Văn hóa – Di sản

Nguyễn Kiều – nhà thơ sứ thần và mối chung tình “tài tử giai nhân”

Nguyễn Vinh Phúc 09/11/2023 16:46

Nguyễn Kiều hiệu là Hạo Hiên, người làng Phú Xá, nay thuộc Phú Thượng, quận Tây Hồ, sinh năm Ất Hợi (1695). Từ nhỏ Nguyễn Kiều đã nổi danh học giỏi. Năm 18 tuổi, đi thi lần đầu đỗ ngay Giải nguyên. Năm 21 tuổi đậu Tiến sĩ. Năm 1771, được bổ làm Đốc đồng trấn Tuyên Quang. Năm 1734, cải bổ vào Nghệ An, làm chức Đốc thị, hai năm sau thăng Thừa Tuyên trấn ấy. Ông lại từng là Chánh sứ đi tuế cống nhà Thanh năm 1742 - 1745. Ông có tập thơ Hạo Hiên thi tập.

nguyen-kieu.jpg
Bức hoành phi ở nhà cũ tương truyền là của TS Nguyễn Kiều được chuyển từ nhà dải vũ trước điện Kính Thiên trong Cấm Thành Thăng Long về dựng làm nhà ở tại Phú Xá (Ảnh tư liệu).

Ngoài ra khi đi sứ, ông có thơ xướng hoạ với Phó sứ Nguyễn Tông Quai (còn đọc là Khuê), tập hợp thành bộ Sử Hoa tùng vịnh. Xin trích một bài khi ông đi sứ qua tỉnh Sơn Đông:

Vạn lý bình pha liệt hạng cư,

Tục cao ngoạ ốc nụy mao lư.

Điền phu thốn chuỷ sừ tam độc,

Lữ khách trùng nang giá sổ tư.

Thân đạo trì khu song bí mã,

Hoà triền giao thác nhất luân xa.

Cô chiêm địa thế tri dân sản,

Trúc mạch đa ư cốc mễ trừ.

Bản dịch thơ của nhóm Lê Thước:

Muôn dặm đồng bằng ở xúm nhau,

Nhà tranh lúp xúp, ngói xây cao.

Nông dân làm ruộng bừa ba nghé,

Hành khách dùng lừa chở cặp bao.

Nào ngựa hai cương đi gấp rút,

Lại xe một bánh đẩy xôn xao.

Xem qua địa thể biết nông sản,

Mì đậu trồng hơn lúa gạo nhiều.

Trước khi đi sứ, ông đến cầu hôn bà Đoàn Thị Điểm. Đương thời cho là có số phải lấy nhiều vợ. Bà vợ đầu là con gái đại thần Tham tụng Lê Anh Tuấn, người Thanh Hóa. Bà này mất sớm, ông lấy con gái đại thần thượng thư Nguyễn Quý Đức. Bà này cũng sớm qua đời. Nguyễn Kiều nhờ người mối mai đến với bà Điểm. Ban đầu bị từ chối, ông không nản, tiếp tục qua lại. Cuối cùng trong thư chính thức cầu hôn, ông khẩn khoản trình bày: “Tôi rất bận việc quan. Vó ngựa hoàng hoa (đi sứ) đã gần ngày lên đường. Việc nhà không ai coi sóc cai quản, tôi nghĩ rằng phu nhân cùng nội trợ tôi xưa có tình chị em, có phận keo sơn (người vợ trước là con gái Lê Anh Tuấn, vị đại thần từng đã nhận Đoàn Thị Điểm là con nuôi). Nếu phu nhân bằng lòng đùm bọc cho nội trợ tôi, thì thực là may cho cả nhà tôi đó”.

Có lẽ vì cảm động về “quyết tâm” của ông Kiều, và có lẽ còn là “vì cây dây quấn” nên bà Điểm chấp nhận.

Cưới nhau được hơn một tháng, Nguyễn Kiều phải lên đường đi sứ, mãi đến năm 1745 mới về. Trong ba năm vắng chồng, Đoàn Thị Điểm sống chẳng khác nào người “chinh phụ”. Có lẽ chính trong thời gian này (1742 - 1745), bà đã dịch ra quốc âm tác phẩm nổi tiếng của Đặng Trần Côn ra đời chưa lâu.

Năm 1748, Nguyễn Kiều được cử vào Nghệ An, giữ chức Đốc đồng. Đoàn Thị Điểm theo chồng, xuống sông Nhị vào Nghệ An và mắc bệnh lúc đang trên đường. Đến trấn lỵ ngày 4 tháng 8 (âm lịch), bệnh bà đã nguy kịch lắm. Đến ngày 11 tháng 9 năm ấy, bà mất, thọ 44 tuổi, không có con cái. Thế là Nguyễn Kiều lại một lần nữa goá vợ. Có lẽ sau đó ông ở vậy dù lúc đó ông mới 53 tuổi và còn sống thêm 23 năm nữa (mất năm 1771), vì tại làng quê Phú Xá của ông nay chỉ còn ba ngôi mộ của ba bà táng song song.

Nếu không là như thế thì vẫn thấy rằng tình cảm của ông đối với bà Điểm thật sâu nặng. Có thể là ông cảm được sự “hy sinh” của bà khi đang là gái tân mà nhận về làm vợ kế cho ông và hơn thế, tài năng cùng đức độ của bà đã thuyết phục ông nhiều. Về đức độ thì như bà đã viết trong bản dịch Chinh phụ ngâm:

Nay một thân nuôi già dạy trẻ,

Nỗi quan hoài mang mẻ sớm trưa.

Ba năm ông đi sứ sự, bà phụng dưỡng chu đáo thân mẫu ông và dạy bảo chăm sóc các con (với hai bà vợ trước). Về tài năng thì khỏi phải nói, nhả ngọc phun châu chẳng thua gì ả Tạ, nàng Ban, bao nhiêu năm lịch sử Việt Nam mới có một người phụ nữ tài tình như vậy.

Cảm và phục nên khi bà mất, ông lưu quan tài ở nơi làm việc hàng tháng trời, ngày ngày cơm nước cúng lễ. Đến lúc phải chuyển linh cữu về bắc, về Phú Xá, ông vì công việc không theo về được, đã tổ chức lập đàn tế ở trên bến trước khi thuyền rẽ sóng. Lại dặn con lớn đi tháp tùng phải tế một tuần trên đường đi và khi về đến làng, lúc hạ huyệt cũng phải cúng tế một lần nữa. Ông đã soạn sẵn thêm hai bài văn tế để đọc trong hai dịp lễ đó. Cả ba bài văn tế đều thể hiện một tấm lòng xót thương sâu sắc và chung một tình cảm thắm thiết yêu thương. Như bài văn tế đọc khi thuyền chở lĩnh cữu rời bến Xứ Nghệ vừa tỏ lòng biết ơn, vừa ngợi ca tài năng, vừa bày tỏ niềm xót xa vô hạn:

Ô hô! Hỡi nàng!

Huệ tốt, lan thơm.

Phong tư lộng lẫy, cử chi đoan trang,

Nữ đức trọn vẹn, tài học ngõ ngàng.

Giáo mác, ấy bàn luận; gấm vóc, ấy văn chương,

Nữ trung, rất hiếm có như Nàng!

Sao mà lại:

Gia thất chậm hơn Mạnh Quang,

Con cái hiếm hơn Trang Khương.

Dứt tuổi Từ phi; vùi tài Ban nương,

Sao hoá cơ khó đoán; mà thiên mệnh phi thường lắm thay!

Xưa được nghe tiếng Nàng: Bèn kết thân hai họ,

Nàng về nhà tôi; vẹn tròn đạo vợ.

Việc bút nghiên tài lạ hằng chuyên; nghề kim chỉ tay sành chẳng bỏ,

Thường thường đàm luận cổ thi; ngày ngày xướng thơ hoạ phủ.

Ba năm đi sứ Bắc, mày liễu buồn chau; năm ngựa trở về nhà,

mặt hoa cười nở,

Lúc rảnh việc, cùng vui thú văn hàn; mới chỉ sai trở vào xứ Nghệ.

Non sông chẳng ngại đường dài; tần tảo quyết theo nội trợ,

Đường sông nghìn dặm gian nan; doanh liễu ba tuần tới đó.

Một bệnh càng thêm; trăm phương khôn chữa,

Đào chưa quả đã vội khô; quế đang thơm mà đã rũ!

Rừng sâu, bể rộng, Nàng hỡi đi đâu? Ngọc nát, châu chìm,

lòng tôi quặn nhớ.

Những muốn:

Chèo thuyền lan mà sớm phát; đưa giá liễu để chóng về,

Hẹn lại quê nhà an táng; dốc đem ý hậu theo đi.

Nhưng:

Nghĩa cùng thời, trái; việc chẳng lòng, tuỳ,

Nửa bước khó rời trấn sở; một thân khó vẹn công tư.

Lối về trên bến; tạm dựng bàn thờ,

Lễ tiễn hai hàng chan chứa; tình thương một lễ đơn sơ.

Sóng gió xin đừng kinh sợ; đường đi chớ ngại rù rờ.

Hương hồn Nàng yên nghỉ; cố ấp, tôi hằng mơ.

Thượng hưởng!

(Hoàng Xuân Hãn dịch)

Hay như bài văn tế đọc lúc hạ huyệt, nỗi đau dâng cao hơn, lòng thương xót da diết hơn, sự mất mát to lớn hơn và tấm tình của người chồng mất vợ thật đau đớn tan nát cõi lòng:

Dẫu trăm tấm thân cũng khôn chuộc, hận đến nghìn đời cũng chẳng cùng,

Kìa những người đàn bà tầm thường lại thường sống lâu tuổi hạc da mồi, cớ sao người tài hoa tót bậc dường này mà phúc lộc lại rất mỏng manh.

Tội nghiệp thay nương tử, ở yên không có chỗ, nối dõi không có con, ngoài ba mươi tuổi mới lấy chồng, hơn bốn mươi tuổi đã tạ thế,

Vùi âm dung ở một chỗ, ném tài nghệ vào khoảng không, trốn bà từ mẫu đã già, bỏ mấy cháu côi còn lại.

Há chẳng phải là mệnh giời không thường mà tạo vật không công hay sao,

Luống để cho người chồng goá bụa, thở ngắn than dài, ruột sầu đau thắt, mắt lệ tuôn rơi.

Việc nhà đương bề bộn, ai người trông nom?

Cư xử có nhỡ nhầm, ai người ngăn bảo?

Thơ muốn làm cùng ai bình phẩm?

Sách muốn xem cùng ai bạn bầy?

Mùa thu có trăng cùng ai chơi?

Mùa xuân có cảnh cùng ai ngắm?

Than ôi! Đường chia đôi ngả duyên đứt sáu năm, vui ít sầu nhiều, tài dài mệnh ngắn...

(Trúc Khê dịch)

Tóm lại, điều làm ông Kiều được sách vở ngày nay nhắc tới không phải vì ông đỗ tiến sĩ, làm quan đến Thừa tuyên sứ - những vinh hoa này nhiều người đạt và cũng không phải ông là tác giả tập thơ chữ Hán Sứ Hoa hay Hạo Hiên, hai tập thơ này không mấy đặc sắc, mà chính là ông có vinh dự làm chồng của Đoàn Thị Điểm, một nhà thơ nữ tài hoa tuyệt vời làm danh giá cho giới nhà thơ nữ Việt Nam. Tất nhiên cũng phải kể đến tấm chân tình của ông đối với bà vợ quý giá này đã tạo nên nhân cách đáng trọng của ông./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Từ Đạo Hạnh – thiền sư, thi nhân
    Từ Đạo Hạnh là pháp danh, còn tên thật là Từ Lộ. Ông là thiền sư và là nhà thơ nổi tiếng thời Lý. Chưa thấy tài liệu nào ghi về ngày sinh của Từ Lộ, chỉ biết ông sống vào thời Lý Nhân Tông (1072 - 1128), và qua đời năm 1117. Ông người hương Yên Lãng, tục gọi làng Láng, một làng rất cổ ở ven thành Thăng Long xưa.
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Phía sau bước chân người lên đường
    Sinh trưởng ở xứ Đoài mây trắng, từng làm việc ở Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, (nay là Hà Nội), Phan Quế - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đến với thơ từ buổi đầu sáng tác và ông cũng được bạn đọc biết đến khá sớm. Tuy nhiều năm qua Phan Quế dành thời gian và tâm sức nhiều cho tiểu thuyết, nhưng thơ đối với ông vẫn là nỗi niềm canh cánh trong lòng.
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Hà Nội trong tôi những ngày tháng 6
    Tôi trở lại “thăm” Hà Nội vào những ngày giữa tháng 6. Cũng hơn một năm rồi tôi mới có dịp ghé thăm “cố nhân” của mình. Tôi coi Hà Nội như người bạn cũ, bạn tri âm tri kỷ. Bởi vậy, đêm trước khi lên xe xuôi về trái tim của dải đất cong cong hình chữ S xinh đẹp lòng tôi có chút bồi hồi cộng thêm sự háo hức. Lần nào cũng vậy cái cảm xúc ấy vẫn vẹn nguyên như thủa ban đầu đôi khi chẳng gọi được thành tên. Chỉ biết rằng sớm mai thôi tôi và “bạn” sẽ gặp lại với bao điều muốn nói,…
  • Ở phố Khương Trung có mẹ Oanh
    Tôi gặp lại P. trong một quán cà phê nhỏ vào một chiều Hà Nội bảng lảng sương giăng, khi cậu có chuyến công tác từ phương Nam ra. P. là đứa em, cũng là người đã chung lưng đấu cật với tôi suốt sáu năm trời trong một căn gác trọ nằm sâu nơi ngõ ngách Khương Trung. Đã lâu lắm rồi hai đứa mới có dịp ngồi lại, khuấy nhẹ ly cà phê, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi qua lớp cửa kính. Giữa những câu chuyện không đầu không cuối về áp lực cơm áo gạo tiền, P. bỗng lặng đi một chút rồi hỏi: “Anh ơi, anh có nhớ mẹ Oanh không?”.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • CleanHanoi - Dịch vụ vệ sinh công nghiệp
    CleanHanoi triển khai vệ sinh cho căn hộ, biệt thự, văn phòng, cửa hàng, công trình sau xây dựng và nhiều loại hình không gian tại Hà Nội.
  • [Infographic] 12 nhiệm vụ trọng tâm tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số
    Thành phố Hà Nội triển khai chiến dịch 100 ngày nhằm tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn lớn trong chuyển đổi số. Trọng tâm là hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống", chia sẻ và tái sử dụng.
  • Hà Nội hỗ trợ tiền ăn bán trú tiểu học với hai mức 40.000 đồng và 28.000 đồng
    Bước vào năm học 2026 - 2027, thành phố Hà Nội áp dụng cơ chế hỗ trợ chi phí ăn bán trú cho học sinh tiểu học với hai hạn mức cụ thể tùy thuộc vào đối tượng thụ hưởng. Nhóm học sinh được ưu tiên theo quy định sẽ nhận mức hỗ trợ trọn gói là 40.000 đồng mỗi ngày, trong khi các em học sinh còn lại được ngân sách đồng hành san sẻ với mức 28.000 đồng mỗi ngày.
  • Phường Tùng Thiện lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), Đảng bộ, chính quyền phường Tùng Thiện (TP Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhằm tri ân người có công, thân nhân người có công với cách mạng… Qua đó lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, đền ơn đáp nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và người Hà Nội thanh lịch, văn minh nói riêng.
Nguyễn Kiều – nhà thơ sứ thần và mối chung tình “tài tử giai nhân”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO