Văn hóa – Di sản

Phạm Thái – một đời thơ khắc khoải

Nguyễn Tiến Thịnh 21/11/2023 11:06

Phạm Thái, còn có tên Phạm Đan Phượng, Phạm Phượng Sinh, hiệu Chiêu Lỳ, sinh ngày 19 tháng Giêng năm Đinh Dậu (26-2-1777) tại làng Yên Thị, xã Yên Thường, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội). Ông là con Trạch Trung hầu Phạm Đạt, một quan võ cao cấp thời Cảnh Hưng nhà Lê. Phạm Đạt từng tham gia chống Tây Sơn nhưng không thành.

pham-thai.jpg
Một khung cảnh ở nước ta (khu vực Đà Nẵng ngày nay) tương ứng giai đoạn Phạm Thái còn thanh niên.

Khi phong trào chống Tây Sơn nổ ra thì Phạm Thái cũng cùng cha tham gia cuộc nổi dậy chống Tây Sơn. Sau khi phong trào thất bại, ông phải lẩn trốn khắp nơi. Tiếp nối ý chí của cha, năm 20 tuổi, Phạm Thái đi chu du nhiều nơi, ông muốn tìm và kết bạn với người có chung chí hướng. Khi gặp Phổ Tỉnh Thiền sư (Trương Quang Ngọc) và Nguyễn Đoàn đang gây dựng nghĩa quân chống Tây Sơn, ông viết bài Quân yếu nhằm bàn kế dụng binh, cùng nhau chống tân triều Tây Sơn, nhưng không được dùng. Sau đó, ông đi tu ở nhiều chùa, nhưng chùa mà ông hay đến là chùa Tiêu Sơn ở huyện Yên Phong, trấn Kinh Bắc (tức chùa Thiên Tâm nằm trên lưng chừng núi Tiêu, nay thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), đặt đạo hiệu là Phổ Chiêu Thiền sư.

Sau mấy năm đi tu, một người bạn của ông là Thanh Xuyên hầu Trương Đăng Thụ (người làng Thanh Nê, huyện Kiến Xương, trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Thái Bình), mời ông lên Lạng Sơn bàn chuyện Cần Vương (phù Lê). Năm sau, khi ông trở về thăm nhà thì được tin Trương Đăng Thụ bị đại thần Vũ Văn Dũng đầu độc chết (Từ điển Văn học (Bộ mới) (2004) ghi “ốm chết), được đem về an táng tại quê nhà. Ông liền đến làng Thanh Nê dự tang bạn, rồi được cha bạn là Kiến Xương hầu Trương Đăng Quỹ giữ lại nhà. Tại đây, Phạm Thái đem lòng yêu mến Trương Quỳnh Như, em gái Trương Đăng Thụ, con gái Kiến Xương hầu Trương Đăng Quỹ. Phạm Thái và Trương Quỳnh Như cùng làm thơ xướng họa, rồi thầm yêu nhau. Từ đó, toàn bộ chí hướng, nghị lực của Phạm Thái đặt hết vào cuộc tình. Mọi sự nghiệp, công danh, kể cả mối hận về sự nghiệp khuông phò chính thống đều bỏ lại đằng sau. Cảm phục tài thơ của ông, Kiến Xương hầu định gả con cho Phạm Thái, nhưng người mẹ muốn gả cho một người giàu có tên là Trịnh Nhị.

Bị ép gả, Quỳnh Như uất hận mà tự vẫn, còn Phạm Thái đau khổ, từ đó đi lang bạt giang hồ. Cuối đời ông chìm đắm trong men rượu, uống rượu làm thơ. Văn thơ của ông phần nhiều nhuốm tư tưởng bi quan và yếm thế. Chưa có một tài liệu nào khẳng định Phạm Thái mất ở đâu, năm nào, song các nhà nghiên cứu đều đưa ra giả thuyết ông mất ở Thanh Hóa năm Quý Dậu (1813), lúc 36 tuổi. Cũng có tài liệu ghi ông mất năm 1814, bởi vì các sáng tác của nhà thơ hiện còn lưu lại đến nay cũng dừng ở thời điểm 1814.

Tác phẩm của Phạm Thái gồm một số thơ văn (chủ yếu bằng chữ Nôm), một số bài tiêu biểu: Tự trào, Đề mỹ nữ đồ, Đề chùa Tiêu Sơn, Đề núi con voi, Họa thơ mừng tiệc sinh nhật Thanh Xuyên hầu, Văn triệu linh (còn có tên Đề nhà nghĩa lư của Long Cơ), Diễn thơ Trương tử lang và bài Văn bia mộ Thanh Xuyên hầu bằng chữ Hán (sau chính tác giả lại dịch ra lục bát), v.v... Đặc biệt, từ mối tình với Trương Quỳnh Như, phạm Thái đã sáng tác một số thơ văn hết sức đặc sắc, trong đó có các bài xướng họa với Quỳnh Như: Cầm tháo, Thuật hoài... Khi Quỳnh Như qua đời, ông có bài Văn tế Trương Quỳnh Như, bài Văn triệu linh Trương Quỳnh Như và một truyện thơ Nôm nhan đề Sơ kính tân trang.

Phạm Thái là con người tài hoa, sống dấn thân, nhập cuộc một cách thiên lệch, cực đoan. Tài năng của ông thể hiện ngay từ những bài thơ Nôm đoản thiên, lối thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với câu chữ sống động, gợi cảm:

Đèn mờ khôn tỏ bóng,

Nguyệt khuyết mái tây hiên.

Xa xa rền tiếng trống,

Lồng lộng chốn binh điền.

(Trời Đông nghe trống đánh)

Ông là người sáng tạo ra những bài thơ yết hậu tinh nghịch, độc đáo, bất chấp và bất cần đời:

Một năm mười hai tháng,

Một tháng ba mươi ngày.

Hũ lớn cạn, hũ bé cạn,

- Say!...

Một bài khác:

Sống ở dương gian đánh chén nhè,

Chết về âm phủ cắp kè kè.

Diêm Vương phán hỏi rằng chi đó?

- Be!...

Thơ văn Phạm Thái mang bóng dáng một con người ngang tàng, thể hiện cái uất ức trước thời thế, bất mãn với cuộc đời. Người ta không tìm thấy một câu thơ, văn nào của Phạm Thái viết về sự kiện nghĩa quân Tây Sơn đánh bại 29 vạn quân xâm lược nhà Thanh. Phạm Thái là con cháu công thần triều Lê, cho nên ông có thái độ bất hợp tác với vương triều Tây Sơn, phản bác lại tất cả những gì mà xã hội mới cho là tốt đẹp. Bài Chiến tụng Tây Hồ phú được viết năm 1802 là một minh chứng cho thái độ cực đoan của Phạm Thái với triều đại Tây Sơn. Đây là bài phú họa lại 85 vận của bài Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng (Nguyễn Huy Lượng giữ chức Hữu thị lang Bộ Hộ dưới triều Lê; đến triều Tây Sơn, ông không câu chấp, hợp tác với chính quyền mới). Toàn bộ bài Chiến tụng Tây Hồ phú thể hiện tính cực đoan của Phạm Thái trước vẻ đẹp của Tây Hồ. Ông nêu ra hàng loạt những hình ảnh đối lập với vẻ đẹp trong bài Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng:

Lở hầm hoang hoác vũng, cát xô lên mỏ phượng lù xù,

Nhà tranh đua điều khấn Phật cầu ma, Đường Quan Thánh khéo

lăng nhăng lít nhít,

Chợ rộn rịp những buôn hùm bán quỷ, mái Trường Lương

nghe láo nháo ỉ o...

Không chỉ đưa ra một loạt các cảnh tượng quái đản về Tây Hồ, Phạm Thái còn triệt để khai thác những khía cạnh trái chiều, biếm họa và vẽ nên những hình ảnh nghịch dị:

Bãi Đuôi Nheo tanh ngắt giống tinh chiên, nước trong hờn vẻ nguyệt chẳng còn ưa, thuyền du tử lái giong ra cho chóng;

Hồ Cổ Ngựa thối hoặng mùi đại tiểu, hoa thơm giận chiều xuân

sao nỡ phụ, lều cử nhân gianh đã nát như vò...

Như vậy, Chiến tụng Tây Hồ phú mang một màu sắc trái ngược hoàn toàn với bài Tụng Tây Hồ, màu sắc bao trùm toàn bộ bài phú là một gam màu xám với nghịch cảnh trớ trêu, những lời lẽ đầy bi thương, tang tóc... Phạm Thái là một trung thần của nhà Lê, ông viết bài này chỉ với mục đích duy nhất là đả phá triều Tây Sơn, không chấp nhận chính quyền Tây Sơn.

Đặc biệt hơn, thơ văn Phạm Thái còn thể hiện một con người tài tử, một người khát khao tình yêu đến tột cùng, bất chấp mọi lễ giáo của xã hội đương thời. Một mặt, trong những bài thơ tự thuật, tự trào, thuật hứng, ông biếm họa cả chính mình và phản ánh tâm trạng kiểu “con người thừa”:

- Có ai muốn biết tuổi tên chi,

Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì...

Tranh vờn sơn thủy màu nhem nhuốc,

Bầu dốc kiền không giọng bét be.

Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,

Sống thời nuôi lấy chết chôn đi.

(Tự trào)

- Năm bảy năm nay cứ loạn ly,

Cảm thương thân phậm lỡ qua thì.

Ba mươi tuổi lẻ là bao tá,

Năm sáu đời vua thật chóng ghê.

Một cặp thơ sầu ngâm đã chán,

Vài be rượu lạt uống ra gì.

Thôi về tiên Phật cho xong nợ,

Cái kiếp trần gian sống mãi chi.

(Tự thuật)

Mặt khác, nhu cầu về hạnh phúc, về quyền sống trong thơ Phạm Thái bộc lộ trực diện, mạnh mẽ, sâu sắc, thiết tha. Trong mối tình với Trương Quỳnh Như, Phạm Thái có nhiều bài thơ xướng họa, đề vịnh, tỏ tình thương nhớ thực sự ấn tượng. Khi nàng qua đời, Phạm Thái thể hiện nỗi xót xa, thương cảm. Bài Văn tế Trương Quỳnh Như thể hiện một tâm trạng đau đớn, bi kịch của tác giả. Mở đầu và kết thúc tác phẩm là những câu hỏi được lặp lại nhiều lần, cho thấy sự tiếc nuối như chạm khắc vào thời gian:

Nương tử ơi! Chướng căn ấy bởi vì đâu? Oan thác ấy bởi vì đâu?

Cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thu lẩn trăng rằm!

Ta hăm hở chí trai hồ thi, bởi đợi thời nên nấn ná nhân duyên;

mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh.

Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm;

Chua xót cũng vì đâu? Não nuột cũng vì đâu?

Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, sụt sùi hai hàng tình lệ; giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài tỏ cùng nương tử.

Trước một mối tình với nhiều hệ lụy, Phạm Thái như đắm chìm trong nỗi nhớ Trương Quỳnh Như:

Trời xanh thăm thẳm mấy tầng khơi,

Nỡ để duyên ai luống ngậm ngùi.

Buồn đốt lá vàng hương nhạt khói,

Sầu châm chén ngọc, rượu chìm hơi.

Lầu Tây nguyệt gác, mây lồng nóng,

Ải Bắc hồng bay bổng tuyệt vời.

Một mối chung tình tan mấy mảnh,

Suối vàng ai nhắn hộ đôi lời!

Kết tinh câu chuyện tình yêu thực có trong cuộc đời, vào năm Giáp Tí (1804), Phạm Thái đã viết nên truyện thơ Nôm Sơ kính tân trang độc đáo, giàu màu sắc tự thuật. Khác với hầu hết các truyện thơ Nôm đương thời, Phạm Thái xây dựng cốt truyện dựa theo chính mối tình của mình, thậm chí đưa vào đó cả những bài thơ xướng họa của hai người. Về tên các nhân vật, ông chuyển Phạm Thái thành Phạm Kim, Trương Quỳnh Như thành Trương Quỳnh Thư. Tác phẩm Sơ kính tân trang có 1484 câu thơ, chủ yếu là những câu thơ lục bát, có đôi chỗ viết theo thể song thất lục bát, thất ngôn Đường luật... Sơ kính tân trang cho thấy một sự đổi mới mạnh mẽ của thể thơ trữ tình tiếng Việt, hệ thống nhân vật được xây dựng trên cuộc đời của những con người thật. Đây chính là điểm mới so với các truyện Nôm ra đời trước hoặc cùng thời. Sơ kính tân trang cũng cho thấy một kết cấu có phần khác biệt so với kết cấu của truyện Nôm truyền thống, nhưng vẫn giữ được khung mô hình diễn tiến theo ba chặng đường đời: Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ. Phạm Thái đã khai thác triệt để các quan niệm của Phật giáo, của văn hóa truyền thống văn hóa dân gian để xây dựng tác phẩm thỏa mãn được các khía cạnh tâm lý của con người: một là không chấp nhận sự thật phũ phàng của bản thân; hai là người tốt sẽ được đầu thai và có cuộc sống hạnh phúc. Nhiều nhà nghiên cứu thường cho rằng tác phẩm truyện Nôm của Phạm Thái không tuân thủ quy tắc của truyện Nôm truyền thống, nhưng chính điều này đã tạo nên một phong cách nghệ thuật đặc sắc riêng của ông. Hình thức nghệ thuật trong tác phẩm của Phạm Thái là do cảm xúc điều khiển, dẫn dắt:

Lửa ân dập mãi sao không tắt,

Bể ái khơi mà cũng chẳng vơi.

Người con trai viết bức thư bằng thơ thể hiện được niềm xúc động riêng tư qua những hình ảnh thiên nhiên thấm đượm tình trai trẻ:

Oanh yến véo von gọi khách,

Cỏ hoa hớn hở mừng ai.

Gió xuân hây hẩy giục đưa người,

Dễ khiến lòng thơ bối rối...

Vượt qua những giới hạn của khuôn phép lễ giáo, Quỳnh Thư khi nhận được thư của chàng Phạm Kim cũng bày tỏ niềm xúc động, hân hoan chào đón tình yêu như một cơ may và niềm hạnh phúc:

Im im màn sương đợi khách,

Thênh thênh cửa nguyệt chờ ai.

Giai nhân tài tử mấy lăm người,

Trạnh tưởng tâm tình thêm rối...

Không khí tình yêu thấm trong tâm hồn đôi lứa Phạm - Trương:

Lửa ân dập mãi sao không tắt,

Bể ái khơi mà cũng chẳng vơi...

thấm vào những người hầu là Hồng nương và Yến đồng qua những lời đối thoại, những câu thơ tình tứ:

Xin ghi ân với dạ này,

Lấy hoa ắt cũng có ngày trả hoa...

Và thấm cho đến cả người tu hành nơi cửa Phật:

Ra vào tiểu gái lẳng lơ,

Long lanh mắt liếc, say sưa miệng cười...

Đặt trong dòng truyện thơ Nôm truyền thống, Sơ kính tân trang là tác phẩm vượt ra khỏi quĩ đạo vay mượn cốt truyện nước ngoài. Tác giả Phạm Thái không chỉ tạo dựng cốt truyện thuần Việt mà còn đưa chính ngay câu chuyện cuộc đời mình, câu chuyện tình yêu của chính mình trình diễn công khai trước thế gian. Sự thử nghiệm này chưa phải đã đạt thành tựu nghệ thuật thật cao sang nhưng lại ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc trên phương diện thể hiện con người cá nhân và ý thức khẳng định quyền sống con người. Trên nền tảng đời sống đô hội thị thành phát triển đã tạo điều kiện sản sinh ra kiểu nhà Nho tài tử tiêu biểu như Phạm Thái, trở thành hiện thân của tình yêu, tự do và những giá trị nhân bản.

Toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Phạm Thái đã khẳng định một con người tài hoa, ngang tàng, phóng túng. Cái tài tử của Phạm Thái đôi khi là ngông nghênh, bảo thủ, chống lại những gì mà bản thân không chấp nhận, cũng không cần xem xét đó là đúng hay sai. Nhưng có lẽ chính đặc điểm này đã tạo nên một Phạm Thái với ngòi bút trữ tình, táo bạo trước lễ giáo phong kiến, tạo nên sự cách tân mang đậm phong cách cá nhân cho thơ trữ tình tiếng Việt. Là người gần như cùng thời với Phạm Thái, Nguyễn Tử Mẫn đã nhận xét: “Ông từ lúc còn bé đến khi nhớn, hết gặp gia biến lại gặp quốc nguy, trải bao cảnh ngộ đắng cay, thế mà văn càng điêu luyện, võ đủ lược thao, cho đến cầm kỳ thi họa cũng đều tinh thạo. Không phải bậc đại tài mà được như vậy sao?” (Phổ Chiêu thiền sư thi văn tập, 1932).../.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Quang Khải – thượng tướng, nhà thơ
    Trần Quang Khải là con trai thứ ba Trần Thái Tông, sinh năm 1240, mất năm 1294. Dưới triều Trần Thánh Tông (1258-1278), Trần Quang Khải được phong tước Chiêu Minh đại vương. Năm 1274, ông được giao chức Tướng quốc thái úy.
(0) Bình luận
  • Lập hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh di sản Múa rối nước và Phở
    Bộ VHTT&DL cho biết, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính đã giao UBND TP Hà Nội chủ trì, phối hợp với Bộ VHTT&DL, UBND tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên và thành phố Hải Phòng lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể “Phở” và “Múa rối nước”, đề nghị ghi danh vào danh sách của UNESCO.
  • Trải nghiệm không gian triển lãm số "Hà Nội rạng rỡ - Ánh sáng và Di sản"
    Tối 26/12, Không gian triển lãm số “Hà Nội rạng rỡ - Ánh sáng và Di sản” chính thức ra mắt công chúng tại Nhà triển lãm 93 Đinh Tiên Hoàng (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội).
  • Nhìn lại di sản họa sĩ Trịnh Hữu Ngọc
    Nhằm nhìn nhận, đánh giá và gợi mở những cách tiếp cận mới đối với di sản của họa sĩ, nhà thiết kế nội thất Trịnh Hữu Ngọc, sáng 23/12/2025, Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội - Bảo tàng Hà Nội đã tổ chức tọa đàm “Di sản Trịnh Hữu Ngọc - Một khoảng trống trong sử mỹ thuật Việt Nam”. Không chỉ góp phần phác họa chân dung một nghệ sĩ tiêu biểu, tọa đàm còn hướng tới làm rõ di sản tư tưởng thiết kế của Trịnh Hữu Ngọc, từ đó đặt ra những vấn đề rộng hơn về cách tiếp cận, ghi nhận và bảo tồn di sản thiết kế nội thất trong bối cảnh mỹ thuật Việt Nam đương đại.
  • Tôn vinh di sản, nghệ nhân và các công trình nghiên cứu tiêu biểu
    Kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất (1975–2025), Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tổ chức Triển lãm thành tựu văn hóa, văn nghệ dân gian, kết hợp Lễ mừng thọ hội viên cao tuổi, phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian và trao Giải thưởng Văn nghệ dân gian năm 2025.
  • Quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc đón bằng Di sản văn hóa thế giới
    Tối 20/12/2025, tại Khu di tích Yên Tử, Quảng Ninh, diễn ra Lễ đón nhận bằng của UNESCO ghi danh Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản văn hóa thế giới.
  • Giới thiệu, trưng bày di sản Chiêng Mường và Nhạc Ngũ Khmer tại Hà Nội
    Từ ngày 19 - 21/12 tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật 22 Hàng Buồm, diễn ra chương trình giới thiệu, trưng bày di sản Chiêng Mường và Nhạc Ngũ Khmer.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • “Những tương lai được đánh thức”: Thức tỉnh để đồng hành cùng con
    Trong nhiều năm trở lại đây, giáo dục và nuôi dạy con trở thành mối quan tâm lớn của xã hội. Sách về phương pháp học tập, kỹ năng nuôi dạy con, mô hình giáo dục hiện đại xuất hiện ngày càng nhiều. Tuy nhiên, giữa vô vàn lời khuyên dành cho trẻ, câu hỏi căn bản nhất đôi khi lại bị bỏ quên: Người lớn đã thực sự hiểu con hay chưa? Người lớn đã sẵn sàng thay đổi chính mình hay chưa?
  • “Việt Nam - Nhìn từ biển”: Bức tranh sinh động về biển đảo Việt Nam
    Biển từ lâu đã trở thành một phần không thể tách rời trong tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam. Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh, biển còn là không gian văn hóa, lịch sử gắn bó mật thiết với tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc. Qua những trang viết giàu hình ảnh và đầy xúc cảm, “Việt Nam - Nhìn từ biển” (NXB Chính trị quốc gia Sự thật) đưa người đọc bước vào một hành trình khám phá bức tranh sinh động, nhiều chiều và đầy sắc màu về biển đảo Việt Nam hôm nay.
  • Ra mắt sách “80 năm Quốc hội Việt Nam - Những dấu ấn lịch sử”
    Chiều 5/1/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Văn phòng Quốc hội tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách “80 năm Quốc hội Việt Nam - Những dấu ấn lịch sử”. Đây là công trình được biên soạn công phu, có ý nghĩa chính trị, lịch sử và thực tiễn sâu sắc, tái hiện một cách hệ thống và sinh động hành trình 80 năm xây dựng, phát triển của Quốc hội Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng.
  • 65 năm lịch sử rèn đức, luyện tài cho những chủ nhân tương lai của đất nước và Thủ đô
    65 năm miệt mài trong sự nghiệp trồng người, trường THCS Hoàn Kiếm (Hà Nội) đã trở thành “một địa chỉ vàng” chắp cánh cho bao ước mơ của lứa tuổi học trò quận Hoàn Kiếm xưa và phường Hoàn Kiếm nay. Với chất lượng, niềm tin, vị thế đã được khẳng định, thế hệ cán bộ, giáo viên nhà trường ngày nay đang vững vàng những bước tiến chinh phục đỉnh cao phát triển mới, bồi dưỡng nên những công dân toàn cầu.
  • [Podcast] Chè bà cốt – Hương vị ấm áp ngày đông
    Cái tên "chè bà cốt" dẫu chưa ai rõ có từ khi nào, nhưng từ lâu đã trở thành món ăn quen thuộc với nhiều người Hà Nội trong những ngày đông.
Đừng bỏ lỡ
  • Nhộn nhịp chợ hoa đêm Quảng An
    Khi phố phường Hà Nội dần chìm vào giấc ngủ, bên bờ hồ Tây, một không gian khác lại tấp nập kẻ mua, người bán. Chợ hoa đêm Quảng An (phường Hồng Hà) bắt đầu nhộn nhịp từ khoảng 23 giờ đêm và kéo dài đến rạng sáng. Đây không chỉ là chợ đầu mối cung cấp hoa lớn nhất Thủ đô mà còn là một “thế giới không ngủ”, nơi sắc hương và nhịp sống hòa quyện trong đêm.
  • Khát vọng thành thực - đường đến thơ
    Có thể coi bài thơ “Tự bạch” là “căn cước thơ” của nhà báo kỳ cựu Đỗ Quảng khi sinh hạ liền ba tập thơ “Thương lắm Sài Gòn ơi”, “Vui buồn tháng Tư”, “Những lời nói thật”, in liền trong mấy năm gần đây (2022 - 2025). Ba tập thơ gối kề với gần 180 bài thơ là một “con số biết nói”.
  • Về Ngôi nhà chung vui Tết bản làng
    Từ ngày 5 đến 31/1/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra chuỗi hoạt động tháng 1 với chủ đề “Tết bản làng”, giới thiệu các hoạt động đón xuân, nghi lễ, lễ hội và phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc Việt Nam.
  • Xã Thường Tín để mùa lễ hội diễn ra an toàn, văn minh, giàu bản sắc
    Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, xây dựng hình ảnh Thủ đô Hà Nội văn minh, thanh lịch, UBND xã Thường Tín đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện “Bộ tiêu chí về môi trường văn hóa trong lễ hội truyền thống” trên địa bàn xã năm 2026.
  • Âm nhạc cuối tuần: Khi giai điệu chào xuân lan tỏa giữa không gian văn hóa Thủ đô
    Chiều Chủ nhật đầu tiên của năm mới 2026, không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ trở nên ấm áp và giàu cảm xúc khi chương trình “Âm nhạc cuối tuần” diễn ra trong sự quan tâm của đông đảo người dân và du khách.
  • Đón năm mới 2026 bằng những thanh âm mùa xuân cùng “Âm nhạc cuối tuần”
    Trong chương trình cuối cùng của năm 2025, với nhiều nhạc phẩm quốc tế hiện đại, phóng khoáng đan xen cùng những giai điệu mùa xuân, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ tiếp tục trở lại trong không khí hân hoan của cả nước đón chào năm mới 2026 vào ngày 04/01.
  • Văn Miếu - Quốc Tử Giám ra mắt tour đêm “Âm sắc Việt”
    Đón năm mới 2026, tối 1/1, tại Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám ra mắt tour đêm “Âm sắc Việt”. Đây là một trong những sản phẩm văn hóa - du lịch mới mang tính thử nghiệm nhằm mang đến trải nghiệm mới cho du khách vào dịp Tết Dương lịch 2026.
  • Nhiều hoạt động xúc tiến, quảng bá, kích cầu của ngành Du lịch Thủ đô đầu năm 2026
    Nhằm chuẩn bị tốt nhất các điều kiện phục vụ du khách trong dịp Tết Dương lịch 2026, Chào mừng Đại hội Đảng lần thứ XIV và Tết Nguyên đán Bính Ngọ, Sở Du lịch Hà Nội đã có văn bản gửi các phường, xã, các đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch trên địa bàn sẵn sàng phục vụ người dân và du khách, đồng thời tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự,...
  • Người dân Thủ đô hân hoan ngắm pháo hoa, chào năm mới 2026
    Đúng 23h45 ngày 31/12/2025, màn pháo hoa tuyệt đẹp chào đón năm mới 2026 rực sáng trên bầu trời Hà Nội như lời chúc năm mới sức khoẻ, hạnh phúc đến với hàng triệu người dân Thủ đô.
  • “Chào năm mới 2026 - Bản giao hưởng Việt Nam” bữa tiệc nghệ thuật chào năm mới
    “Chào năm mới 2026 - Bản giao hưởng Việt Nam” diễn ra lúc 20h10 ngày 1/1/2026 trên kênh VTV1 sẽ mang đến bức tranh nghệ thuật giàu cảm hứng, kết nối những câu chuyện sáng tạo, nhân văn và khát vọng phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Phạm Thái – một đời thơ khắc khoải
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO