Văn hóa – Di sản

Cao Bá Quát – thi thần và tiếng thơ phản kháng vĩ đại

Vũ Khiêu 13/11/2023 07:50

Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiện. Ông sinh năm Kỷ Dậu (1809) tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội).

cao-ba-quat.jpg
Chân dung Danh nhân Cao Bá Quát.

Làng ông cách Hà Nội 17 cây số về phía đông, trước đây vốn là nơi làm ăn buôn bán phát đạt và học hành thi cử dễ dàng. Từ xưa, ở đây đã có nhiều người nổi tiếng về thơ văn và khoa hoạn.

Ông thân sinh ra Cao Bá Quát không đỗ đạt gì, nhưng là một nhà Nho danh tiếng. Ông hướng con cái vào con đường khoa cử và hy vọng rất nhiều ở các con. Ông chọn hai tên trong tám kẻ sĩ đời Chu đặt tên cho hai đứa con sinh đôi của mình là Bá Đạt và Bá Quát, ý muốn cho hai con sẽ trở thành những bậc hiền thần. Cao Bá Quát đặt tên cho mình là Chu Thần cũng ngụ ý đó.

Là một cậu bé có cái tài năng và đức hạnh, Cao Bá Quát đã lớn lên trong mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè, quê hương, nuôi dưỡng những tình cảm thắm thiết đối với nhân dân và đất nước.

Khác với một số giai thoại coi ông như một đứa trẻ ngỗ ngược, Cao Bá Quát qua văn thơ, đã tỏ ra một người gìn giữ phẩm hạnh, đối xử đúng mực với cha mẹ, anh em, làng xóm.

Mỗi lần xa nhà, không lúc nào ông không nhớ tới gia đình, bè bạn. Lời thơ thắm thiết viết cho anh, nỗi kinh hoàng khi nghe tin chị chết, lòng thương cha mẹ già không người chăm nom, khiến cho ta khó tin rằng ông là người luôn kèn cựa với anh, coi thường bố mẹ như nhiều người đã nghĩ về ông.

Qua thơ văn của Cao, chúng ta thấy ông có một cuộc sống trong sạch, một thái độ đúng đắn về tình yêu, một tấm lòng đằm thắm với vợ con.

Tài liệu không cho biết vợ ông như thế nào, nhưng mỗi lần nói với vợ, ông đều nói với một giọng rất trìu mến.

Sống xa nhà, có nhận được tấm áo bông của vợ gửi cho, ông cảm động trước tình yêu thương của vợ trong từng mũi chỉ đường kim:

Nhất giam đăng hạ vạn hàng đề

Thử dạ tàn hồn nhiễu tú khuê.

(Tiếp nội thư tính ký hàn bút điều sổ tự)

(Một phong thư đọc dưới ánh đèn, muôn hàng lệ chảy,

Đêm nay mảnh hồn tàn trở về quanh quẩn chốn buồng khuê)

(Tiếp thư của vợ gửi áo rét, bút và vài thứ)

Ông thương vợ sống trong cảnh nghèo khổ và tưởng tượng lúc trở về bước qua cửa vào nhà, có lẽ chính là lúc vợ đi giã gạo thuê cho hàng xóm. Trong viết hai câu kết trong bài thơ trên:

Lai thất tha thời hảo qui khứ,

Nhập môn tri hữu nhẫm thúng thê.

(Rồi mai đây khi được trở về nơi nhà Lai,

Bước vào cửa biết rằng có vợ hiền từng giã gạo mướn)

Cao Bá Quát rất yêu quý bạn bè và “một ngày trăm lần nhớ bạn”. Ông nhớ Miên Thẩm, ví mình như Mao Toại đối với Bình Nguyên Quân. Ông nhớ Phương Đình, có đêm tưởng bạn đang ngồi một mình ngâm thơ trong một canh gác lạnh lẽo. Ông nhớ Tuần Phủ, người bạn đã tin ông, hiểu ông, nhìn ông bằng một cặp mắt xanh, nên ông cũng đáp lại bằng “tấm lòng son không bao giờ phai lạt”.

Cao Bá Quát có một tấm lòng yêu quý đặc biệt đối với quê hương. Cao thường kể lại những sự gặp gỡ thắm thiết đậm đà với bà con trong thôn xóm. Cao quan tâm tới cảnh ngộ của nhân dân, nhất là của những người thiếu thốn, đói rét, người đi ở bị đòn, người hàng xóm mất con.

Cao Bá Quát say mê những cảnh đẹp của đất nước, có thể nói hầu hết những danh lam thắng cảnh của miền Bắc và miền Trung ông đã tới thăm và đều có thơ ngâm vịnh. Đối với ông, thiên nhiên là niềm tự hào của đất nước. Qua Ninh Bình ông mải mê nhìn:

Giang tự mỹ nhân thanh luyện đái,

Sơn như túy khách bích loa bội.

(Ninh Bình đạo trung)

Vũ Mộng Hùng dịch thơ :

Sông tựa giải là cô gái đẹp,

Núi như chén ốc khách làng say...

(Dọc đường Ninh Bình)

Thiên nhiên đẹp đã quyến rũ ông, kích thích ông phải làm gì để thiên nhiên đẹp hơn nữa: ông muốn trồng lên núi một rừng mai, để sau này mỗi người được thưởng thức bức tranh tuyệt đẹp của núi hoa mai. Nói đến động Thái Nguyên, ông muốn đem nó đặt giữa hồ Tây cho thêm rực rỡ. Ông rất yêu quý Hồ Tây và phát hiện ở hồ Tây nhiều nét đặc sắc. Đối với ông, hồ Tây không chỉ là phong cảnh. Ông yêu quý nó như yêu quý một con người. Hồ Tây chính là Tây Thi của ông (Tây Hồ chân cá thị Tây Thi).

Càng lớn, càng đi sâu vào cuộc đời thì thiên nhiên càng gắn bó với ông. Thiên nhiên trở thành người bạn tâm tình của ông, cùng ông suy nghĩ cho hoàn cảnh cô đơn, thất vọng.

Cao Bá Quát đã sớm tỏ ra một thanh niên vừa có đức hạnh, vừa có tài năng. Hai anh em ông nổi tiếng là thông minh, văn hay chữ tốt. Thơ văn ông được truyền đi rộng rãi. Ông chơi thân với Nguyễn Văn Siêu và hai người được đương thời đánh giá cao về mặt văn chương. Năm 23 tuổi, ông đỗ Cử nhân thứ nhì, nhưng Bộ Lễ xét lại, xếp ông xuống cuối bảng. Lạc quan và tin tưởng, ông tiếp tục cứ mỗi khoa lại vào kinh để thi Tiến sĩ nhưng không đỗ.

Đã từ lâu ông tưởng rằng có thể thông qua con đường khoa cử, giành lấy một địa vị xã hội, rồi từ đó cải thiện đời sống cho nhân dân.

Cuộc đời là bài học hiệu nghiệm nhất để từng bước thức tỉnh chàng thanh niên họ Cao đầy ảo tưởng. Dưới chế độ phong kiến, không phải cứ có tài, có chí là thành công.

Bao nhiêu lần đi thi, đầu đề nào cũng thấy dễ, bài nào cũng thấy hay, nhưng hỏng vẫn hoàn hỏng.

Uống rượu ở nhà người bạn thân là Tuần Phủ, ông làm bài thơ thổ lộ tâm tình: ở đời có người chí lớn như chim hồng hạc bay tít trên mây xanh. Có người thanh cao ở ẩn như chim hạc đen ngủ một mình trên sườn núi. Còn đáng khinh là loại người như những con hoàng điểu chỉ tìm chỗ kiếm ăn. Ta không phải là những con hoàng điểu ấy!

Nguy cơ ngoại xâm đã từ lâu đe dọa đất nước. Tây Ban Nha, Hà Lan trước đây và Anh, Pháp bây giờ, đang liên tiếp cho tầu buôn tới các cửa bể Đà Nẵng, Hà Tiên, Quảng Nam... Chính trong thời kỳ Cao Bá Quát ở Bộ Lễ, một tầu Pháp đã đến Trà Sơn, còn tàu Anh thì lăm le ngoài biển. Cao không thể không lo lắng cho Tổ quốc mình. Có đêm gió to, sóng dữ ngoài cửa Thuận An, nằm không ngủ, ông tưởng đến hùng khí của Chu Du từ ngàn thu trước như vẫn còn hừng hực bốc lên, muốn đánh tan những chiếc tàu đang lăm le ngoài cửa biển.

Về Bộ Lễ ít lâu, ông được cử làm sơ khảo trường Thừa Thiên. Trong khi chấm thi, ông thấy có những quyển khá, nhưng lại có những chỗ phạm vào tên huý của nhà vua. Đây chính là cảnh ngộ của những người oan uổng như ông ngày trước. Triều đình này thực ra không quý trọng nhân tài, chỉ chú trọng đến những cái vụn vặt. Ái ngại cho những người có tài mà phạm sơ suất nhỏ, ông đã cùng người bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn chữa những quyển ấy cho khỏi bị hỏng. Việc bị lộ, ông bị viên giám sát là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc. Khi án đưa lên, thì vua nhà Nguyễn là Triệu Trị, trước những lời buộc tội vô lý đối với ông, đã phải giảm cho ông từ tội trảm quyết xuống tội giảo giam hậu.

Đây là bước ngoặt lớn nhất trong đời Cao Bá Quát. Cao đã từ ngục thất này đến ngục thất khác, bị tra tấn và chịu nhục hình man rợ nhất, sống những ngày buồn bực, đau khổ, uất ức, căm thù. Trong trường hợp đó, có những người mất hết tinh thần, gục đầu đợi tội hoặc chờ chết. Nhưng ở Cao những ngày trong tù là những ngày sống mãnh liệt. Sức mạnh tinh thần đó vẫn tràn ngập trong những bài thơ làm trong cảnh tù đầy của ông.

Cao tự nhủ mình:

Nội chí nhiếp ngoại khí,

Bất thụ bi lự công.

(Chính nguyệt nhị thập nhất nhật di tống

Thừa Thiên ngục tỏa cấm)

(Phải đem chí bên trong gìn giữ khí bên ngoài,

Không để cho những lo nghĩ nhỏ nhen kích thích)

(Ngày 21 tháng Giêng, bị giải sang giam ở ngục Thừa Thiên)

Trong bài thơ vịnh cái gông, Cao không thừa nhận mình có tội. Đối với ông, việc chữa bài thi của thí sinh là việc nên làm. Ông muốn chẻ cái gông làm hai, viết vào đó bài Thiện sự ngâm của Nghiêu Phu, mà đại ý là: “Người ta làm việc thiện là vì việc thiện nên làm”. Đối với ông, chống lại những luật lệ thi cử khắc nghiệt của triều đình là làm việc thiện. Ông muốn bắt chước Thái Nguyên Định ngày xưa, khi bị tội viết thư dặn các con rằng: “Ta đi một mình không hổ với bóng, ngủ một mình không thẹn với chân, đừng thấy ta bị tội mà xao xuyến”!

Bị giam được một năm, gặp đúng ngày 9 tháng 9, ông mời các bạn trong tù dự bữa rượu mừng sinh nhật của ông. Ông là người già nhất trong tiệc nhưng lại xưng mình là người trẻ nhất, người mới có một tuổi mà thôi. Ông coi ngày nhà Nguyễn bắt giam ông chính là ngày chấm dứt cuộc đời cũ. Ông tự bắt đầu một kiếp sống hoàn toàn khác. Đây là một kiếp sống không thừa nhận nhà Nguyễn và chế độ thối nát của nó nữa rồi.

Có lúc Cao tự coi mình như Văn Vương bị giam trong ngục Dữu Lý của vua Trụ tàn ác, hoặc như thanh gươm long tuyền nọ vùi sâu dưới nhà ngục ở Phòng Thành mà đêm vẫn toả lên ánh sáng.

Sau khi được định tội, triều đình tạm tha cho Cao Bá Quát và cho đi xuất dương hiệu lực trong phái đoàn do Đào Tri Phú làm trưởng đoàn.

Phái đoàn của ông đi Campuchia và Inđônêxia, mục đích chủ yếu là đem đường bán cho nước ngoài để mua sắm những hàng xa xỉ cho triều đình. Ra nước ngoài, ông thấy đời sống của người Tây phương, lại thấy cảnh người da đen kéo xe cho người da trắng. Ông cũng phần nào nhận thức được sự phát triển của các nước Tây phương và nguy cơ xâm lược của họ. Lòng yêu nước được kích thích, ông càng nhìn rõ hơn sự nhu nhược và bất lực của triều đình, càng tin tưởng ở sức mạnh phản kháng của nhân dân trước nạn ngoại xâm.

Sau thời gian dương trình hiệu lực, ông về tới Đà Nẵng vào mùa hè 1843 và sau đó được gọi về Bộ Lễ rồi bị thải về.

Ông về nhà chuyến này ở tại Thăng Long cùng với vợ con. Trước đây ông vốn ở phố Đình Ngang (nay gần phố Nguyễn Thái Học). Năm ông 24 tuổi vào kinh thi Hội, thì bà Cao ở nhà đã xin phép bố chồng sửa lại một ngôi nhà gần Cửa Bắc về phía đông hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Về đây ở, ông hàng ngày đi dạo ngắm cảnh hồ Tây và cảnh đẹp của đất nước. Cũng trong dịp này, ông thường xướng hoạ với nhóm bạn thơ Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Diệp Xuân Huyên... Thơ ông toát ra một giọng buồn bực, nhớ bạn, thương thân: “Chợt nghĩ đến mình, ruột đau từng khúc/ Nhớ bạn thì mỗi ngày tính đến trăm lần”. Thời gian này ông bị đau ốm nhiều, một năm trời bị bệnh đái ra huyết. Gia đình túng thiếu, có lúc đói không có gạo thổi cơm chiều.

Trong thời gian nhàn rỗi, ông càng có nhiều dịp tiếp xúc với đời sống nhân dân. Những cảnh dân ta túng thiếu đói rét, phải đi ăn xin, bị bắt phu, bắt lính đã khiến ông rất đau xót, ngày đêm nung nấu trong lòng ông những điều suy nghĩ rất day dứt. Làm thế nào để cứu dân cứu nước? Trong 12 bài vịnh cảnh thôn quê, ông đã nêu lên đời sống nghèo khổ vất vả của nhân dân. Ông tả cảnh những người tát nước bụng đói, môi run cầm cập, lưng chỉ khoác một mảnh áo tơi ngắn mà cứ phải luôn tay thoăn thoắt kéo dây gầu.

Khi dân đói rét quá thì vua quan thường tổ chức phát chẩn. Cao đã chứng kiến một buổi phát chẩn và ông đã nói lên cái tâm sự vô cùng buồn bực của mình. Đáng thương nhất là có những người ở những nơi xa nghe tin phát chẩn đã bồng bế con cái đến từ hôm trước. Biết có ai “vẽ được cái cảnh này dâng cho vua xem?”.

Lắm lúc ông tự hỏi: Không biết bọn vua quan có biết tình cảnh này không? Trách nhiệm của họ đáng lẽ phải thông cảm với nhân dân, phải hiểu được nỗi vui buồn của từng người từ trên một nét mi của họ, mà bây giờ họ hoàn toàn thờ ơ trước cảnh sống dở, chết dở của người dân.

Dưới triều Nguyễn, do bị áp bức bóc lột quá đáng, nhân dân ở miền xuôi cũng như miền núi, luôn luôn phải nổi dậy đấu tranh. Các cuộc khởi nghĩa kế tiếp nhau nổ ra không bao giờ tắt. Nhà vua phải tổ chức những cuộc đánh dẹp. Tráng đinh bị bắt vào lính, đẩy vào những nơi lam sơn chướng khí. Nhân dân khởi nghĩa bị chém giết một cách tàn khốc. Trong lúc đó thì bọn con buôn lại nhân dịp đầu cơ và sống phè phỡn.

Có những buổi chiều tối gió lạnh, ông còn xõa tóc đứng mãi trên cầu Trấn Vũ, nghĩ lại thủa còn trẻ, mắt đã thấy bao cảnh thương tâm mà nhìn vào cuộc đời vẫn thấy bế tắc như nhìn vào tấm bia không chữ. Ông tiếc những anh hùng xưa không còn nữa để cứu nước.

Có lúc suốt đêm ông ngồi một mình suy nghĩ về đời sống của nhân dân và trách nhiệm của mình, “Non sông thì thế còn mình thì sao đây?”.

Thái bình vô nhất lược,

Lộc lộc sỉ vi nho.

(Độc dạ)

(Không có lấy một sách lược gì làm cho đời được thái bình,

Thẹn mình là một nhà Nho mà lại tầm thường đến thế!)

(Đêm ngồi một mình)

Có hôm ông ngồi đọc Kinh Thi mà suốt đêm trằn trọc. Ở đời những kẻ bất tài thì được sử dụng, còn người giỏi thì bỏ đi, không khác gì những cây bồ kết kia thì tốt um mà cây lan thì đơn độc không ai biết đến. Tấm lòng u uất ấy, vầng sao lấp lánh trên trời kia như muốn thông cảm với ông cũng suốt đêm chẳng ngủ:

Nhật nhập quần động tức,

Thiên cao dạ minh minh.

Hạ hữu bất miên nhân,

Thượng hữu dục lạc tinh.

(Độc Thi)

(Mặt trời lặn, các tiếng động đều êm bắt,

Trời cao đêm mờ mờ.

Dưới có người không ngủ,

Trên có vì sao muốn rơi)

(Đọc Kinh Thi)

Tình cảnh của đất nước, của nhân dân, của bản thân như thế cuối cùng đã dẫn ông đến những ý nghĩ hành động mới. Tư tưởng muốn thay đổi cái triều đại này đã dần rõ nét ở ông.

Sau bốn năm bị thải về, ông lại nhận được chiếu chỉ triệu vào kinh (1847) và làm việc ở Viện Hàn lâm.

Trong cái không khí thi đua nhau làm thơ của triều đình Tự Đức, Cao cũng có thơ chơi, cũng ca vịnh những cái vụn vặt hàng ngày nhưng nội dung tư tưởng thì khác hẳn bọn họ. Ông ca ngợi tính trong sạch của bông hoa sen, tình chung thuỷ của con chim câu. Vịnh con sáo, ông mỉa mai:

Chỉ vị năng nhân ngữ,

Phiên giao tổn thiệt đoan.

(Vịnh cù dục)

(Chỉ vì muốn nói được tiếng người,

Mà đến nỗi cụt mất đầu lưỡi!)

(Vịnh chim sáo)

Thái độ cương trực không luồn cúi của ông khiến cho vua quan triều Nguyễn không thể nào ưa ông được. Cuối cùng họ đã đày ông đi xa, cho ông làm chức giáo thụ phủ Quốc Oai.

Khi làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai, ông thường tỏ thái độ mỉa mai và khinh ghét đối với chế độ nhà Nguyễn. Người ta thường nói tới thái độ ấy của ông qua câu đối dán nơi dạy học:

- Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái

- Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi

Thời kỳ này, Cao Bá Quát lại một lần nữa, hằng ngày tiếp xúc với đời sống đói khổ của nhân dân, suy nghĩ thêm về những chính sách hà khắc của triều đình, đồng tình với những cuộc khởi nghĩa đã từ lâu không ngớt bùng lên ở các nơi. Quyết tâm đánh đổ triều đình nhà Nguyễn để đem lại một đời sống ấm no cho nhân dân ngày càng trở thành dứt khoát đối với ông.

Giữa năm 1853 (Tự Đức năm thứ 7), ông xin thôi dạy học, lấy cớ về nuôi mẹ già. Năm ấy miền Bắc, vào tháng 6, tháng 7, châu chấu bay mù trời. Lúa má bị chúng cắn sạch. Nạn đói hoành hành, mọi người ta thán.

Cao Bá Quát đứng lên tụ tập nhân dân, bí mật chuẩn bị một cuộc khởi nghĩa tại Hà Nội. Cao đã bị một số phần tử phản bội đi tố giác. Tự Đức sai Nguyễn Quốc Hoan và Lâm Duy Thiết tìm mọi cách bắt cho được Cao.

Cao liên hệ mật thiết với những thổ mục người dân tộc thiểu số ở Tây Bắc là Đinh Công Mỹ và Bạch Công Chấn, mở rộng lực lượng tiến đánh những vùng Hà Nội và Sơn Tây. Dựa vào tinh thần của nhân dân oán ghét triều Nguyễn và còn tưởng nhớ tới nhà Lê, Cao suy tôn một người thuộc dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Cự làm minh chủ, tự mình lãnh chức Quốc sư, dẫn quân đến đánh phủ Ứng Hoà và huyện Thanh Oai. Tháng 12 năm ấy, hai cánh quân của Cao bị thua ở làng Đồng Dương (huyện Thanh Oai, Hà Tây, nay thuộc Hà Nội) và ở làng Quyển Sơn (huyện Kim Bảng, Nam Hà). Nhiều tướng của Cao đã bị bắt, như Nguyễn Văn Tuân, Nguyễn Đình Huấn, Hoàng Văn Nho, Lê Văn Tường...

Dù thất bại, Cao Bá Quát và nghĩa quân vẫn tiếp tục chiến đấu, lại tiến đánh phủ Quốc Oai, sau rút về rừng Vĩnh Tường, đốt cháy thành Tam Dương. Sau đó, Cao Bá Quát rút lui về Mỹ Lương, cùng với Bạch Công Chấn chấn chỉnh đội ngũ, lấy nghĩa binh miền núi bổ sung lực lượng.

Tự Đức phái thêm 500 lính từ Thanh Hoá đến đóng tại Sơn Tây và treo giải thưởng 300 lạng bạc cho người nào giết được Cao. Quân nhà Nguyễn do lãnh binh Sơn Tây là Lê Thuận và quân khởi nghĩa do chính Cao Bá Quát chỉ huy đã giao chiến tại vùng Yên Đơn (thuộc phủ Quốc Oai). Trong lúc giao tranh, Cao Bá Quát đã bị tên Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Quân Cao tan vỡ, 100 người bị chết và 80 người bị bắt sống. Tự Đức hạ lệnh mang đầu của Cao Bá Quát bêu khắp các tỉnh ở Bắc Hà rồi bổ ra ném xuống sông.

Thất bại của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương và cái chết của Cao Bá Quát gây một tiếng vang lớn ở khắp nơi và trong nhiều năm người ta còn xúc động khi nhắc tới Cao Bá Quát. Nhân dân thương tiếc và yêu quý ông, một người có tài năng lỗi lạc, có phẩm chất cao quý, yêu nước, thương dân, nhưng bị chế độ phong kiến vùi dập và huỷ hoại./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Khai quật khảo cổ Nền nhà Pháo binh tại Hoàng thành Thăng Long
    Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương đã ký Quyết định số 51/QĐ-BVHTTDL ngày 10/1/2025 về việc cho phép khai quật khảo cổ Nền nhà Pháo binh tại Hoàng thành Thăng Long.
  • 5 di sản văn hóa phi vật thể mới được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố
    Năm di sản ở Nghệ An, Ninh Bình, Hưng Yên vừa chính thức được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký quyết định công bố trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Lập hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh di sản Múa rối nước và Phở
    Bộ VHTT&DL cho biết, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã giao UBND TP Hà Nội chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT&DL, UBND tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên và thành phố Hải Phòng lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Phở” và “Múa rối nước”, đề nghị ghi danh vào danh sách của UNESCO.
  • Trải nghiệm không gian triển lãm số "Hà Nội rạng rỡ - Ánh sáng và Di sản"
    Tối 26/12, Không gian triển lãm số “Hà Nội rạng rỡ - Ánh sáng và Di sản” chính thức ra mắt công chúng tại Nhà triển lãm 93 Đinh Tiên Hoàng (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội).
  • Nhìn lại di sản họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc
    Nhằm nhìn nhận, đánh giá và gợi mở những cách tiếp cận mới đối với di sản của họa sĩ, nhà thiết kế nội thất Trịnh Hữu Ngọc, sáng 23/12/2025, Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội - Bảo tàng Hà Nội đã tổ chức tọa đàm “Di sản Trịnh Hữu Ngọc - Một khoảng trống trong sử mỹ thuật Việt Nam”. Không chỉ góp phần phác họa chân dung một nghệ sĩ tiêu biểu, tọa đàm còn hướng tới làm rõ di sản tư tưởng thiết kế của Trịnh Hữu Ngọc, từ đó đặt ra những vấn đề rộng hơn về cách tiếp cận, ghi nhận và bảo tồn di sản thiết kế nội thất trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đương đại.
  • Tôn vinh di sản, nghệ nhân và các công trình nghiên cứu tiêu biểu
    Kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất (1975–2025), Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức Triển lãm thành tựu văn hóa, văn nghệ dân gian, kết hợp Lễ mừng thọ hội viên cao tuổi, phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian và trao Giải thưởng Văn nghệ dân gian năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Những ấn phẩm giúp bạn đọc hiểu thêm về những ngày Bác Hồ ở Pác Bó
    Ngày 28/1/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh (khi đó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc) đã vượt qua cột mốc 108 trở về Pác Bó (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Đây là dấu mốc lịch sử đặc biệt, đánh dấu lần đầu tiên Người đặt chân lên mảnh đất quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, mở ra chặng đường trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khởi đầu cho những thắng lợi vĩ đại sau này.
  • Cẩm nang tra cứu đơn vị hành chính Việt Nam sau sắp xếp
    Nhằm cung cấp một cách hệ thống thông tin về các đơn vị hành chính trong cả nước sau sắp xếp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Đơn vị hành chính Việt Nam sau sắp xếp và vận hành chính quyền địa phương hai cấp” do tác giả Nguyễn Thái Bình và Trương Hải Long biên soạn. Ấn phẩm là cẩm nang tra cứu quan trọng, phản ánh trực diện kết quả của cuộc cải cách lớn trong tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.
  • Tái bản bộ sách "Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam"
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật vừa tái bản bộ sách “Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” gồm 5 quyển, do nhóm các học giả Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hồng Phong và Vũ Ngọc Phan biên soạn. Đây là một công trình khoa học có giá trị nền tảng, cung cấp tư liệu tham khảo tin cậy cho độc giả, giới nghiên cứu và những người quan tâm đến lịch sử văn học dân tộc.
  • Cầu truyền hình đặc biệt kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước diễn ra vào tối 28/1
    Nhân kỷ niệm 85 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước (28-1-1941 – 28-1-2026), Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ đạo, Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện cầu truyền hình Hai tay xây dựng một sơn hà tại bốn địa danh lịch sử gồm Cao Bằng, Hà Nội, Nghệ An và TP.HCM.
  • Thông qua đề xuất sửa đổi Luật Thủ đô: Xây chắc nền tảng, bồi đắp động lực để Hà Nội vươn mình mạnh mẽ
    Tại kỳ họp thứ 31 ngày 27/1, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVI đã thông qua Báo cáo đánh giá 1 năm thi hành Luật Thủ đô 2024, đề xuất cơ chế, chính sách sửa đổi Luật Thủ đô nhằm thể chế, pháp luật về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh khu vực và quốc tế, tạo nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”, hiện thực hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội.
Đừng bỏ lỡ
  • Từ mùa Xuân Pác Bó năm 1941 đến khát vọng phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới
    Cách đây 85 năm, ngày 28/01/1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mở ra bước ngoặt lịch sử dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Kỷ niệm sự kiện trọng đại này diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn khởi chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, càng khẳng định giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời làm nổi bật trách nhiệm của Thủ đô Hà Nội trong việc tiên phong, gương mẫu học tập và làm theo lời Bác, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ Thành phố và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới.
  • Khi con hỏi, bố kể chuyện tuổi thơ
    Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Ngày xưa bố thế nào?” của tác giả Nguyễn Quốc Vương. Cuốn sách dày 356 trang ghi lại những câu chuyện dung dị, ấm áp về tuổi thơ của người bố, được kể bằng giọng văn chân thành, gần gũi, giàu sự thấu hiểu.
  • Hà Nội kiến tạo tầm nhìn phát triển 100 năm
    Quy hoạch mới đặt mục tiêu đưa Hà Nội - trung tâm chính trị - hành chính quốc gia - trở thành cực tăng trưởng trung tâm, tạo không gian và dư địa phát triển, hướng tới tăng trưởng 2 con số, tầm nhìn 100 năm và xa hơn, tương xứng Thủ đô của quốc gia thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời lan tỏa, dẫn dắt sự phát triển của Vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng Thủ đô, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.
  • Bộ VHTTDL yêu cầu báo cáo về tình trạng bảo vệ di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ban hành Công văn số 345/BVHTTDL-DSVH gửi UBND các tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng về việc xây dựng Báo cáo quốc gia di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm trong Danh sách khẩn cấp của UNESCO.
  • Cơ hội thưởng thức vũ kịch kinh điển “Khổng Tước” của “chim công làng múa” Dương Lệ Bình
    “Khổng Tước - The Peacock Hanoi 2026” - tác phẩm vũ kịch kinh điển của “chim công làng múa” Trung Quốc Dương Lệ Bình sẽ ra mắt khán giả Việt Nam vào tháng 3/2026. Chương trình dự kiến được biểu diễn vào 20h ngày 6/3, 20h ngày 7/3 và 15h, 20h ngày 8/3 tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội).
  • “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026 chuẩn bị diễn ra tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” năm 2026 có khoảng 300 đồng bào, 32 cộng đồng dân tộc của 15 tỉnh, thành phố đại diện cho các dân tộc, vùng miền sẽ tham gia các hoạt động tại sự kiện.
  • “Sân khấu cộng đồng”: Lan tỏa nghệ thuật truyền thống bằng tinh thần sáng tạo
    Tối 25/1, tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình biểu diễn nghệ thuật mở đầu dự án “Sân khấu cộng đồng” đã chính thức diễn ra trong không khí ấm áp, gần gũi, thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và du khách.
  • Khi âm nhạc trở thành "sản phẩm" trải nghiệm văn hóa của Thủ đô
    Trong không gian mở của Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 25/1 tiếp tục mang Jazz đến gần công chúng Thủ đô bằng những thanh âm nhẹ nhàng, sâu lắng và đầy cảm xúc.
  • Kéo dài chương trình nghiên cứu, tổng hợp, công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 139/QĐ-TTg Gia hạn thời gian thực hiện Chương trình “Nghiên cứu, tổng hợp, công bố các tác phẩm văn học vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, tiến tới kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng cách mạng công nghiệp lần thứ tư”
  • Hà Nội phê duyệt đề án bảo tồn hồ Tây quy mô hơn 2.400ha
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 315/QĐ-UBND phê duyệt Đề án "Bảo tồn và phát huy giá trị khu vực hồ Tây và phụ cận".
Cao Bá Quát – thi thần và tiếng thơ phản kháng vĩ đại
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO