Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 4 Những ngả đường tiếp nhận

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 21/09/2020 08:21

Đồng thời với việc tiếp tục truy tầm, phát hiện văn bản Nôm và phiên âm chữ Quốc ngữ, hoạt động tiếp nhận “Truyện Kiều” ở Việt Nam đã có quá trình lịch sử lâu dài và ngày càng phát triển. Tinh thần tiếp nhận ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát tất cả các định hướng nghiên cứu, chuyên luận, giáo trình, sách giáo khoa, giới thiệu, trao đổi và mở rộng các lĩnh vực sáng tác phái sinh (tập Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều, chuyển thể điện ảnh, kịch, tuồng, chèo, cải lương, tranh minh họa, truyện tranh…).

Trên đường tiếp nhận “Truyện Kiều”: Kỳ 4 Những ngả đường tiếp nhận
Việc cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới đã đưa đến những nhận thức mới 
về giá trị kiệt tác “Truyện Kiều”.

Đồng cảm, thán phục

Ngay sau khi “Truyện Kiều” ra đời đã nhận được nhiều nhận xét, bình điểm, liên hệ, so sánh xa gần của các nhà nho đương thời Nguyễn Du và thuộc thế kỷ XIX như: Phạm Quý Thích, Vũ Trinh, Nguyễn Lượng, Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân, Phong Tuyết Chủ Nhân Thập Thanh Thị, Minh Mệnh, Nguyễn Văn Thắng, Đào Nguyên Phổ, Chu Mạnh Trinh, Chiêm Vân Thị, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Khuyến, Lê Hoan... Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân cảm nhận về “Truyện Kiều” vào đúng năm Nguyễn Du ra đi với tất cả sự đồng cảm, thán phục: “Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn “Bạc mệnh” gảy xong mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là “Đoạn trường tân thanh” cũng phải… Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy” (Bài tựa Truyện Kiều, 1820)… 

Đến như nhà tài tử hào hoa Nguyễn Công Trứ lại nặng lời xét đoán, mở ra những cách tiếp nhận khác biệt, thậm chí trái ngược nhau: 

Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa,
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!
Bán mình trong bấy nhiêu năm,
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai!
Nghĩ đời mà ngán cho đời! 

(Vịnh Thúy Kiều)
Những chặng đường 
nối tiếp

Chuyển sang thời hiện đại, có thể chia lịch sử tiếp nhận, nghiên cứu “Truyện Kiều” theo ba chặng đường. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám với tên tuổi những Lê Thước, Phạm Quỳnh, Hoa Bằng, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Trương Tửu... Những ý kiến của các nhà nghiên cứu này thiên về xác định “lai lịch”, “nguồn gốc”, thiên về quan sát hình thức, so sánh cốt truyện, cấu trúc chương đoạn và nhận diện tổng quát. 

Trên thực tế có thể xác định học giả Đào Duy Anh là người đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu so sánh một cách tương đối hệ thống, khách quan, theo xu thế khoa học hiện đại qua công trình “Khảo luận về Kim Vân Kiều” (1943). Trong công trình này, Đào Duy Anh tóm tắt cốt truyện và nội dung chi tiết 20 hồi của thiên tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” đối sánh với “Truyện Kiều” (chia thành ba phần theo thứ tự 3 chương - 6 chương - 4 chương và trong mỗi chương này lại chia từ 2 đến 5 mục nhỏ). Phù hợp với cách so sánh “Truyện Kiều” với “Kim Vân Kiều truyện” trong thế đối sánh về kết cấu, Đào Duy Anh nêu lên những nhận xét hữu lý: “So sánh hai bản cương yếu trên, ta thấy Nguyễn Du giữ nguyên sự tích của tiểu thuyết Tàu, hầu như không thêm bớt chút gì… Song nguyên văn thì tự thuật rườm rà, tỉ mỉ, kết cấu theo một trật tự dễ dàng đơn giản, mà Nguyễn Du thì châm chước và sắp đặt lại thành một tổ chức có giàn giá chặt chịa, có mạch lạc khít khao” (Sđd, tr.60)...

Giai đoạn từ 1945 đến 1975 với đóng góp của Bùi Kỷ, Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ, Đặng Thanh Lê, Xuân Diệu, Vũ Hạnh, Trần Quang Huy... Từ nhiều phương diện khác nhau như sưu tầm tư liệu, dịch thuật, khảo sát so sánh các cấp độ nội dung tư tưởng, hệ thống nhân vật, cảm hứng chủ đạo..., các nhà nghiên cứu đã xác định rõ hơn giá trị kiệt tác “Truyện Kiều”. Có một thực tế, giới nghiên cứu phía Bắc thiên về khảo sát nội dung tư tưởng và ý nghĩa đấu tranh xã hội thì học giả phía Nam thiên về vận dụng lý thuyết phương Tây để khảo sát vị thế con người cá nhân, kiếm tìm tự do, màu sắc hiện sinh… Có thể nhấn mạnh ý nghĩa khoa học của tập sách “Đọc lại Truyện Kiều” (1966) của Vũ Hạnh và chuyên luận “Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du” (1970) của Lê Đình Kỵ…

 Giai đoạn từ sau 1975 đến nay với nhiều kiến giải mới mẻ của Đặng Thanh Lê, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Nguyễn Tài Cẩn, Phạm Đan Quế, Đào Thái Tôn, Nguyễn Quảng Tuân... Nhìn chung, các nhà nghiên cứu “Truyện Kiều” giai đoạn cuối thế kỷ XX đến nay đã ngày càng tự ý thức rõ hơn cả đối tượng, phạm vi, phương pháp và mục đích so sánh, luận bình. Ở đây có thể kể đến 4 công trình nghiên cứu tiêu biểu theo những quan niệm và định hướng tiếp cận khác nhau. Chuyên luận “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” (1985) của Phan Ngọc đặt cược vào lý thuyết phong cách nhằm xác định những cái nhất, độc đáo về tư tưởng nghệ thuật, biện chứng tâm lý, đặc sắc ngôn từ, tuy có phần tư biện. Với Trần Đình Sử, khởi đầu từ tiểu luận “Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều và cảm quan hiện thực của Nguyễn Du” (1981), “Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong Truyện Kiều” (1983), tiến đến “Thi pháp Truyện Kiều” (2001) đã mở ra cả một tư trào và trở thành bài tập mẫu cho nghiên cứu thi pháp ở Việt Nam. Đến “Nguyễn Du đại thi hào dân tộc” (1996) của Phạm Công Thiện là hành trình truy tìm triết học nhân sinh qua thân xác chữ, quan hệ giữa chữ - văn bản và tác phẩm. Tiếp đến “Thả một bè lau” (2005) của Nhất Hạnh lại nhìn sâu vào triết lý “Truyện Kiều” từ cảm quan Phật giáo, sự tương hợp, giác ngộ và tỉnh thức của tuệ giác: “Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao” – “Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời” – “Ở không an ổn, ngồi không vững vàng” – “Một mình mình mình biết, một mình mình hay”…

Bên cạnh các cách tiếp cận tác gia Nguyễn Du và “Truyền Kiều” khác nhau tùy theo trình độ, mục đích, yêu cầu thì việc nhận diện tác phẩm trong tương quan định hướng so sánh chắc chắn sẽ hữu ích trong hoạt động nghiên cứu, phổ biến, giảng dạy và học tập. Ở đây có sự phân cấp cho những người yêu thích và mới làm quen với “Truyền Kiều”, chỉ cần đọc hiểu “Truyện Kiều” trong văn mạch dân tộc. Sự hiểu biết tương quan “Truyện Kiều” ở tầm khu vực và thế giới giúp độc giả đại chúng thêm hiểu biết về truyền thống văn chương dân tộc. Ở tầm mức chuyên sâu, các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, mở rộng chiều kích so sánh giữa các tác phẩm đồng loại hình truyện thơ để thấy rõ hơn các giá trị nội dung và nghệ thuật “Truyện Kiều” trong biểu đồ phát triển chung của nền văn học toàn thế giới

Trên căn bản của giải thích học và sự thay đổi, cập nhật các phương pháp nghiên cứu mới đã đưa đến những cách hình dung mới, nhận thức mới về giá trị kiệt tác “Truyện Kiều”. Thêm nữa, di sản “Truyện Kiều” còn tiếp tục tỏa sáng ở khả năng kích thích sáng tạo, phái sinh, mở đường cho nhiều thể loại, loại hình và bộ môn nghệ thuật khác nữa…

Đón đọc kỳ tới: 

So sánh “Truyện Kiều” - từ khu vực đến
thế giới
(0) Bình luận
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Góp phần định hình tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam
    PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đánh giá, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết của Quốc hội, ngày 24/4/2026) là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết của Quốc hội góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam.
  • Du khách ngược dòng thời gian, trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung”
    Nhiều du khách vào Đại nội Huế trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung” tại Nhà hát Duyệt Thị Đường.
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều": Kỳ 4 Những ngả đường tiếp nhận
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO