Văn hóa – Di sản

Bà Huyện Thanh Quan – thi nhân muôn đời

Nguyễn Vinh Phúc • 21/11/2023 09:44

Về tiểu sử bà, các sách cũ đều không ghi được mấy, thậm chí tên thật cũng không! Như Văn đàn bảo giám (1926) chỉ ghi được: “Bà là con ông đại nho họ Dương, người làng Nghi Tàm”.

ba-huyen-thanh-quan.jpeg
Tranh minh họa Bà Huyện Thanh Quan.

Mãi tới thập kỷ 60 của thế kỉ XX, các ông Tảo Trang, Bùi Văn Nguyên mới đưa ra giả thuyết mới: bà tên là Nguyễn Thị Hinh, song con ai thì không biết, chỉ đoán là con cháu Nguyễn Lý đỗ thủ khoa năm 1783, là Đốc học Sơn Tây và Hải Dương. Về chồng bà thì Văn đàn bảo giám ghi tên là Lưu Nghi, người làng Nguyệt Áng (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội), đỗ Cử nhân năm 1821. Song giả thuyết mới lại cho rằng chồng bà là Lưu Nguyên Ôn cũng người làng Nguyệt Áng, đỗ Cử nhân năm 1828, làm Tri huyện Thanh Quan, sau bị cách chức chuyển về kinh đô Huế làm một chức quan nhỏ. Ông này sinh năm 1804, mất năm 1847.

Vậy tài liệu nào chính xác - đó là vấn đề cần nghiên cứu thêm.

Có điều là sách Quốc triều đăng khoa lục có ghi Lưu Nghi đỗ Cử nhân 1821, làm Tri huyện, còn về Lưu Nguyên Ôn thì chỉ ghi đỗ Cử nhân năm 1828.

Cũng theo Văn đàn bảo giám thì Bà Huyện Thanh Quan có tiếng là hay chữ, từng được mời vào Huế giữ chức Cung trung giáo tập, là chức phụ trách việc dạy cho các công chúa và phi tần: “Vua Tự Đức có ban thơ chữ và thơ Nôm, bà phụng hoạ cũng nhiều, vua rất quý trọng”...

Tuy vậy, ngày nay chỉ còn giữ được của bà một số bài thơ Nôm, tên gọi có lẽ do người đời đặt cho, như các bài Qua đèo Ngang, Thăng Long hoài cổ, Chơi chùa Trấn Bắc, Tức cảnh chiều thu và Chiều hôm nhớ nhà.

Cả năm bài đều là thất ngôn bát cú, đều rất mực đúng luật thơ Đường, bằng trắc nghiêm chỉnh.

Ngoài ra thơ bà trang trọng, giầu nhạc tính, sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, dùng từ Hán - Việt có mức độ, tao nhã, cao sang, có tính chất cổ điển.

Cả năm bài đều gắn với cảnh vật, thiên nhiên. Cảnh vật, thiên nhiên trong thơ bà Thanh Quan không tươi tắn, rộn ràng như thơ Xuân Hương mà bàng bạc sắc màu u hoài. Trong năm bài thì ba bài là cảnh chiều tà:

- Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn

(Chiều hôm nhớ nhà)

- Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

(Qua đèo Ngang)

- Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

(Thăng Long hoài cổ)

Hai bài còn lại tuy không nêu thời gian cụ thể nhưng cũng ảm đạm:

- Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu

(Chơi chùa Trấn Quốc)

- Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa

(Tức cảnh chiều thu)

Trong cái khung thời gian chiều hôm muộn mằn đó, mọi vật như ủ ê, quạnh quẽ, lẻ loi.

- Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

- Gác mái ngư ông về viễn phố,

Gõ sừng mục tử lại cô thôn.

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,

Dặm liễu sương sa khách bước dồn.

- Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,

Khen ai khéo vẽ cảnh tiểu sơ.

- Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn.

Lom khom, lác đác, viễn phố, cô thôn, gió cuốn, sương sa, bước dồn, bay mỏi, thánh thót, tiêu sơ... đều là những chữ tượng hình lên cái bé bỏng, rời rạc, xa vời, vắng lặng và cô liêu.

Như vậy là vì cảnh gắn với tình, trước hết là tình của tác giả, mà tình cảm nổi nhất ở thơ Thanh Quan là sự “chạnh niềm cố quốc”, “nhớ nước đau lòng”. Thật cũng lạ, lúc này nước ta chưa mất, còn độc lập. Vậy cái cố quốc, cái nước cũ mà tác giả thấy đau lòng khi nghĩ tới là nước nào vậy?

Có lẽ đó là một khái niệm đất nước trừu tượng, đại diện cho quá khứ và tốt đẹp hơn hẳn cái hiện tại (tức là dưới triều nhà Nguyễn). Và như vậy đây chính là tâm trạng của cả một lớp người đã nhận thức ra cái không được lòng dân của chính quyền nhà Nguyễn thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, song đồng thời họ cũng tự thấy là bất lực không làm được gì để thay đổi.

Bất lực nên chỉ biết than vãn:

- Ngàn năm gương cũ soi kim cổ,

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

- Dừng chân đứng lại trời non nước,

Một mảnh tình riêng ta với ta

Một mình biết một mình hay và cũng chỉ biết san sẻ nỗi niềm với... chính mình.

Đó chính là tâm trạng của cả một lớp sĩ phu trong giai đoạn ngột ngạt sắp cáo chung chế độ phong kiến.

Nói tóm lại, nội dung thơ Bà Huyện Thanh Quan là tâm sự của một người không bằng lòng với thời cục, mong mỏi sự tốt đẹp như đã có ở một thời xa xôi trước đây. Nhưng hình thức thơ của bà thì vào hạng “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Thơ Đường luật làm đến như vậy thì chẳng khác nào thơ của các thi sĩ đời Thịnh Đường.

Xin lấy bài Thăng Long hoài cổ làm dẫn chứng. Thực ra cái tên là do người đời sau đặt ra, cũng như các tên Qua đèo Ngang, Chơi chùa Trấn Bắc... Song nội dung bài thơ thì đúng là giãi bày nỗi lòng hoài cổ về cố đô Thăng Long.

Tạo hoá gây chi cuộc hi trường. Câu mở đầu là một câu hỏi bâng quơ vì hỏi trời và đất tức là chẳng hỏi ai cả, nhưng nội hàm câu hỏi thì là cả một vấn đề thế sự. Vì trời đất bày đặt ra làm gì như một tấn tuồng ở Thăng Long thành đã bị bỏ rơi này. Đúng là tấn tuồng bởi tác giả đã chứng kiến sự đổi thay thời thế quá nhanh quá lẹ ở dải đất cố đô như các lớp lang diễn ra trên chiếu chèo, chiếu tuồng ở giữa một sân đình. Nguyễn Hữu Chỉnh, Võ Văn Nhậm, Trịnh Lệ, Trịnh Bồng múa may trên sân khấu chính trị không quá hai năm. Rồi quân Thanh sang, quân Tây Sơn diệt Mãn Thanh, vua Quang Trung anh hùng nhưng mệnh đoản. Gia Long phá toà nhà thành cổ nghìn tuổi xây lại thành kiểu Tây và bao nhiêu “nguy Tây Sơn” bị hại. Rồi các trấn có từ ngàn xưa phút chốc bị xoá bỏ, thay bằng các tỉnh mới tinh. Chẳng là hí trường, là tấn tuồng thì còn là gì nữa. Cho nên Bấy lâu thấm thoát mấy tinh sương. Bấy lâu là bao lâu? Một tháng? Một năm? Một thế kỷ? Hay vài ba trăm năm? Bấy lâu là một khái niệm vô định về thời gian. Bao nắng sớm, sương chiều tuần hoàn kế tiếp nhau, bỏ mặc sự quan tâm hay không của con người. Chỉ biết là tháng ngày đằng đẵng đổi thay một cách vô tình trước khách Thăng Long hoài cổ. Chỉ biết là Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo. Thuở nào Thăng Long lọng tía, tán vàng, ngựa xe tấp nập lại qua qua lại trên các nẻo đường hoa hoè hoa liễu, nay vắng ngắt. Dấu chân ngựa và dấu bánh xe cũ càng nay đã im lìm bị cỏ úa vàng trong gió lạnh đầu thu bao phủ, dấu hiệu của một lãng quên đến tội nghiệp. Và Nền cũ lâu đài bóng tịch dương là chỉ các cung điện cũ đã bị phá huỷ (như Nguyễn Du từng nhận xét: Thiên niên cự thất thành quan đạo - Ngàn năm cung lớn thành đường cái), chỉ còn sót lại vài cái nền trơ trẽn tràn ngập bóng mặt trời sắp lặn, với ánh nắng hoàng hôn vàng vọt cô liêu. Ánh nắng thoi thóp dật dờ như thương tiếc, cố níu giữ lại một hình ảnh huy hoàng một thuở.

Cho nên Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt/ Nước còn cau mặt với tang hương. Nhũ viên gạch đá vô tình, tĩnh vật, vô tri vô giác chẳng đoái hoài tới sự thay đổi ở cố đô mà lại như thách thức sự qua đi của năm tháng. Tuế nguyệt với bao mất mát được thua, đá chẳng cần gì. Riêng có mặt nước của sông hồ còn có tình, xao động nên cảm thông được sự biến đổi của thời gian và quang cảnh, còn tỏ ra đau lòng trước sự phũ phàng của cuộc thế. Vì vậy mà Nghìn năm gương cũ soi kim cổ/ Cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Lịch sử chính là tấm gương để cố nhân soi vào đó mà suy ngẫm, mà ứng xử để vơi đi nỗi đau tan ruột nát lòng. Một bài thơ luật cực kỳ nghiêm chỉnh và một tấm lòng hướng về một ngày xưa mà tác giả thực sự trân trọng, luyến lưu.

Cuối cùng có lẽ cũng cần kể lại hai giai đoạn trong đời thường của bà để có thể hiểu thêm về nhà thơ nữ Hà Nội đặc sắc đầu thế kỷ XIX này.

Chuyện kể rằng khi ông huyện Thanh Quan đi vắng, bà thường vẫn nhận đơn thay chồng. Một hôm có một ông Hương cống mới đỗ, đệ đơn xin làm thịt trâu để ăn khao. Lúc ấy đang mùa cày cấy, theo lệnh trên không được mổ trâu, nhưng vốn là một nhà thơ nên bà huyện cũng chiếu cố ông Cử tân khoa, lại cũng muốn nhân dịp đùa ông cử bằng văn tự chơi, Bà liền cầm bút phê vào đơn hai câu rằng:

Người ta thì chẳng được đâu,

Ừ thì ông cống làm trâu thì làm.

Một hôm khác cũng gặp lúc quan huyện đi vắng, có người phụ nữ tên Nguyễn Thị Đào đưa đơn xin bỏ chồng vì chồng đi biệt tích. Bà liền phê vào đơn bốn câu:

Phó cho con Nguyễn Thị Đào,

Nước trong leo léo cắm sào đợi ai?

Chữ rằng “xuân bất tái lai”,

Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già.

Cô Thị Đào cứ thế mà đi lấy chồng. Ai dè ít lâu sau anh chồng cũ trở về. Anh ta đâm đơn kiện quan huyện. Và thế là quan huyện bị cách chức vì đã để vợ dúng vào việc quan. Chuyện kể như vậy thực hư thế nào chưa rõ. Chỉ biết là qua hai chuyện, Bà Huyện Thanh Quan hơi coi thường nho sĩ và ưu ái với phái nữ./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Phạm Ngũ Lão – anh hùng, nhà thơ
    Phạm Ngũ Lão quê làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông vừa là môn khách, vừa là con rể của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Con gái của ông được vua Trần Anh Tông nạp vào cung và phong làm Thứ phi. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, sử gia đầu thế kỷ XIX là Phan Huy Chú, khi lựa chọn các “Tướng có danh tiếng và tài giỏi”, ở đời Trần (1226-1400), có 4 người, Phạm Ngũ Lão, được xếp tề danh với Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật và Trần Khánh Dư.
(0) Bình luận
  • Đình Tường Phiêu- từ di sản độc đáo đến câu chuyện phát huy giá trị
    Tại Di tích quốc gia đặc biệt đình Tường Phiêu (xã Phúc Thọ, TP Hà Nội), bài toán phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử đang có những chuyển biến tích cực. Chính quyền địa phương đang gắn kết các giá trị độc nhất vô nhị tại đình Tường Phiêu với làng nghề hoa cây cảnh truyền thống, giáo dục di sản ở địa phương để chung sức phát triển du lịch văn hóa Hà Nội.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Festival làng nghề toàn cầu lần thứ nhất
    UBND Thành phố Hà Nội vừa có chỉ đạo tổ chức Festival Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất, năm 2026, diễn ra từ giữa tháng 11/2026 tại Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ khoảng 200 đại biểu, nghệ nhân quốc tế với nhiều hoạt động trọng tâm như Lễ Khai mạc, Hội nghị xúc tiến đầu tư, Hội thi sản phẩm thủ công Châu Á – Thái Bình Dương và các tour trải nghiệm làng nghề.
  • Hà Nội xếp hạng 43 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp thành phố
    Nhằm bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử lâu đời của Thủ đô, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ký ban hành Quyết định chính thức xếp hạng di tích cấp thành phố đối với 43 di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh trên địa bàn.
  • Lễ hội Đả Ngư 2026 - nét đẹp văn hóa đặc trưng của người Hà Nội
    Sáng 24/10, Ban tổ chức lễ hội đền Và (phường Sơn Tây, TP Hà Nội) long trọng tổ chức Lễ hội Đả Ngư rằm tháng 9 năm Bính Ngọ 2026 (tức ngày 15 tháng 9 âm lịch). Trước đó, chiều ngày 23/10, nhà đền đã làm lễ Phong triều.
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Triển lãm 90 bức tranh sơn mài được vẽ bằng góc nhìn đương đại
    Ngày 30.10 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, triển lãm "Nguyên - Lãng du cùng Sơn" khai mạc, giới thiệu 90 tác phẩm sơn mài của 8 họa sĩ gồm: Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Thị Tiến, Nguyễn Đình Văn, Lily Lai, Bùi Thị Mừng, Hoàng Ngọc Nhung, Nguyễn Thùy Dương và Cao Phương Thảo.
  • Tiếp tục đổi mới, khơi dậy tinh thần sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô
    Sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội đã trở thành mái nhà chung của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa Thủ đô và nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Tại tọa đàm “Văn học, nghệ thuật Thủ đô - 60 năm xây dựng và phát triển” do Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức tại Hà Nội sáng 29/10, các ý kiến, tham luận đã làm rõ những dấu ấn sáng tạo, hành trình phát triển cùng những yêu cầu đặt ra trong thời gian tới của văn học nghệ thuật Thủ đô.
  • Một Hà Nội hoài niệm với phở gánh
    Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo miền Trung, nơi có cát trắng, gió Lào. Trong những năm tháng tuổi thơ, tôi chưa một lần rời khỏi lũy tre làng. Đến tuổi trưởng thành, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tôi làm việc ở chiến khu Việt Bắc. Rồi một ngày tháng Mười năm 1954, tôi được về công tác tại Hà Nội. Đêm trước ngày vào nội đô, lòng tôi xốn xang, không sao chợp mắt.
  • Hà Nội thúc đẩy giáo dục lối sống xanh từ những hoạt động học đường
    Từ việc phân loại rác, thu gom vỏ hộp giấy đến tìm hiểu quy trình tái chế, các hoạt động giáo dục môi trường đang mở ra cơ hội để học sinh tiểu học chuyển kiến thức thành hành động thực tế. Khi được duy trì thường xuyên trong trường học và gia đình, những việc làm nhỏ có thể góp phần hình thành thói quen sống xanh, nâng cao trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với môi trường.
  • Bệnh viện Tim Hà Nội: 25 năm kết nối những nhịp đập yêu thương, hội tụ tri thức, vươn tầm quốc tế
    Sáng ngày 31/10/2026, tại Khách sạn InterContinental Hanoi Landmark72, Bệnh viện Tim Hà Nội long trọng tổ chức Lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì và kỷ niệm 25 năm ngày thành lập (15/11/2001 – 15/11/2026). Sự kiện được tổ chức trong khuôn khổ Hội nghị Tim mạch Quốc tế Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Kỷ nguyên đột phá trong Tim mạch học”, là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt, ghi nhận chặng đường 25 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển của Bệnh viện Tim Hà Nội. Đây cũng là dịp nhìn lại những thành tựu nổi bật, khẳng định vị thế của một trong những cơ sở y tế chuyên khoa tim mạch tiêu biểu của Thủ đô, đồng thời mở ra chặng đường phát triển mới với khát vọng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và cống hiến vì sức khỏe nhân dân
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Truyện ngắn: Tự khúc
    Rèm cửa, hạ xuống. Trước mỗi bàn trang điểm, chiếc đèn nhỏ phía trên lại được bật sáng; trong tấm gương, phản chiếu hình ảnh một cô gái đang kẻ lông mày, sửa lại tóc.
  • Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại
    Gần 300 nhà quản lý, chuyên gia và nhà thiết kế trao đổi, chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại” tại Trường Đại học Nghệ thuật - Đại học Huế.
  • Phát triển không gian đô thị Hà Nội theo Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Vừa qua, tại kỳ họp thứ bảy (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 3.5 (đoạn từ Quốc lộ 2 đến đầu cầu Thượng Cát). Qua đó góp phần phát triển không gian đô thị đa trung tâm, hiện đại, bền vững theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
  • Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (1947-1950) được xếp hạng Di tích quốc gia
    Ngày 29/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ban hành Quyết định số 2913/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), tại xóm Cây Hồng (1947-1950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026
    Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 sẽ diễn ra vào ngày 24/11/2026 tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình với quy mô khoảng 50.000 người. Sự kiện nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp di sản với sáng tạo đương đại và khẳng định văn hóa là nguồn lực phát triển đất nước...
  • Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung: Người sáng tạo giá trị mới từ chất liệu truyền thống
    Từ những sợi mây, nan tre vốn gắn với nghề đan lát truyền thống làng nghề Phú Vinh (TP Hà Nội), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung đã tìm ra một hướng sáng tạo riêng cho nghề: đan tranh chân dung. Bắt đầu từ bức chân dung Bác Hồ vào năm 1976, ông từng bước đưa kỹ thuật đan thủ công vượt ra ngoài những sản phẩm quen thuộc, tái hiện hình ảnh các nhân vật lịch sử bằng ngôn ngữ tạo hình độc đáo. Hành trình ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo của người nghệ nhân mà còn mở ra những hướng đi mới cho chất liệu truyền thống.
  • [Podcast] Tản văn: Suối cạn
    Chẳng nhớ tôi đã đi dọc con suối cạn sau nhà bao nhiêu lần. Mỗi lần đi, lại một lần suy tư về con suối mà mình chưa biết tuổi. Có lẽ ngày xửa, ngày xưa khi rừng đầu nguồn chưa bị tàn phá, nó là con suối xinh đẹp, tràn đầy sức sống từ dòng nước trong vắt đầu nguồn.
  • Giải mã sức hấp dẫn của sơn mài qua triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn”
    Từ ngày 30-10 đến 4-11-2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, số 66 Nguyễn Thái Học, phường Ba Đình, Hà Nội, triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn” mang đến cho công chúng cơ hội tiếp cận sơn mài từ cả hai phương diện: thưởng thức tác phẩm hoàn chỉnh và tìm hiểu quá trình tạo nên tác phẩm.
  • Hà Nội tập huấn Luật Thủ đô 2026 cùng các văn bản triển khai thi hành về lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch
    Sáng 28/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Thủ đô, các văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô năm 2026 và đối thoại, giải đáp thắc mắc liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành. Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Hội trường Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (số 47 Hàng Dầu, phường Hoàn Kiếm) và kết nối trực tuyến tới điểm cầu 126 xã/phường; các Nhà hát thuộc Sở và Trụ sở Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (VHNT) Hà Nội.
  • Đình Tường Phiêu- từ di sản độc đáo đến câu chuyện phát huy giá trị
    Tại Di tích quốc gia đặc biệt đình Tường Phiêu (xã Phúc Thọ, TP Hà Nội), bài toán phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử đang có những chuyển biến tích cực. Chính quyền địa phương đang gắn kết các giá trị độc nhất vô nhị tại đình Tường Phiêu với làng nghề hoa cây cảnh truyền thống, giáo dục di sản ở địa phương để chung sức phát triển du lịch văn hóa Hà Nội.
Bà Huyện Thanh Quan – thi nhân muôn đời
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO