Văn hóa – Di sản

Vũ Danh Thuận – doanh nhân có tấm lòng vàng

Nguyễn Vinh Phúc 15/11/2023 11:23

Là nhà Nho, lui tới cửa Khổng sân Trình, từng là Hội trưởng Văn hội (tức hội Tư văn) mà rồi lại đầu tư cả cuộc đời vào thực nghiệp, cụ thể là vào việc mở mang nghề nghiệp cho dân có công ăn việc làm và thêm thu nhập thì người như vậy không phải nhiều. Làng Kiêu Kỵ (nay thuộc xã Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội), có một người thợ như vậy. Đó là Vũ Danh Thuận. Công đức của ông đối với dân làng thật lớn nên dân đã tôn ông là hậu thần, được thờ như một thành hoàng thứ hai của làng.

u-danh-thuan.jpg
Làng Kiêu Kỵ nổi tiếng với nghề dát vàng.

Nguyên làng Kiêu Kỵ từ xưa vốn thờ Nguyễn Chế Nghĩa, danh tướng đời Trần làm thành hoàng. Tới đầu thế kỷ XIX, làng thờ thêm ông Vũ Danh Thuận. Một tấm bia do toàn xã tạo lập hiện còn tồn tại ở khu văn chỉ của làng có ghi: “Minh Mạng cửu niên, cửu nguyệt, cốc nhật, đình xã tăng tạo vĩnh mộ bi ký”, gọi tắt là bia “Vĩnh mộ”, nghĩa là: “Năm Minh Mạng thứ 9, tháng 9, ngày tốt, toàn xã lập bia để tưởng mộ mãi mãi”. Năm Minh Mạng thứ 9 tức là năm 1828. Qua văn bia, ta thấy thời gian trước đó, dân làng này thuế khoá cũng không nộp đủ chứ đừng nói tới việc tu sửa đình miếu và phục dịch các việc công ích như đắp đê, tế lễ... Thấy vậy, một người dân làng tên là Vũ Danh Thuận đã bỏ tài sản ra giúp làng xã. Văn bia viết: “Bản ấp ta năm trước và nay việc thuế khoá giao dịch không kham nổi. May có hương chức kiêm Văn hội Hội trưởng Vũ Danh Thuận đã coi trọng tình làng và công việc hàng xã đã cúng tiến gạch ngói gỗ lạt cho bản xã và nhận việc tu sửa các toà đền miếu thờ tự, kể cả lễ vật kim ngân hoá bảo và các đồ phụng sự khác... Lại để cho 60 mẫu đất ao, giúp thêm hơn 1.000 cọc tiền và 2 dật bạc. Tiền tài giúp tu soạn đỉnh bạ, phụ phát binh lệ như lương ăn, thu phí liễm, hỗ trợ lương, phàm tất cả mọi điều khoản bản xã tổng soạn khắc vào bia, đồng thời làm khoán ước”. Như vậy Vũ Danh Thuận thật có một tấm lòng đáng quý. Tự đứng ra xuất tiền tài vật liệu dựng lại đền miếu cho dân có nơi thờ cúng đã là quý, lại còn cúng tiền bạc, gạo thóc cho dân làng có điều kiện để làm những việc công ích, đắp đê, binh lệ thì Vũ Danh Thuận quả là một con người hào hiệp, rất đáng trân trọng.

Song không chỉ thế, Vũ Danh Thuận không hợm của, không kiêu sa mà còn rất mực khiêm tốn. Vì cảm cái tình nghĩa của ông, dân làng muốn tôn vinh ông song ông đã từ chối sự tôn vinh đó. Văn bia có cho biết là:

“Cả xã trước đây đã bầu ông làm hậu thần. Ông từ chối không nhận. Cả xã đều thấy đó là điều khiêm cung tự tại vậy”.

Nếu chỉ có những điều mà văn bia đã ghi như trên thì Vũ Danh Thuận cũng đáng được lưu danh. Nhưng hơn thế, ông còn là một nhà thực nghiệp, chấn hưng và phát triển nghề của địa phương, tổ chức lại sản xuất, nói theo ngôn ngữ bây giờ ông là một nhà doanh nghiệp có đóng góp xây dựng nghề nghiệp cổ truyền của làng xã.

Nguyên làng Kiêu Kỵ có nghề dát vàng để phục vụ cho công việc sơn thếp các đồ vật thờ tự cũng như dân dụng, câu đối, hoành phi, cửa võng, nhang án, lỗ bộ, tráp, kỷ... mà vàng (bạc) để dát thì phải là vàng mười, tuyệt đối nguyên chất. Do vậy phải có công nghệ luyện vàng bạc để có nguyên liệu tốt. Thì lại cũng chính Vũ Danh Thuận đã đứng ra tổ chức công việc này. Ông mở ra một cơ sở luyện vàng bạc gọi là “trường luyện kim ngân” và tạo điều kiện cho dân làng tham gia hoạt động sản xuất mặt hàng này. (Không loại trừ khả năng ông còn tham gia vào mặt kỹ thuật luyện kim). Vẫn văn bia nêu trên có ghi tiếp: “Đến tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), viên chức sắc mục hương hào lý dịch liền lo liệu chọn ngày bàn với ông cùng các viên chức làm điều lệ, luyện vàng bạc để bán, theo thời giá mà thu lợi, có quy định không đổi, từ đó mà mối lợi ngày càng nhiều, của cải càng giầu vậy... Mọi người trong ấp từ các bậc kỳ lão đến trùm lềnh viên chức bốn phương, già trẻ đều đến điếm sở, hễ đến kỳ luyện đều được chia tiền lợi có thứ bậc. Sưu sai không bị thúc bách nên dân lưu tán trở về. Có tiền để người nghèo định cư”...

Như vậy thì công đức quả là rất đáng ghi nhớ: đem lợi lộc lại cho bà con, nhất là đối với những người lưu tán (tức nghèo khổ quá phải bỏ làng mà đi) lại có dịp được trở về quê hương thì ý nghĩa nhân đạo thật lớn lao.

Văn bia còn ghi lại nhiều tình tiết về tấm lòng cao cả của Vũ Danh Thuận như: Năm Ất Dậu (1825) cả xã nhất trí ghi công đức của Vũ Danh Thuận: “Bản xã thấy dân thiếu thốn mà công sai mưu dịch lại nhiều nên có lời với ông Vũ Danh Thuận... (Bia chìm sâu khuất mất một số chữ không đọc được - NVP chú), luyện vàng bạc bán được giá từ đây ngày càng khá giả”...

Chỉ riêng cách đối xử, ghi công, tôn vinh của dân làng cũng đủ nói lên tầm vóc của Vũ Danh Thuận. Song nếu ta đọc thêm tấm bia tại nhà thờ họ Vũ do chính ông tạo dựng, lập vào tháng 10 năm Minh Mạng thứ 9 (1828) thì ta càng rõ hơn về con người ông. Trong bia ông kể về mình: “Tôi nghĩ từ thời nhỏ, nhờ phúc ấm tổ tiên... thực hành gia phong cần kiệm, năng nhặt chặt bị mà có được gia tư thế này...”. Rõ ràng là một con người thẳng thắn, hồn hậu, làm giàu bằng chính bộ óc và đôi tay cùng với sự cần kiệm. Con người đó lại rất biết tác dụng của học vấn, đã đành không muốn con cháu thất học mà còn khuyến khích việc học giỏi nên bên cạnh việc dành một phần ruộng cấp cho học trò giỏi trong làng, ông đã để riêng 5 sào ruộng dành cho những con cháu sau này thi hương mà lọt vào trường đệ tam trở lên thì được nhận phần ruộng đó để canh tác lấy lương thực mà ăn học tiếp. Chính đó là khoản “học điền” (ruộng dành cho việc học) mà lẽ ra là trích từ ruộng công!

Nhân cách và tâm đức như vậy thì Vũ Danh Thuận được làng xã trọng vọng là phải. Có điều nói thêm là những tấm bia trên cho biết ông Thuận mở mang nghề “luyện kim ngân”, tức nghề luyện nấu vàng bạc non tuổi thành vàng muời, bạc mười... Vì chỉ có bạc già tuổi, tức tinh chế kỹ lưỡng, thì mới có thể dát mỏng làm vàng quỳ. Có thể việc dát vàng ở Kiêu Kỵ đã có từ trước nhưng vàng mười thì luyện chưa tinh. Đến đời Vũ Danh Thuận mới mở mang trường luyện vàng bạc. Tại tấm bia ở “Trường luyện kim ngân” có ghi sự việc này: “Dân làng ta theo đó lấy việc luyện vàng bạc làm nghề, lại có thêm trường luyện”. Luyện vàng bạc thực ra là công đoạn đầu của việc dát vàng.

Cuối cùng cũng cần nói về ông tổ nghề dát vàng. Vài người gần đây viết báo nói rằng ông tổ nghề dát vàng là Nguyễn Quý Trị đỗ Tiến sĩ đời Cảnh Hưng (1740 - 1756) cũng là người Kiêu Kỵ (Hà Nội mới, số Xuân Bính Tý, 1996).

Đáng tiếc là suốt đời Cảnh Hưng có 16 khoa thi Tiến sĩ thì ở cả 16 khoa này không có Tiến sĩ nào tên là Nguyễn Quý Trị! Mà ngay cả trong toàn bộ các ông nghè triều Lê cũng không có ai tên như vậy! Ở Kiêu Kỵ chỉ có Vũ Quý Tạo thi hương đỗ tứ trường khoa Nhâm Ngọ (1762), làm Hội trưởng Văn giáp là người có đỗ đạt vào thời Cảnh Hưng. Như vậy nếu đúng có ông Nguyễn Quý Trị và là tổ nghề dát vàng thì ông không phải là Tiến sĩ. Vũ Danh Thuận cũng thuộc họ này. Cũng họ Vũ này, tới thời hiện nay có Vũ Nguyên Bác là một vị tướng tài của quân đội nhân dân Việt Nam được nhiều người biết đến với tên gọi quen thuộc: tướng Nguyễn Sơn.

Tóm lại, Vũ Danh Thuận đúng là một nhà thực nghiệp ở đầu thế kỷ XIX, đồng thời là một nhà từ thiện đáng nể vì./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Phạm Ngũ Lão – anh hùng, nhà thơ
    Phạm Ngũ Lão quê làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên). Ông vừa là môn khách, vừa là con rể của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Con gái của ông được vua Trần Anh Tông nạp vào cung và phong làm Thứ phi. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, sử gia đầu thế kỷ XIX là Phan Huy Chú, khi lựa chọn các “Tướng có danh tiếng và tài giỏi”, ở đời Trần (1226-1400), có 4 người, Phạm Ngũ Lão, được xếp tề danh với Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật và Trần Khánh Dư.
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • [Video] “Khúc quân hành” năm 2026: Một thập kỷ bền bỉ lan toả nghĩa tình đền ơn đáp nghĩa
    Tiếp nối thành công của 9 lần trước, năm 2026, Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, đã diễn ra từ ngày 18 đến 21/7 tại các xã Đông Khê, Trường Hà - tỉnh Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội. Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chương trình Khúc quân hành năm 2026 đánh dấu một thập kỷ vun đắp và lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc.
  • Giải thưởng Victor Tardieu 2026: Tôn vinh và tiếp sức cho những tài năng mỹ thuật trẻ
    Chiều 25/7, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải thưởng Victor Tardieu 2026, vinh danh những sinh viên có tác phẩm tốt nghiệp xuất sắc. Ở mùa giải thứ hai, giải thưởng tiếp tục khẳng định vai trò là bệ phóng cho các tài năng mỹ thuật trẻ.
  • Hà Nội thí điểm mô hình tiêu dùng số và bảo trợ thương mại điện tử
    Đến năm 2028, thành phố phấn đấu kết nối 500 chủ thể, công khai 1.000 sản phẩm với ít nhất 80% có truy xuất nguồn gốc, đồng thời giải quyết hiệu quả các phản ánh và khiếu nại. Để thực hiện, Hà Nội xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, tận dụng hạ tầng công nghệ sẵn có như ứng dụng iHanoi để mở "Gian hàng số Thủ đô" và giao Chi cục Quản lý thị trường làm đầu mối chống hàng giả...
  • Hà Nội sắp xếp lại mạng lưới trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm GDNN-GDTX
    Hà Nội triển khai tái cấu trúc mạng lưới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và đại học công lập nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đào tạo và giữ ổn định tâm lý học sinh. Theo đó, 19 trường cao đẳng, trung cấp thành 8 trường cao đẳng và 2 trường trung cấp; hợp nhất 29 trung tâm GDNN-GDTX theo các cực phát triển địa lý thành 14 trung tâm; đồng thời giữ nguyên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội để tập trung đầu tư phát triển. Toàn bộ công tác sắp xếp, sáp nhập được yêu cầu hoàn thành trước ngày 25/8/2026.
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
  • Để ký ức Hà Nội ngân lên trong những giai điệu cuối tuần
    Có những ca khúc đã vượt qua giới hạn của thời gian để trở thành một phần ký ức của thành phố. Mỗi lần giai điệu ấy cất lên, Hà Nội như hiện diện gần hơn trong cảm nhận của người nghe. Chiều 26/7, chương trình "Âm nhạc cuối tuần" tại Nhà Bát Giác sẽ đưa công chúng bước vào hành trình âm nhạc nơi những bản tình ca về Hà Nội gặp gỡ tinh thần jazz thế giới, góp thêm một sắc màu cho đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • “Nét duyên Chèo Hà thành”: Từng bước hình thành những sản phẩm văn hóa đặc trưng của Thủ đô
    Tối 24/7, tại Rạp Đại Nam, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội ra mắt Chương trình nghệ thuật “Nét duyên Chèo Hà thành” do Nhà hát Chèo Hà Nội thực hiện.
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
Vũ Danh Thuận – doanh nhân có tấm lòng vàng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO