Hào. Thuở nhỏ, ông từng học với nho sinh Vũ Phạm Hàm (sau này đỗ Thám hoa). Lê Đại thông minh, cũng đỗ đầu xứ nhưng thi Hương mấy lần đều không đỗ.

Năm 1906, Lê Đại gia nhập Hội Duy tân và đi theo phong trào Đông du. Năm 1907, nhận lời mời của Lương Văn Can, ông tham gia sáng lập trường Đông Kinh nghĩa thục và trực tiếp hoạt động trong Ban Tu thư của trường. Sau khi trường bị đóng cửa, ông vẫn tiếp tục dạy riêng một vài lớp học tại hiệu Đồng Lợi Tế ở phố Hàng Bồ (nay thuộc quận Hoàn Kiếm - Hà Nội).

Năm 1908, vì liên quan đến vụ Hà thành đầu độc, Lê Đại cùng các ông Vũ Hoành, Nguyễn Quyền bị nhà cầm quyền thực dân Pháp kết án chung thân và đày ra Côn Đảo. Bản thân Lê Đại bị kết án “tòng phạm về mặt tinh thần đối với sự kiện lớn đó”. Giữa chốn lao tù, nhà chí sĩ yêu nước tự tin tuyên bố: “Giam cũng vậy mà đày đâu cũng vậy, đợi đến lúc xoay nên thời thế. Này xem: miệng như tép, mép như rồng, tiếng như cồng, mắt như đuốc, xốc nổi giang sơn một gánh, làm cho xong việc, đi về ta hỏi bạn non xanh!”... Trải qua 17 năm ở chốn lao tù, đến 1925 Lê Đại mới được trả tự do. Ông trở lại Hà Nội, mở cửa hiệu chuyên viết thuê câu đối, phúng, trướng dưới bút hiệu Từ Long.

Năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ, Lê Đại cùng gia đình tản cư về vùng Sơn Tây cho đến cuối năm 1947 mới trở về Hà Nội. Ông lại ngồi viết thuê, làm thơ và cộng tác với Ban Văn chương của tổ chức Việt Nam Văn hóa hiệp hội.

Lê Đại mất ngày 16 tháng 11 năm 1951 tại Hà Nội, hưởng thọ 76 tuổi.

le-dai.png

Lê Đại từng biên soạn nhiều sách dùng làm tài liệu giảng dạy và tuyên truyền, chẳng hạn: Quốc văn độc bản (Sách học của quốc văn), Nam quốc giai sự (Việc hay nước Nam), Quốc văn giáo khoa thư (Sách giáo khoa quốc văn), Luân lý giáo khoa thư (Sách giáo khoa luân lý), Từ Long Hán văn thi (2 tập), Long Liên (6 tập)... Ngoài ra, ông dịch sách báo chữ Hán ra tiếng Việt, trong đó có bản dịch Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu theo thể thơ song thất lục bát. Tác phẩm đã được trường Đông Kinh nghĩa thục in và phổ biến rộng rãi trong toàn quốc. Về văn bản, Huỳnh Thúc Kháng từng tuyển chọn và giới thiệu một số bài thơ của Lê Đại in vào tập Thi tù tùng thoại (Nhà in Tiếng dân, Hà Nội, 1939)... Sau này, Chương Thâu và Tôn Long tập hợp khoảng 100 tác phẩm và giới thiệu trong sách Lê Đại – con người và thơ văn (2001).

Trong những năm đầu thế kỷ XX, Lê Đại là một trong những người tham gia sáng lập và hoạt động tích cực của Đông Kinh nghĩa thục. Theo khảo cứu của nhà nghiên cứu Chương Thâu: “Ở trường (nghĩa thục) này, cụ được phân công chuyên trách trước tác phiên dịch văn thơ, đồng thời tham gia giảng dạy và bình văn, diễn thuyết nữa. Đặc biệt, cụ rất có tài sáng tác thơ ca Nôm và là người đã góp phần hết sức quan trọng, biến tác phẩm Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu thành một áng thơ Nôm, một bài ca yêu nước bất hủ. Bản dịch Nôm theo thể song thất lục bát từ nguyên văn bản chữ Hán của cụ Phan từ Nhật Bản gửi về, với lời dịch thơ trau chuốt, cảm khái lâm ly, có sức lay động lòng người, khích động sâu sắc tư tưởng căm thù giặc và cổ vũ ý chí đấu tranh cách mạng của đông đảo quần chúng nhân dân. Bản dịch Hải ngoại huyết thư đầu tiên phổ biến tại Đông Kinh nghĩa thục và rất nhanh chóng được truyền bá rộng rãi khắp mọi nơi. Chính Phan Bội Châu cũng rất ngợi ca và cảm ơn dịch giả đã có công lớn làm cho Hải ngoại huyết thư trường tồn với dân tộc. Vì vậy mà một trong những “tội trạng” để toà án thực dân “gia hình” đối với Lê Đại cũng là do bản dịch nổi tiếng này”...

Lê Đại sáng tác phần lớn bằng tiếng Việt, một số bài chữ Hán và theo nhiều thể tài, thể loại (thơ ca chữ Nôm, câu đối Nôm, thơ chữ Hán, thơ ca dịch, văn xuôi, du ký, nghị luận, văn tế...). Nội dung chủ yếu thuộc dòng xướng họa, cảm tác, đề vịnh, tiễn tặng, nối dài trong nhiều khoảng thời gian khác nhau.

Vốn là con người sống có bản lĩnh, chí khí, ngay trong hoàn cảnh bị lưu đày ở Côn Đảo, thơ Lê Đại vẫn cất lên tiếng nói tự tin, tự tại. Một mặt, nhà thơ chiến sĩ trăn trở trước vận mệnh đất nước, nhập thân và châm biếm những kẻ mũ cao áo dài chạy theo hư danh:

Trông ra non nước nghĩ buồn tênh,

Ngoảnh lại mày râu, ngắm lại mình.

Cứu nước lấy gì điều thực sự,

Lụy người đeo mãi cái hư danh...

Song trước sau Lê Đại vẫn thể hiện niềm tin vào truyền thống và tương lai dân tộc, kích thích ý thức trách nhiệm và tinh thần đấu tranh giành độc lập của mọi người dân đất Việt:

Con nhà Nam Việt làm sao tuyệt,

Cụ tổ Hồng Bàng chửa hết thương.

Nói đến cớ sao hờ hững hững,

Non sông này há của ai riêng?

Nhìn chung, đó là lối thơ hiển ngôn, tỏ chí, trực diện bộc lộ cảm xúc qua từng cảnh ngộ, sự kiện, hành động cụ thể. Giọng thơ phù hợp với tiếng nói thời đại, với kiểu thơ của các chí sĩ yêu nước và cách mạng. Trong số đó, nhiều bài thơ có tiếng vang, trở thành thước đo giá trị tinh thần dân tộc ở một thời kỳ lịch sử (Mới vào ngục khẩu chiếm, Cảnh Hỏa Lò, Mới ra đảo, Ở đảo Côn Lôn cảm tác, Tiễn hai cụ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng từ Côn Đảo ra về, Tặng cụ Phan Bội Châu nhân vào Huế thăm cụ tại Bến Ngự...).

Từ cuối năm 1925, Lê Đại được trả lại tự do, trở về đất liền. Tuy nhiên, thời thế nay đã đổi khác, bắt đầu định hình một thế hệ thanh niên cách mạng kiểu mới. Do tuổi đã xế chiều, từ đây Lê Đại chấp nhận cuộc sống “an bần tự lạc”, vui với chữ nghĩa và gián tiếp hô hào mọi người tham dự cuộc đấu tranh cứu nước. Vào những năm đã cao tuổi, nhà cách mạng Lê Đại vẫn tỏ rõ niềm tin vào phong hóa nước nhà:

Bể nọ tuôn trào tuy đổi vận,

Nước ta văn hoá vẫn thành phong.

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nhà thơ Lê Đại viết đồng dao chung vui cái tết của các cháu thiếu nhi trong ngày độc lập:

Ông giẳng ông giăng,

Xuống chơi cùng tôi.

Tết Trung thu này,

Vui thật là vui!

Có cờ độc lập,

Treo khắp mọi nơi.

Ông vận dụng những hình ảnh tượng trưng, những lối so sánh, ví von ngộ nghĩnh, tươi vui ngợi ca cuộc sống mới:

Sáng rực góc trời,

Có ghế Dân quyền,

Mời chị em ngồi.

Có chè Dân chủ,

Mời các cụ xơi...

Tổng kết lại cuộc đời mình, nhà thơ yêu nước và cách mạng Lê Đại có đôi câu đối xuất sắc:

Suốt một đời không được điều gì, nhưng nghĩ cũng chẳng hỏng điều gì, lòng tự nhủ lòng, đối ảnh thường soi gương bạch phát;

Khắp trong nước đều biết mình cả, mà thực chưa ai biết mình cả, mặt cùng gặp mặt, tri tâm hoạ có bạn hoàng tuyền!

Trong bài thơ Tự sự viết trước ngày qua đời, nhà thơ không nói gì về mình mà đặt cược lòng tin vào tương lai nhân loại, tin rằng đất nước sẽ đến ngày hội nhập trong một “thế giới đại đồng”, nơi ấy không có chiến tranh, không phân chia giàu nghèo, chỉ còn có niềm vui và hạnh phúc:

Ngẫm trong kim cổ mấy nghìn niên,

Trời đất xoay vần lẽ tự nhiên.

Hoàng, đế, quân, vương rồi bá chủng,

Thần, quân, dân, mãi phải nhân quyền.

Tàu bay riêng để người du lịch,

Súng đạn thu cho thợ đúc rèn.

Nhân loại thương nhau cùng một giống,

Người trong thế giới rặt thần tiên.

Suốt một đời dấn thân, nhập cuộc với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Lê Đại xứng danh là con người của một thời đại. Sinh ra, lớn lên ở Thăng Long và cuối đời Lê Đại lại trở về Thăng Long. Ông trở thành chứng nhân và đặt dấu chấm cho một giai đoạn tìm đường cứu nước và một thời kỳ lịch sử bi hùng của dân tộc./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Xã Ô Diên (Hà Nội): Xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí
    Sáng 23/2, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ xã Ô Diên đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí. Tham dự buổi lễ có Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Phạm Hồng Hoàn; Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Ô Diên Nguyễn Thị Bảy; Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND xã Bùi Thị Thu Hằng.
  • Khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn tri ân Tản Viên Sơn Thánh
    Sáng 23/2 (mùng 7 tháng Giêng năm Bính Ngọ 2026), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Đoài Phương (TP. Hà Nội) long trọng tổ chức khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn, đình Sơn Trung và đình Sơn Đông.
  • Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng
    Sự kiện Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng lâu nay vẫn là hai mảng đề tài đặt ra những câu hỏi không dễ giải đáp. Chẳng hạn, giặc Ân là có thật hay chỉ là truyền thuyết? Nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn cho rằng việc phát hiện một loại nha chương bằng ngọc khuê/đá quý trong quá trình khai quật tại di chỉ văn hóa Phùng Nguyên ở Việt Nam (khoảng thế kỷ XV trước Công nguyên) giống hệt loại nha chương đã tìm được trong một số di chỉ có niên đại Ân - Thượng ở Trung Quốc cho thấy chắc chắn giặc Ân đến từ phương Bắc.
  • Xã Đa Phúc long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà
    Trong không khí linh thiêng, rộn ràng của mùa lễ hội đầu xuân Bính Ngọ 2026, ngày 20/2 (mùng 4 tháng Giêng năm Bính Ngọ) thôn Xuân Lai, xã Đa Phúc đã long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà.
  • Quần thể di tích Thổ Hà và Nhà ngục Kon Tum được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 19) đối với 2 di tích.
  • Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
    Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Ngày thơ Việt Nam lần thứ 24: Sự kết hợp giữa thi ca và không gian biển cả
    Ngày thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026 với chủ đề “Trước biển lớn” sẽ diễn ra vào ngày 3/3/2026 (ngày Rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ) tại phường Bãi Cháy và phường Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Sự kiện do Hội Nhà văn Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ninh đồng tổ chức.
  • Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW
    Sáng 25/2/2026, tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam của Bộ Chính trị. Tổng Bí thư Tô Lâm đã dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị. Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư.
  • Có một xóm văn Thành Công - chuyện bây giờ mới kể
    Phải nói ngay để bạn đọc không phân vân về cách nói/ viết hay gọi thân mật “Xóm văn Thành Công”. Số là, người viết bài báo này từng có một giai đoạn dài (1983-2007) sống tại phòng 303, nhà E9, khu tập thể Thành Công, quận Ba Đình (cũ), Hà Nội. Khu tập thể này hình thành cuối những năm 70, đầu những năm 80 thế kỷ XX. Nó thuộc địa giới làng Thành Công cổ xưa, nơi có đình làng Thành Công - di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố. Chuyện “Xóm văn Thành Công” gắn với quy luật “đất lành chim đậu”.
  • [Video] Một số quy định về cử tri và danh sách cử tri trong bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031
    Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra vào ngày 15/3/2026. Theo quy định của pháp luật, công dân từ đủ 18 tuổi tính đến ngày bầu cử 15/3/ 2026, tức là có ngày sinh từ ngày 15/3/2008 trở về trước thì được xác định là đủ tuổi để được ghi vào danh sách cử tri để bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
  • Hà Nội tập trung triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị
    Sáng 25/2, ngay sau khi kết thúc Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về "Phát triển kinh tế nhà nước" và Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về "Phát triển văn hóa Việt Nam", Thành ủy Hà Nội đã tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai Chương trình hành động của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thực hiện các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị.
Đừng bỏ lỡ
Lê Đại – nhà cách mạng duy tân, nhà thơ yêu nước
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO