Tác giả - tác phẩm

Thi Hoàng: “Nước mắm thành hương của tư duy”

Nhà thơ Vũ Quần Phương • 15:49 15/09/2023

Nhà thơ Thi Hoàng tên thật là Hoàng Văn Bộ, sinh ngày 5/5/1943 tại Vĩnh Tiến, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Ông làm việc nhiều năm ở Sở Văn hóa và Hội Văn nghệ Hải Phòng, hiện đã về hưu và vẫn viết ở Hải Phòng.

nha-tho-thi-hoang.jpg

Thi Hoàng làm thơ vào thời kỳ máy bay Mỹ oanh tạc ác liệt miền Bắc. Hai câu thơ viết về thiên nhiên thời chiến: bầu trời gan góc xanh dù ngày sẽ nhiều báo động và sức sống quyết liệt của mặt đất đã thành biểu tượng thơ của cuộc kháng chiến khi ấy: “Trời thì xanh như rút ruột mà xanh/ Cây thì biếc như vặn mình mà biếc”.

Thi Hoàng là cây bút chịu tìm tòi: thể nghiệm các cách diễn đạt, thể nghiệm cả cách tư duy mới, cách cảm xúc mới. Thi Hoàng có đòi hỏi cao cho thơ. Ông không tham in nhiều, nhưng lao động thơ kiên nhẫn. Chú trọng tìm một bút pháp có sức ma sát mạnh vào tâm hồn người đọc. Những bài thơ thời đầu, khoảng 20 năm, thường hay về câu, có những câu trội. Trội ý, trội tình, nhất là trội về cách diễn đạt. Nhưng toàn bài thì chưa liền khối, chưa xác định tâm trạng sâu sắc phải có của tác giả trước đề tài. Thi Hoàng có phần ảnh hưởng Chế Lan Viên trong lập ý vá trong khuynh hướng triết lý. Triết lý thường tư biện, siêu hình - vốn là bệnh của các nhà thơ giàu ý tưởng. Năm tháng, kinh nghiệm trường đời và những lo toan thiết thực, giúp họ khắc phục dần. Năm 1995, với tập trường ca “Gọi nhau qua vách núi”, Thi Hoàng đã “xác định” được mình, đã kết hợp được mới lạ và sâu sắc. Ông có cách cụ thể hóa những ý niệm trừu tượng. Ông diễn đạt như rạch ấn tượng vào người đọc. Trong lời “Xin phép xuất bản”, như một khai từ cho trường ca, ông giãi bày việc làm thơ: “Tôi là kẻ bị những ý tưởng đuổi săn chạy vào con đường độc đạo/ Những con chữ đã in đó là vết chân của tôi chạy qua trang báo/ Mong tìm về nơi yên ổn cũng không xong/ Khi giơ tay gõ vào vầng trán mình/ Như gõ cửa căn nhà thân quen/ Giờ trong ấy có những người lạ ở”.

Chiêm nghiệm đúng, diễn tả bạo. Đúng - vì được hình thành từ chiêm nghiệm nên cụ thể và sâu sắc. Phát hiện vào bản chất sự việc được lóe lên từ trong nhận xét, đôi khi như vu vơ. Như có lần ông nói tới cái ngáp lén trong cuộc họp trọng đại ở Liên hiệp quốc. Đấy là thành tựu kết tinh của hàng chục năm lao động thơ kiên trì. Đấy cũng là không gian đủ độ rộng cho cách diễn đạt lạ, bạo, vốn là sở trường của Thi Hoàng, được đắc địa tung hoành. Ông chơi chữ trong chuyện “bán thơ”: “Bán cho tiên nhưng tiên chẳng có mà/ Bán cho ma nhưng ma chẳng có tiền”. Đùa cũng là đùa mà thật cũng là thật, nhưng ai hiểu tương quan lượng và chất thơ bây giờ thì hẳn nhận ra ý vị hài hước khá “nên thơ" ngay trong ngữ cảnh chơi chữ này. “Thơ ấy mà tỉnh quá cũng là điên”.

Thi Hoàng có năng khiếu độc đáo là “trần tục hóa", nói rõ hơn là “ẩm thức hóa", đề cao vị giác, mọi vẻ đẹp thiêng liêng, mọi không gian cao cả: Ông cảm nhận thiên nhiên đêm trong sự hòa hợp bằng âm điệu du dương và nếm nó, quả trái thì ngọt và các ngôi sao thì… mặn: “Nỗi buồn du dương côn trùng rì rào/ Quả nín nhịn trở mình ngọt lự/ Đỉnh trời mằn mặn mấy ngôi sao”.

Ông táo bạo lập ý, sự táo bạo thành thói quen, ngay cả khi nói việc đau xương đau cốt thông thường, vốn dễ trò chuyện: “Ai đang lùng sục trong xương cốt tôi/ Nhức buốt lần mò đi hành hương”. Nhưng nhiều hơn, sự táo bạo của ông biểu hiện một cách lôi thơ đến gần đời, như đời. Đây công dụng của tình yêu trong sự nuôi người được kéo vào bếp núc: “Tình yêu của tôi là lửa để nấu chín thức ăn/ Là nước chảy theo những đường ống quanh co với chiếc thùng người hứng”.

Thói quen hạ những khái niệm cao cả xuống ngang tầm tay trần thế, Thi Hoàng không dùng lửa khái niệm mà dùng lửa cụ thể - lửa nấu chín thức ăn, và nước thì như nước của nhà máy nước thành phố thời kỳ dùng máy nước công cộng trong các khu chung cư. Ý thơ trở nên gần người, nó sống với người. Dễ cảm nhận và in vào trí nhớ bằng tính độc đáo mà đương nhiên trong sự so sánh. Độc đáo dễ thành kỳ khu, Thi Hoàng độc đáo để thành đương nhiên do ông có một “phép thuật” cao cường là trộn lẫn rất tài những thứ cụ thể tầm thường, thậm chí quá tầm thường, rất không thơ vào những lập luận mỹ miều chính xác, tạo nên một thứ hổ lốn đầy chất thơ và đầy tính hiện đại. Một chất thơ mới mẻ so với thi pháp cổ điển và ngay cả với thi pháp của thời Thơ Mới (1932-1945). Hai thi pháp trên lấy đẹp trừu tượng cao cả và tù mù trộn với đẹp cụ thể thường ngày, thậm chí trộn với cái không đẹp cũng rất đời thường mà tạo ra tương quan thơ bất ngờ. Bất ngờ vì ông có lý trong các so sánh trái khoáy ấy. Tập thơ “Bóng ai gió tạt” (Hội nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng năm 2002) cho thấy một Thi Hoàng cứ trái khoáy mà lại chín việc đời. Ông tìm ra chất thơ sâu sắc trong những chuyện đời bình dị. Ông giúp cho người đọc đọc ra cái vẻ đẹp đến ứa nước mắt của đời thường khi quan sát những đứa trẻ chơi trước cửa đền: “Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất/ Làm được buổi chiều rất giống ban mai/ Thánh cũng hân hoan, đố ai biết được/ Ngài ở trong kia hay ở ngoài này”.

Trong kia là hậu cung ngạt ngào nhang đăng u ẩn, ngoài này là thằng cu cái hĩm đang đùa chơi liến láu, thánh đang ở phía nào? Cách triết lý của Thi Hoàng bây giờ giản dị mà giúp đời, khác nhiều so với thời ông sính làm thơ trí tuệ. Ông tưởng nhớ Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú Kim Ngọc bị kỷ luật vì tội đi trước thời đại. Lời lẽ ôn tồn mà thấm thía, xót xa. Thơ như lời tự nhủ, mang giọng tự nhủ thấm thía: “Nhớ bác quá bác Kim Ngọc ạ/ Gạo giờ có lúc thừa mà cháu đâu dám để cơm rơi/ (...) Cơm rơi vãi là tâm hồn rơi vãi/ Thế thì làm thơ về bác làm gì”.

Đóng góp của Thi Hoàng chính là ông chỉ cho ta thấy những khía cạnh thâm trầm ẩn giấu đó của đời trong một nụ cười tươi như… mếu. Năm 2002, trong một bài thơ tặng Thi Hoàng, tôi đã tự “đánh dấu” vào lòng mình, món đặc sản “trộn lẫn” rất lợi hại này của ông: “Anh trộn lẫn với nhiều chiều kích thước/ trộn lẫn thơ, nước mắm với nội hàm./ Thơ có vị và nội hàm mằn mặn/ nước mắm thành hương của tư duy/ Anh thành ông phù thủy/ lấy rốn con chuồn chuồn làm câu cổ thi”.

Sang thế kỷ 21, ông cho xuất bản hai tập trong thập niên đầu, cảm hứng còn săn lắm. Tập đầu có cái tên hơi lằng nhằng “Theo đuổi tự nhiên và những bài liên quan hay là Cộng sinh với những khoảng không”. Đọc thơ có hơi mệt. Mệt như đọc cái tên tập. Có lẽ ông mải “trộn” quá. Thành ra trọng ý hơn tứ. Mất cái thú của hàm súc. Tập sau nhan sắc hơn. Ngồi “Chờ hoa nở” hay “Ngồi với chó đá” đều duyên dáng. Tuổi ấy thơ ấy, cũng là sức bền của cảm hứng./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • Ra mắt tác phẩm văn học thiếu nhi kinh điển “Khu vườn bí mật”
    Crabit Kidbooks liên kết với NXB Hà Nội vừa ra mắt ấn bản “Khu vườn bí mật” của nhà văn người Anh - Frances Hodgson Burnett, với phần minh họa của họa sĩ Inga Moore và bản dịch của Ngô Hà Thu.
  • Hồi ức “Những ô cửa gió lộng” - Khi tình yêu ở lại
    Tưởng niệm 38 năm ngày mất của gia đình nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ (29/8/1988 - 29/8/2026), sáng 29/8/2026, tại Hà Nội, NXB Kim Đồng tổ chức chương trình “Giới thiệu sách Những ô cửa gió lộng và giao lưu Xuân Quỳnh cùng tình yêu ở lại”. Chương trình có sự tham dự của tác giả Lưu Tuấn Anh, nhà báo Lưu Minh Vũ cùng các văn nghệ sĩ, độc giả yêu mến nhà thơ Xuân Quỳnh.
  • Nhạc sĩ Tuấn Phương: Lưu luyến những mảnh hồn quê
    Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, nhạc sĩ Tuấn Phương có khoảng 400 tác phẩm. Dù sáng tác ở đa dạng thể loại, nhưng khi nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ đến những ca khúc trữ tình như “Tình đất”, “Biển chiều”, “Bến sông xưa”, “Người ơi hãy về”… Có lẽ, điều gần gũi với người nghe hơn cả chính là những lời ca thủ thỉ về quê hương xứ sở, về nỗi nhọc nhằn của con người, về tình yêu đôi lứa. Tình đất và cũng là tình người, tình quê luôn thường trực trong các sáng tác của nhạc sĩ Tuấn Phương.
  • Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát: Quen mà lạ trong tự truyện cuộc đời “Đi theo một quầng sáng”
    Khi biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát đang lao tâm khổ tứ với những đêm thức giấc, những ngày miệt mài viết tự truyện cuộc đời mình, tôi thầm nghĩ trong thời kỳ công nghệ số lên ngôi, còn mấy ai muốn đọc một cuốn tự truyện dày gần 500 trang nữa dù tôi biết cuộc sống của chị cũng có nhiều khúc quanh, khúc rẽ mà không ít người tò mò muốn biết... Thế mà trái với ý nghĩ ban đầu, khi cầm trên tay cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng” (NXB Văn hóa Dân tộc, 2026) của chị, tôi đã đọc say sưa, hào hứng, thậm chí đọc miệt mài quên cả thời gian. Chỉ hai ngày, tôi đã “ngốn” xong cả dòng chảy ký ức cuộc đời tác giả.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội: Từ dấu ấn đổi mới sáng tạo đến lộ trình số hóa các di tích lịch sử - văn hóa
    UBND xã Hưng Đạo (TP Hà Nội) cho biết, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 21/NQ-HĐND của HĐND xã, chính quyền địa phương dự kiến triển khai số hóa đình So – Di tích Quốc gia đặc biệt, vào Quý IV năm 2026.
  • Hà Nội khẳng định trung tâm kiến tạo của đất nước, nơi tụ hội và lan tỏa văn hóa thế giới
    Đặt dòng chảy sáng tạo đương đại vào giữa lòng di sản nghìn năm - Hoàng thành Thăng Long, nơi hội tụ văn hóa từ 50 quốc gia tại Lễ hội Văn hóa Thế giới lần thứ hai - năm 2026, Hà Nội phát đi thông điệp: Thủ đô của Việt Nam đang thực sự trở thành trung tâm kiến tạo, lan tỏa văn hóa toàn cầu, tiên phong hiện thực các mục tiêu, giải pháp về phát triển văn hóa Việt Nam theo Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra.
  • Để Hà Nội chủ động hơn trong phát triển đô thị và quy hoạch, kiến trúc
    Trong bối cảnh Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới”, Quốc hội thông qua Luật Thủ đô 2026 (có hiệu lực từ 1/7) thì việc HĐND Thành phố Hà Nội ban hành Nghị quyết số 64/2026/NQ-HĐND quy định về loại quy hoạch; lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch không gian ngầm; hoạt động quy hoạch đô thị và nông thôn; hoạt động kiến trúc trên địa bàn thành phố Hà Nội là rất cần thiết.
  • Huế khảo sát, định hướng phát huy giá trị các di sản và không gian văn hóa
    TP Huế khảo sát, định hướng kết nối giữa các điểm di tích, không gian văn hóa và cảnh quan sông nước để hình thành những sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng và nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
  • Sắp diễn ra chuỗi sự kiện tôn vinh làng nghề, sản phẩm OCOP tại Hà Nội
    Sáng 30/9 tại Hà Nội, Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổ chức gặp mặt báo chí thông tin về chuỗi sự kiện xúc tiến, quảng bá làng nghề năm 2026, gồm Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22, Tuần lễ quảng bá, kết nối du lịch nông nghiệp, nông thôn và Lễ trao giải Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam năm 2026.
Đừng bỏ lỡ
Thi Hoàng: “Nước mắm thành hương của tư duy”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO