Tú Mỡ: “Màu mỡ vì chưng ra cả bút”

Vũ Quần Phương| 04/01/2020 10:48

Tú Mỡ tên thật là Hồ Trọng Hiếu. Sinh năm 1900. Như vậy, ông có sáu năm được thở chung một bầu khí quyển với nhà thơ Tú Xương yêu kính. Thuở nhỏ, Hồ Trọng Hiếu học chữ Nho, ông nội dạy. Học xong Tam tự kinh thì ông nội mất, Trọng Hiếu theo học chữ quốc ngữ ở trường Hàng Bông (nay không còn), trường Hàng Vôi (trường Nguyễn Du bây giờ) và trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An). Chính ở cái trường Bưởi này, Tú Mỡ đã “anh hoa phát tiết” tài làm thơ.

Tú Mỡ: “Màu mỡ vì chưng ra cả bút”

Tú Mỡ tên thật là Hồ Trọng Hiếu. Sinh năm 1900. Như vậy, ông có sáu năm được thở chung một bầu khí quyển với nhà thơ Tú Xương yêu kính. Thuở nhỏ, Hồ Trọng Hiếu học chữ Nho, ông nội dạy. Học xong Tam tự kinh thì ông nội mất, Trọng Hiếu theo học chữ quốc ngữ ở trường Hàng Bông (nay không còn), trường Hàng Vôi (trường Nguyễn Du bây giờ) và trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An). Chính ở cái trường Bưởi này, Tú Mỡ đã “anh hoa phát tiết” tài làm thơ.

Năm 1918, đỗ bằng thành chung (tương đương bằng tốt nghiệp Phổ thông cơ sở bây giờ), Hồ Trọng Hiếu vào làm ở Sở Phi năng (Sở Tài chính). Sau hai năm làm việc, những điều chướng tai gai mắt trong nhiệm sở, ngoài xã hội, lại kích thích bằng cái mầm hài hước có sẵn trong ông. Ông viết bài Bốn cái mong của thầy phán đăng trên báo Nam Phong. Đây là những bài tự diễu cái nghề công chức cạo giấy của mình. Tác giả đã vẽ rất tài hình hài, tính nết, đến cung cách làm việc của cả một loại người:

Hai buổi đến ung dung ư buồng giấy, số to số nhỏ, 
bày liệt bày la;

Tám giờ ngồi chễm chệ ư ghế mây, mực đỏ 
mực đen, viết chi viết chát
Lỡ buổi đi trưa, nhìn trước, nhìn sau lấm lét rụt rè 
như rắn mồng năm
Lỡ khi lầm lỗi, đứng lên, ngồi xuống băn khoăn ủ rũ 
như diều hâu tháng chạp

Vì tác giả dấu tên nên khi đăng bài này nhiều người lầm tưởng là thơ của Tú Xương. Sự nhầm lẫn ấy cho thấy mức độ thành công của bài thơ. Quả là ở bài thơ này Tú Mỡ đã có được bút pháp tự nhiên và sinh động của Tú Xương. Những chi tiết đưa ra rất đắt, nói được cả diện mạo lẫn thần thái nhân vật. Những khẩu ngữ cũ, những thành ngữ mới dắt nhau rất tự nhiên và cũng rất bất ngờ: Gắt ỏm mắm tôm, Tán nhăng phó mát... Thân phận người công chức khổ trong chế độ cũ, cũng là thân phận tác giả, còn trở đi trở lại trong nhiều bài thơ của Tú Mỡ, tạo nên phần trữ tình đáng quý ở thơ ông. Ở đấy, giọng văn nghịch ngợm cười cợt của Tú Mỡ đã đụng tới cái gì, nói theo Xuân Diệu, như là nước mắt:

Tú Mỡ nghe tên rõ chướng phè
Làm thiên hạ tưởng béo sù ghê
(...) Mà hóa người thon như cái nhái
Té ra mình xác tựa con ve
(...) Màu mỡ vì chưng ra cả bút
Thân hình nên mới ngẳng như que
(Mỡ mà chẳng... mỡ; Giòng nước ngược I)

Từ 1925, Tú Mỡ đăng thơ trên các báo và tạp chí như: Nam Phong, Tứ dân, Việt Nam thanh niên. Nhưng ông thực sự được chú ý là từ năm 1932, khi ông giữ mục Giòng nước ngược trên báo Phong hóa. Cái tên Tú Mỡ được khai sinh với Giòng nước ngược Giòng nước ngược đã thành tên cho tuyển tập thơ tiêu biểu của Tú Mỡ trước Cách mạng tháng Tám. Xã hội thời Tú Mỡ không còn tính chất giao thời như thời Tú Xương, nó đã đi sâu vào Âu hóa, sự lố bịch vẫn đầy rẫy, có khi còn trắng trợn hơn trước. Tú Mỡ đã thấy, đã nghe, đã cảm nhận được tất cả, tất cả cái ngược đời, cái hài hước của thời thế, của nhân tâm đạo lý và đã giữ nó lại trong thơ mình như một tang chứng lịch sử sống động.

Nguyên một cái Viện dân biểu do thực dân Pháp dựng lên làm một chiêu bài Dân chủ đã bị Tú Mỡ tấn công từ nhiều phía với hàng vài ba chục bài thơ. Tú Mỡ khi ấy chưa có được quan điểm cách mạng đúng đắn của Đảng, nhưng bằng trái tim của một người yêu nước, yêu sự thật, cũng đủ nhận ra cái giả dối bôi bác của trò hề này. Đây là mảng đề tài ông viết rất hào hứng, tính chất trào phúng nằm ngay trong sự việc. Hãy xem cung cách một ông nghị đi họp, bề ngoài rất oách, Áo sa, khăn nhiễu, giày ban. Kính trắng gọng vàng tay cắp cặp da. Và cũng chỉ bề ngoài thế thôi, chứ vào cuộc họp thì ngẩn mặt tần ngần. Ngồi nghe diễn thuyết ngủ dần thiu thiu...

Tú Mỡ đã bắt được những nét phổ biến có tính điển hình của lũ người dốt nát và hãnh tiến này. Nhà thơ cứ mát mẻ mà “tuyên dương công trạng” ông nghị vùng ta:

Gật gù nghe đọc diễn văn
Vì dân ráng sức mấy lần vỗ tay.

Nghe thì cứ nghe, sao phải gật gù. Nhưng có gật gù thì mới tỏ vẻ ta đây hiểu biết. Luôn luôn phải tỏ vẻ thế vì các ông nghị cũng tự biết mình lắm chứ. Cái hài hước đẻ ra từ sự giả dối đó. Văn chương trào phúng thường phát triển khi sự giả dối ngự trị ở ngoài đời. Cái nguyên mẫu ấy cứ dựng nên đã đáng cười rồi, Tú Mỡ nâng nó lên thành hình tượng nghệ thuật bằng một cách chuyền nghĩa bóng sang nghĩa đen của ba chữ bầu nhiệt huyết:

Mỗi năm vất vả mươi hôm
Một bầu nhiệt huyết vẫn ôm kè kè
(Ông nghị đi hội đồng về; Giòng nước ngược)

Thơ Tú Mỡ không gay gắt được như Tú Xương, cũng không thâm trầm được như Nguyễn Khuyến. Nhưng ông lại được cái dí dỏm, có duyên. Không biết có phải để lọt được lưới kiểm duyệt mà Tú Mỡ chọn cho mình giọng thơ ấy không. Ông đả kích làm cho đối tượng đỏ mặt, xấu hổ, chứ không nỡ chôn sống người ta. Ông không đánh ác. Tuy nhiên cứ dí dỏm vậy mà nhiều chỗ rất trúng huyệt. Hãy nghe ông tả cái chuông nghị sự ở Viện dân biểu, lời văn cứ khách quan, như văn “tả chân” của học sinh tiểu học:

Nó cũng kiểu như chuông xe rác
Cũng như chuông của các hàng rong.

Vậy mà có cách nói nào hơn để chỉ ra thực chất rác rưởi của nghị viện bù nhìn và các thứ mồm loe mép giải của lũ tham quyền cố vị nghị viên.

Đối với thực dân Pháp, Tú Mỡ viết không được nhiều, và chưa sướng bằng, khi đả quan lại bù nhìn có lẽ vì chính sách kiểm duyệt của Pháp. Tú Mỡ phải né tránh nhiều, đòn đánh chưa hả. Khi Pháp bị Nhật hất cẳng, sau 9/3/1945 Tú Mỡ cho đăng một loạt bài đả Pháp, nhưng không còn đắc địa nữa, vì bỏ sức lực để đạp một bức tường đã đổ thì cũng chẳng hào hứng gì. Tìm tính chất phản đế trong thơ Tú Mỡ trước Cách mạng nên tìm ở những bài ông đả vào chính sách cai trị của thực dân, vào cái cơ cấu xã hội mà nó tạo ra, cái hủ tục mê tín mà nó nuôi dưỡng, hơn là tìm vào sự đả kích từng tên thực dân cụ thể, việc đó Tú Mỡ sẽ làm trong kháng chiến chống Pháp. Khi xét tới các thứ thuế, Tú Mỡ đã đay lại khẩu hiệu tự do, bình đẳng của thực dân, và tự hào:

Dân mình há chịu kém ai sao!
Tự do bình đẳng tuy thua thiệt
Nhưng đã hơn người cái… thuế cao

Đôi chỗ trong tiếng cười của Tú Mỡ, ta nghe thấy cả tiếng thở dài chua xót. Trong bài “Đại phu... xe hàng” có cái cười đả kích luật lệ đương thời và có nỗi xót thương phận người cùng khổ:

Cu ly cũng phải lấy… bằng
Của tòa Đốc lý chứng rằng… chính tông
Là người da sắt, xương đồng
Khỏe chân, cứng gối, chính dòng kiện nhi,
Danh trong giá sạch như li,
Chẳng khi can án, chưa khi ngồi tù
Bao lần giấy, bấy lần… xu,
Mới làm nên chức đại “phu xe hàng”

Nghệ thuật trào phúng ở bài này khá cao, bởi từ một sự kiện đời sống, Tú Mỡ đã bóc ra được nhiều tầng mâu thuẫn chua chát, đáng cười và đáng xót xa.

Nhiều cảnh đời lố lăng, hài hước, chua chát đã được lưu giữ trong thơ Tú Mỡ. Tú Mỡ có cách viết rất hoạt, thâu tóm nhanh những mặt đối lập của đời sống. Người đọc có cảm tưởng ông viết dễ dàng, đụng đến đâu là gây cười ở đấy. Một cái chuyện đi lọng, long trọng đến bông phèng, trưởng giả đến lố lăng:

Có khi đón các ông to
Các ngài ấy ngự ô tô tân thời
Bốn anh chạy bở hơi tai
Chạy theo vác lọng che ngoài mui xe
Con trâu đi chọi trở về
Linh đình cũng có lọng  che rợp trời
Cưới xin đệ nhất buồn cười
Lợn quay đi lọng cha đời lố lăng.

Rồi những chuyện mê tín dị đoan. Linh thiêng hiển thánh kiệu bay nhờ vía bà. Lời thơ đả ác:

Vía bà động cỡn tốc bay lên
Cách mạng tháng Tám không phải là cái mốc cắt đôi phong cách sáng tác của Tú Mỡ như đối với các nhà thơ lãng mạn thời ấy. Tú Mỡ vẫn tiến trên hướng viết của mình với nhiều phát triển mới. Ông đã đoạn tuyệt với thân phận ký cóp, phán còm, để trở thành một nhà thơ cách mạng. Từ năm 1947 Tú Mỡ được trao nhiệm vụ làm thơ đả kích địch, đầu tiên ở Sở thông tin tuyên truyền khu 12 (Liên khu một), rồi ở Ty thông tin Bắc Giang, Nha thông tin Trung ương. Ông khai sinh một bút danh mới: Bút chiến đấu. Anh em bạn văn thường gọi là bác Đấu. Bác Đấu đã đánh Pháp, đánh bù nhìn liên tục tới lúc Pháp thua, Pháp rút. Tập thơ Bút chiến đấu của Tú Mỡ, chọn lọc lại từ các bài thơ viết từ 1947 đến 1954 có tới 105 bài.

Từ 1954, Tú Mỡ chuyển đối tượng đả kích: Mỹ và các chính quyền tay sai ở miền Nam, từ Diệm đến Thiệu. So với các giai đoạn trước, thơ Tú Mỡ từ 1954 có nhiều nét khác biệt: đối tượng đả kích thu hẹp và chất liệu để dựng bài phải khai thác bằng cách gián tiếp từ các tài liệu, sách báo. Ông không có điều kiện để tắm mình vào cái bể lố lăng những chuyện đời chuyện người như trước, nhưng ông lại có được thuận lợi là những hiểu biết sâu sắc về kẻ thù, được trang bị quan điểm đúng để nhìn và phân tích đối tượng.

Cuối đời, trên cây đàn trào phúng Tú Mỡ nẩy lên đôi giai điệu trữ tình đằm thắm trong chùm thơ về tình cảm gia đình, đặc biệt là tình ông cháu. Vẫn nằm trong mạch văn hóm hỉnh của nhà thơ, nhưng tác động của nó lại xoay vào sự yêu thương nhiều hơn. Ở các bài thơ này, lối viết giản dị càng nâng cao tính chân thật của tình cảm tác giả.
(0) Bình luận
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Những món quà của tạo hóa
    Tôi rất cô đơn, không có lấy một người bạn nào để gọi là thân. Vì không giỏi giao tiếp hay vì không tìm được người nào đủ tin tưởng để mở lòng mình ra, tôi không biết nữa, chỉ thấy mỗi khi lòng đầy lên là lại ước mình được rủ rỉ cùng Dung.
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Phát triển kinh tế di sản: Thành tựu, động lực tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Một trong những điểm mới, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là tiếp tục quan điểm “bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội và du lịch”; đồng thời, nâng lên một tầm cao mới: “phát triển kinh tế di sản”.
  • Đánh thức di sản, tạo động lực phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
    PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Uỷ viên chuyên trách, Uỷ ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ, Hà Nội là nơi mỗi bước chân đều có thể chạm vào lịch sử, mỗi tên phố, tên làng, mái đình, mặt hồ, nếp nhà, câu hát, món ăn, làn điệu, nghề thủ công đều có thể kể một câu chuyện về chiều sâu văn hiến của dân tộc. Nhưng trong kỷ nguyên mới, câu hỏi đặt ra không chỉ Hà Nội có bao nhiêu di sản, bao nhiêu văn nghệ sĩ, trí thức, không gian ký ức, mà là làm thế nào để những giá trị ấy trở thành nguồn lực phát triển, thành sức mạnh mềm, thành động lực sáng tạo, thành năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
  • [Podcast] Tản văn: Chiếc ghế mây của cha
    Những ngày mưa to gió lớn, không đi làm nương được, mẹ rủ đám con gái chúng tôi lấy ghế mây ra đầu hè ngồi khâu vá. Bà nội tôi đeo kính lão xỏ kim, bà cười móm mém theo những câu chuyện kể tếu táo của đám trẻ chúng tôi. Chiếc ghế mây phát ra âm thanh kin kít chịu đựng sức nặng cơ thể con người theo những điệu cười khúc khích.
  • Hà Nội triển khai kịp thời, hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô 2026
    Để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và đưa Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 vào thực tiễn, UBND thành phố Hà Nội đã quyết liệt triển khai đồng bộ 6 Nghị quyết chuyên đề của HĐND Thành phố. Đợt triển khai này đề ra khung chính sách cùng hệ thống giải pháp toàn diện nhằm cụ thể hóa các cơ chế đặc thù, tạo động lực bứt phá cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô.
  • Chuyển biến rõ nét trong xử lý úng ngập trên địa bàn Thủ đô
    Sáng 7/8, Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội tổ chức Hội nghị thông tin chuyên đề và triển khai nhiệm vụ tuyên truyền trên báo chí tháng 8/2026, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội Trương Hải Long đã thông tin về việc tổ chức triển khai thực hiện các giải pháp về xử lý úng ngập trên địa bàn thành phố.
Đừng bỏ lỡ
  • Thực hiện Luật Thủ đô 2026, Hà Nội tăng cường quản lý nhà nước về dịch vụ lữ hành
    Triển khai Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, các quy định của Luật Du lịch và văn bản hướng dẫn liên quan trong hoạt động kinh doanh du dịch; Sở Du lịch Hà Nội đề nghị các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành trên địa bàn thành phố thực hiện một số nội dung quan trọng. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
  • Xây dựng Lễ hội Trung thu Thành cổ Sơn Tây thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của Hà Nội
    Lễ hội “Trung thu Thành cổ - Sơn Tây xứ Đoài” năm 2026 do UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) tổ chức sẽ diễn ra từ cuối tháng 8/2026. Hiện tại, công tác chuẩn bị Lễ hội đang được chính quyền phường Sơn Tây cùng các phòng, ban, ngành, đơn vị và 25 tổ dân phố khẩn trương triển khai, tạo khí thế sôi nổi, sẵn sàng mang đến cho Nhân dân và du khách một mùa Trung thu quy mô, đặc sắc và giàu bản sắc văn hóa xứ Đoài.
  • Phát động Cuộc thi trực tuyến “Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới” trên ứng dụng iHanoi
    Không chỉ đơn thuần là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, cuộc thi trực tuyến với tên gọi "Thủ đô Hà Nội cùng dân tộc trong kỷ nguyên mới" hướng đến việc biến những định hướng chiến lược trong Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị thành niềm tin, thành nhận thức chung của mỗi người dân.
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Tôn vinh âm nhạc truyền thống tại “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026”
    Ban tổ chức yêu cầu các tác phẩm tham dự “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026” phải giữ được phong cách, âm hưởng dân gian đặc trưng hoặc được hòa âm, phối khí mới trên nền tảng làn điệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, đồng thời phải được trình diễn trực tiếp bằng nhạc cụ dân tộc.
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim.
  • Âm nhạc cuối tuần: “Chất men” văn hóa giữa lòng Hà Nội
    Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
  • Đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng, bồi đắp tình yêu lịch sử qua “Âm nhạc cộng đồng”
    Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
  • Hà Nội đẩy nhanh Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ
    Thành phố Hà Nội hiện có 4.532 mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin tại 233 nghĩa trang cần lấy mẫu phục vụ giám định ADN. Đến nay, các xã, phường đã tổ chức lấy được 97 trên tổng số 106 mộ liệt sĩ được khai quật.
Tú Mỡ: “Màu mỡ vì chưng ra cả bút”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO