Tác giả - tác phẩm

Ngỡ ngàng Phùng Khắc Bắc, một chấm xanh

Nhà thơ Vũ Quần Phương • 13/05/2024 07:41

hùng Khắc Bắc sinh năm 1944, tên khai sinh là Phùng Khắc Toàn. Anh tham gia quân đội từ 1966 đến 1988 và được biết đến như một cây bút văn xuôi.

bia-tap-tho-mot-cham-xanhgukl-i.jpg

Ra quân, đại úy Phùng Khắc Bắc về Hội Nhà văn Việt Nam làm phó văn phòng, tiếp tục luyện nghề trên các trang văn. Không ai nói đến chuyện Phùng Khắc Bắc làm thơ. Nhưng sau ngày anh mất do bạo bệnh (năm 1991), bạn bè mới biết anh có tập thơ chưa in. Tập thơ “Một chấm xanh” được các đàn anh và bè bạn trong giới văn chương quân đội biên tập đặt tên và xuất bản. Năm sau, được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Tập thơ toát ra một tầm nghĩ sâu sắc của người lính vừa rời tay súng trước cuộc sống còn đầy gian khổ, thiếu đói của người dân; khiến người đọc ngỡ ngàng như xúc động trước một bức điện, xúc động ở nội dung chứa trong ngôn ngữ…

Phùng Khắc Bắc có cách cảm nhận việc đời không đơn giản, không ước lệ. Anh tôn trọng hiện thực, dù hiện thực khắc nghiệt đến đâu. Anh can đảm trải nghiệm nghĩa là sống đến đáy với hiện thực ấy và có ý kiến riêng, thường sâu sắc và đa diện. Anh tìm vào bản chất sự kiện, tìm vào chỗ nó đụng vào trái tim mình, rồi từ đấy mà khái quát thành nhận thức, những nhận thức thật sự làm giàu trí tuệ người đọc. Nhiều lúc anh đã chạm vào triết học. Mặt khác tình cảm ở thơ anh cũng là thứ tình cảm nảy sinh từ nhận thức. Đây là nét hơi khác với truyền thống thơ dân tộc. Chúng ta thường nghe: thơ là tiếng nói của tình cảm. Đọc Phùng Khắc Bắc muốn bổ sung: thơ là trải nghiệm, là nhận thức kết tinh thành tình cảm.

“Cầm vàng mà lội qua sông/ Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”. Vàng rơi mà tiếc vàng là tình cảm tự nhiên. Nhưng vàng rơi mà tiếc vàng không bằng tiếc cái công mình đã bỏ ra để cầm vàng thì lại là tình cảm của trí tuệ. Sống nhập cuộc và chịu đúc kết những từng trải của chính mình mới có được tình cảm này. Thơ Phùng Khắc Bắc không đổ ập vui buồn vào lòng người đọc mà nó làm người ta sống lại, sống kỹ với những gì đã trải. Và từ đó, một tình cảm mới, giàu năng lượng, có sức tác động mạnh như khí oxy tươi sẽ nảy sinh. Anh không truyền tình cảm, anh buộc người đọc tự tìm lấy tình cảm, tự đối chiếu mà tạo nên bản lĩnh tình cảm của chính mình. Anh không áp đặt tình cảm bằng lan truyền vô thức mà anh tạo tình cảm bằng tác động vào ý thức.

Buổi gia đình tiễn anh tòng quân trong năm chiến tranh 1966, anh kéo người đọc hướng về bốn ánh nhìn anh của cha, của bà nội, của mẹ, của người yêu. Người đọc lặng đi, trong ánh nhìn của bà nội, nỗi sinh ly đã chan vào tử biệt. Nhưng không nước mắt. Nỗi đau như đúc lại, rắn chắc. Việc cần làm thì phải làm. Người lính ấy, sau những năm chiến đấu đã “kiểm kê” lại mình, một cuộc kiểm kê thẳng thừng, không khoan nhượng: “Đi làm đảng viên/ Đi làm liệt sỹ/ Tất cả đều không thành/ Chỉ là thương binh/ Thương binh không vết xước ngoài da/ Thương binh có những vết rách trong phổi/ Được hàn lại bằng kháng sinh và tình đồng đội”. Những bạn viết sống gần Bắc nói tính anh rụt rè, như tự giấu mình đi nhưng ở mạch văn này, anh là người can đảm lắm.

Đến thăm mộ người em trai, anh viết: “Sau bảy trăm ngày anh lại đến tìm em/ Cả hai lần đều gặp/ Cả hai lần em đều vắng mặt”. Tác động đầu tiên của đoạn thơ này chưa phải là tình cảm mà là cái nghịch lý đều gặp và em đều vắng mặt. Khi hiểu được cái nghịch lý ấy, người ta sẽ hiểu được nỗi xót xa tuyệt vọng. Gặp mà vẫn là vắng mặt thì sự vắng mặt ấy là vô phương cứu chữa. Mà lại sau bảy trăm ngày. Đếm từng ngày và đã đếm tới con số bảy trăm. Một nỗi xót thương lặng chìm, không bật thành lời, mà lặn vào riêng mình, nhức buốt. Phùng Khắc Bắc vốn ít nói, càng ít nói về tình cảm riêng. Có lẽ vì vậy tập thơ này - chủ yếu nói về thân về phận của riêng anh - không ai được nghe anh tâm sự. Có phải anh đã linh cảm căn bệnh hiểm nghèo của mình mà trong bài có những ý thơ như trối trăng, những cảm nhận nỗi ngắn ngủi đời người, đầy tiếc nuối, nhiều nghĩ ngợi cho cuộc sống có ý nghĩa nhất. Chủ đề tập thơ do vậy hướng vào những việc chính yếu của đời người. Con người là gì? Thơ anh giải thích: đó là tinh túy của đất đai, của đại dương và mặt trời, qua hàng triệu năm chưng cất mà thành. Phát hiện này này chưa được khoa học nào chứng minh. Nhưng nó đủ làm chứng cứ cho một thái độ sống trân trọng với cuộc đời. Vậy mà cái khung hữu hạn của mỗi đời người lại chật hẹp quá. Phùng Khắc Bắc tự hỏi: “Nhà hộ sinh và nghĩa địa là cái khung chân dung/ thời gian của mỗi đời người/ Vượt ra ngoài cái khung ấy là gì?”. Và anh tự trả lời: Đó là tình yêu người khác ngoài mình.

Phùng Khắc Bắc có nhiều suy nghĩ vượt qua cái khung thông thường của cuộc đời thực dụng nhưng anh không cao giọng. Làm thơ mà như tập thiền, lặng lẽ mà giác ngộ, mà tự soi chính mình. Nó là kết quả của một quá trình trải nghiệm, có cay đắng, có kiên trì. Anh thấy người đời mừng vì được hơn cảnh ngộ người ăn mày hay mừng vì thoát hòn tên mũi đạn, anh nghĩ đó là những người thật thà. Nhưng anh vẫn băn khoăn. Hình như trong nỗi mừng ấy có điều gì không ổn: “Sung sướng mừng vui vì điều đó/ và quên đi một điều/ Ta đã bị thu mình rất nhỏ”. Cách nghĩ ấy theo tôi là thỏa đáng. Không nghiến răng trợn mắt nhưng đủ để người ta biết xấu hổ mà lương thiện. Phùng Khắc Bắc không đóng vai người phê phán hay biểu dương, đứng trên bục cao mà phán. Anh là người tham gia sống cái đời thường, đời thật, với mọi người. Sống và quan sát, kể cả quan sát chính mình, tự rút ra nhận thức cho mình để hiểu vào thực chất. Thơ anh thường ngập trong ý tưởng. Đôi khi chỉ một ý tạt ngang cũng đủ sức làm ta phải sững lại, nghĩ ngợi và có thể mở cho ta một thế giới ứng xử khác trước. Bài thơ “Trước mộ em trai ở nghĩa địa Hà Lầm”, một ý tạt ngang, khi anh qua những hàng mộ chí xây đủ kiểu, đủ kích cỡ và thứ bậc sang trọng, tạt ngang mà làm ta nhận thức lại đời: “Ta đi giữa sự công bằng ở tầng dưới/ và sự bất công ở tầng trên”.

Sự phong phú trong cảm nghĩ phùng Khắc Bắc chính là tài năng anh. Ở ta tư duy kiểu này không nhiều. Nó gần với thơ châu Âu. Đọc anh, tôi nhớ nhiều đến bút pháp nhà thơ Hi Lạp Yanis Ritsos trong tập thơ “Nhà cho thuê”. Xin nói cụ thể vào một bài Phùng Khắc Bắc để thấy rõ đức tính này của thơ anh. Bài “Ngày hòa bình đầu tiên” người chiến sỹ từ mặt trận trở về sau chiến tranh, phút anh gặp mẹ cũng là phút gặp cơn mưa: nhà dột. Thơ được bắt đầu từ cơn mưa dột ấy. Nơi anh nghỉ đêm ấy: một khoảng hẹp còn khô ráo chỉ đủ để mắc võng. Lại mắc võng. Anh lại nằm như trong chiến tranh ngay ở trong căn nhà thân yêu của mẹ khi đất nước đã yên tiếng súng. Người lính nằm im nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất giọng. Cuộc chiến tranh này thiêng liêng hơn, lớn lao hơn vì nó dấy lên tự lòng người đã qua chiến trận. Và với anh, nó ác liệt hơn vì anh không gì che chắn/ vũ khí lúc này: hai bàn tay. Bài thơ không có câu nào để lộ chủ đề. Ngoại cảnh là nhà dột. Nội tâm là ngổn ngang nỗi lòng thương mẹ, thương trở lại những năm chiến tranh, một mình mẹ xoay trở trong căn nhà này… Mối liên hệ giữa vết thủng sáng của mái nhà và những mảng trắng trên tóc mẹ là một sáng tạo, dắt ý nghĩ từ thực tại vào liên tưởng. Chính mong đợi của mẹ làm cho con được sống. Chiến thắng của mẹ là con trở về lành lặn. Hòa bình của con là canh cua, rau mồng tơi và cà. Bài thơ không vần mà sao nghe nhịp điệu tâm hồn rất rõ, đậm đà vị quê hương non nước nhà mình. Bài thơ có một cái tứ chung, được tựa lên nhiều ý cụ thể. Chi tiết làm hiện lên đầy đủ những nỗi đời lắt léo. Thơ Phùng Khắc Bắc không ước lệ là thế. Hướng viết này rất cần cho nền thơ chúng ta, vốn trọng tình cảm mà hơi xao nhãng phẩm chất trí tuệ. Chi tiết đời thực trong thơ Phùng Khắc Bắc tác động thật sự vào nghĩ ngợi, nâng tình cảm lên thành trí tuệ, có sức hoàn thiện tâm hồn con người.

Phùng Khắc Bắc luôn hướng tới tâm trạng. Đề tài, bối cảnh chỉ là chỗ đi qua để tìm ra tâm trạng. Hãy tha thứ cho anh là một tâm trạng ăn năn hối hận nhưng hối hận vì điều gì thì anh không nói. Điều cần chia sẻ, cần giải tỏa là cái tâm trạng hiện hữu ấy thôi. Anh mở ra đến vũ trụ hay thu lại chỉ một mảnh thủy tinh cũng là để nói cái đời người ngắn ngủi, dễ vỡ. Anh như thường xuyên phải đối diện với cái kết thúc của chính mình. Đối diện để nghĩ, để sống, để viết. Anh linh cảm cái phút ra đi nhiều dang dở: “Nhà làm lại chưa xong/ Vợ học chưa xong/ Con học chưa xong/ Nhiều cái chưa xong”.

Giọng thơ thật thà như anh đang tính trên đầu ngón tay. Tội nghiệp lắm. Anh nhận thức cái tự do cho từng đời người không dễ có. Tự do cho một đất nước có thể giành được bằng cách mạng, như ta đã làm. Nhưng còn tự do cho mỗi đời người cụ thể? Khó lắm! Hết sợi dây này đến sợi dây khác thay nhau trói buộc. Đấy là một chiêm nghiệm sâu sắc nhưng thơ không thể viết như cáo trạng, anh chỉ nhẹ nhàng nêu ví dụ, người đọc tự suy thêm. Anh nói: những sợi dây ấy, đầu tiên là lót ấm chăn êm đã làm nín bặt tiếng khóc chào đời vốn rất tự do của đứa trẻ. Rồi lớn lên, bao nhiêu nhu cầu là bấy nhiêu ràng buộc. Phùng Khắc Bắc không tư biện siêu hình, không hư vô chủ nghĩa. Anh tìm phương án hữu hiệu, thực thi. Trong hai con đường tìm tự do: tìm trong cõi tâm linh và tìm ở trần gian, anh đã chọn cách thứ hai: giành tự do đích thực giữa đời thường dù trong một lời, dù trong một phút. Là thương binh có vết rách trong phổi, có siêu vi trùng nằm ngủ trong gan, có chất độc màu da cam mỉm cười thâm hiểm trong máu nhưng anh mừng vì không có gì chết đi trong bộ óc.

Phẩm chất lý tưởng của người lính này bền chắc vì nó bắt rễ vào đời thực. Thực trong tất cả mọi hay dở, mọi cao cả, thấp hèn. Anh thấy chiến tranh tan những gia đình. Nhưng anh cũng thấy chiến tranh gắn chặt xã hội. Cha ông nói Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Anh bổ sung: đi để học từ những điều dại. Phùng Khắc Bắc tìm thơ từ cảnh ngộ của riêng mình để nói về cuộc đời của tất cả. Thơ anh có bài còn như phác thảo. Thì sinh thời, anh đã dám công bố thơ đâu. Nhưng tầm vóc tâm hồn và tư tưởng trong thơ anh đã có sức hút lớn lao, rất đáng quý, đáng trọng. Anh không “làm thơ”, không chế tạo ra thơ. Anh trải nghiệm, cảm nhận, giãi bày. Và còn bí mật giấu thơ trong ba lô chờ nhuận sắc kỹ mới trình làng. Cả đời văn dồn lại chỉ bốn năm sáng tác 1984-1987. Cả ba tác phẩm đều xuất bản sau khi anh tạ thế. Trong đó, tập thơ “Một chấm xanh” khi xuất hiện như một xúc động văn chương trong giới viết và bạn đọc. Hơn 30 năm đã trôi qua, những cây bút thuộc lứa nhà văn thời chống Mỹ hồi đó đã vào tuổi thượng thọ, tuổi đại lão. Cơ ngơi đất nước cũng ấm cúng, nguy nga, giàu đẹp lên nhiều nhưng mở lại trang thơ “Một chấm xanh”, nhìn vào tấm chân dung Phùng Khắc Bắc mỏng mảnh, gầy guộc, mét mét màu da sốt rét, mạch máu đầu ngón tay chúng ta lại làm run lên trang giấy đọng thơ anh.

bo-20doi-1-.jpg

Ngày hòa bình đầu tiên

Anh về lại ngôi nhà mình
Sau mười năm chiến tranh

Mẹ đón anh buổi bình minh nhập nhoạng
Cơn mưa đón anh buổi hừng đông chạng vạng

Mưa… Mưa… Mưa…
Mưa ngoài trời
Khắp nơi
Mưa ngoài sân
Cũng mưa cả trong nhà
Sau lời mẹ là lời mưa reo ca

Nhà dột
Chỗ nằm chỉ còn đủ độ dài giữa hai chiếc cột
Chiều rộng bằng khuôn chiếc tăng
Mắc võng
Lại mắc võng
Vẫn là cây theo anh từ rừng về đây làm cột
Võng đưa sẽ ướt
Nhưng đã có con mọt trong cột làm âm thanh đung đưa

Ngày xưa,
Chỗ ướt mẹ nằm
Sau mười năm
Vẫn chỗ mưa mẹ đứng
Mẹ trao cho anh chiếc đèn và bảo
Đừng để ngọn lửa rụng!
Mẹ xếp những thùng, chậu, nồi, xoong…
Khúc nhạc mưa nhà dột tấu lên
Ru êm cánh võng
Người lính nằm im
Nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất giọng
Trong đêm hoà bình đầu tiên.

Phùng Khắc Bắc

Bài liên quan
  • Men của mùa xuân đã rót về
    Nhà thơ Vũ Quần Phương sinh năm 1940 tại Hà Nội, tốt nghiệp Đại học Y khoa năm 1965 và chuyển sang viết văn chuyên nghiệp từ năm 1972. Đến nay ông đã xuất bản 13 tập thơ, 5 tập phê bình văn học và 1 tập văn xuôi. Ở tuổi 85 ông vẫn bền bỉ và giàu sức chiêm nghiệm trên cánh đồng thơ, cánh đồng chữ nghĩa. Mùa thu năm 2023 ông ra mắt bạn đọc tập thơ “Ngỗng trời kêu xa xứ” (NXB Hội Nhà văn).
(0) Bình luận
  • Hồng Thanh Quang - một hồn thơ lãng mạn say đắm
    Trong thơ tình Việt Nam đương đại, Hồng Thanh Quang là một giọng thơ dễ nhận ra bởi sự say đắm, nồng nàn, giàu nhạc tính và một nỗi muộn màng rất riêng. Thơ ông không phải tình yêu trong trẻo, non tơ, cũng không phải lời than thở ủy mị của một cái tôi thất tình, mà là tiếng nói của một trái tim từng trải qua lỡ dở, xa cách, nhớ thương, tha thứ và mất mát. Đó là hồn thơ lãng mạn hiện đại, say đắm mà từng trải, ngọt ngào mà đắng xót, da diết mà không bi lụy; luôn biết biến tình yêu thành nhạc điệu, ký ức thành những hình ảnh trữ tình lay động. Nếu “Chút sen còn lại” lấy hình tượng sen làm trung tâm cảm xúc, thì “Cúc muộn” nghiêng về vẻ đẹp cuối mùa, sau bão giông, lỡ làng và những dấu vết của thời gian.
  • Ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Đoan Bui
    Chiều ngày 11/10/2026, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức buổi giao lưu, ra mắt tiểu thuyết “Xứ sở vô danh” của nhà văn người Pháp gốc Việt Doan Bui, do dịch giả Thuận chuyển ngữ. Tác phẩm từng được đề cử Giải Femina (Prix Femina) - một giải thưởng văn chương danh giá của Pháp.
  • Nhà thơ Bằng Việt nhận Giải thưởng Lớn tại lễ trao giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội năm 2026
    Kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2026), chiều 2/10, tại Di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Lễ trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội lần thứ 19 năm 2026 đã diễn ra, tôn vinh những cá nhân, tác phẩm, ý tưởng và việc làm có giá trị, thể hiện tình yêu sâu sắc với Thủ đô.
  • Những cánh cửa mở ra từ trang sách Kim Đồng
    Một cuốn sách có thể đưa người đọc trở về một Hà Nội hơn trăm năm trước, theo bước chân một vị vua, bước vào khu rừng của những loài vật biết nói hay đơn giản là ngồi lại với những câu chuyện rất gần gũi của tuổi thơ. Tại Hội sách Hà Nội lần thứ XI, Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu nhiều ấn phẩm mới, trải rộng từ sách về Hà Nội, văn học thiếu nhi, truyện tranh, truyện kể lịch sử đến sách kỹ năng và văn học dành cho bạn đọc trẻ. Sự đa dạng ấy không chỉ nằm ở thể loại hay độ tuổi độc giả, mà còn ở cách mỗi cuốn sách mở ra một thế giới riêng để người đọc khám phá.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • Ra mắt tác phẩm văn học thiếu nhi kinh điển “Khu vườn bí mật”
    Crabit Kidbooks liên kết với NXB Hà Nội vừa ra mắt ấn bản “Khu vườn bí mật” của nhà văn người Anh - Frances Hodgson Burnett, với phần minh họa của họa sĩ Inga Moore và bản dịch của Ngô Hà Thu.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • "Lời của Tre": Kể chuyện văn hóa Việt bằng ngôn ngữ sân khấu đương đại
    Ngày 17/10, tại Hà Nội, Liên đoàn Xiếc Việt Nam trình diễn vở “Lời của Tre”, một trong 15 tác phẩm tiêu biểu tham gia Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026. Lấy hình tượng cây tre - biểu tượng của bản lĩnh, sự bền bỉ và sức sống dân tộc làm trung tâm, vở diễn kết hợp nghệ thuật xiếc, hình thể, âm nhạc và công nghệ sân khấu hiện đại, góp phần chuyển tải những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
  • Festival Bảo tồn Phát triển làng nghề toàn cầu: Kết nối để phát huy giá trị văn hóa
    Nhằm tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống và tạo đà bứt phá cho ngành chế tác thủ công, Thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường sắp tổ chức Lễ hội Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất. Sự kiện quy tụ khoảng 200 đại biểu quốc tế đến từ 40 đến 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp năm châu lục.
  • 60 năm Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội: Dấu ấn sau một chặng đường
    Cách đây 60 năm, Chi hội Văn nghệ Hà Nội - tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội được thành lập với khoảng 200 hội viên. Từ một tổ chức Chi hội hoạt động trong những lĩnh vực văn học nghệ thuật, Hội đã phát triển thành tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp quy tụ hơn 4.500 văn nghệ sĩ, thuộc 9 hội chuyên ngành. Chặng đường ấy cũng phản ánh quá trình hình thành, trưởng thành của đội ngũ sáng tạo và đời sống văn học nghệ thuật Thủ đô.
  • [Podcast] Nghị quyết số 13/2026/NQ- HĐND thực hiện điểm b, Khoản 1, Điều 14 Luật Thủ đô
    Thực hiện điểm b Khoản 1 Điều 14 Luật Thủ đô năm 2026, tại kỳ họp thứ Ba, HĐND TP Hà Nội khoá XVII đã thông qua Nghị quyết số 13/2026/NQ-HĐND quy định mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá, quảng cáo trên địa bàn Thành phố Hà Nội
  • Tổ chức sự kiện cuối năm tại Hà Nội với dấu ấn riêng cùng Sen Xanh Event
    Tổ chức sự kiện cuối năm tại Hà Nội không chỉ là dịp tổng kết một năm, mà còn là cơ hội để doanh nghiệp ghi nhận đội ngũ, tri ân đối tác và truyền tải định hướng mới. Một chương trình có câu chuyện rõ, trải nghiệm chỉn chu và cách vận hành hợp lý sẽ tạo dấu ấn bền hơn.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội tạo nền tảng pháp lý để phát triển đô thị theo mô hình TOD
    Với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phát triển Thủ đô Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc trong thời kỳ mới; triển khai cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, HĐND Thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND. Đây là văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị và phát triển đô thị theo mô hình TOD.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bên triền núi (Kỳ 1)
    Đường quanh núi thoai thoải, dài như sợi chỉ vô tận. Ở giữa sợi chỉ có một nhánh rẽ, dẫn đến một ngôi nhà thong dong bên triền. Chiếc xe đen bóng đi ngang qua rồi phanh gấp. Xe khựng lại, bước xuống là tôi, một cô gái với chiếc váy màu xanh, bình thường như mọi cô gái khác...
  • “Gặp em cô gái Việt Nam” - Bản tình ca tôn vinh vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam
    Ra mắt nhân dịp 20/10, ca khúc “Gặp em cô gái Việt Nam” của nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung như một lời tri ân đầy ý nghĩa dành cho những người mẹ, người phụ nữ Việt Nam - những người bằng tình yêu thương, sự bền bỉ và những hy sinh thầm lặng đã vun đắp hạnh phúc gia đình, góp phần làm nên vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
  • Khi di sản văn hoá trở thành nguồn lực phát triển Thủ đô
    Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Từ thực tiễn các hoạt động văn hóa sôi động tại Hà Nội trong tháng 10/2026, có thể thấy việc kết nối di sản với du lịch và công nghiệp sáng tạo đang mở ra hướng đi mới, góp phần chuyển hóa những giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế.
  • Dự thảo Nghị định sửa đổi quy định về nghệ thuật biểu diễn có nhiều điểm mới
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định sửa đổi quy định về nghệ thuật biểu diễn đang thu hút sự chú ý khi đề xuất bãi bỏ hàng loạt thủ tục cấp phép. Thay vì phải chờ văn bản chấp thuận như trước, các đơn vị tổ chức biểu diễn, thi người đẹp hay liên hoan nghệ thuật sẽ chuyển sang cơ chế thông báo và chịu sự giám sát hậu kiểm từ chính quyền địa phương. Thay đổi này hứa hẹn cởi bỏ rào cản hành chính, mở ra không gian sáng tạo chuyên nghiệp hơn.
  • Phát động Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về thương binh, liệt sĩ và người có công
    Sáng ngày 15/10/2026, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chính thức phát động Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Đây là sự kiện có ý nghĩa thiết thực hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027), đồng thời góp phần triển khai Kết luận số 57-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và đồng hành cùng chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trên cả nước.
  • Lùi thời gian tổ chức Festival Thu Hà Nội 2026
    Theo kế hoạch dự kiến ban đầu, Festival Thu Hà Nội năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 18 tháng 10 năm 2026 tại không gian Công viên Thống Nhất, phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, do phát sinh một số lý do khách quan, Ban Tổ chức đã quyết định tạm hoãn và lùi thời điểm diễn ra sự kiện sang một khoảng thời gian khác phù hợp hơn.
  • “Chuyện tình Khau Vai” đưa huyền thoại tình yêu vùng cao lên màn ảnh rộng
    Lấy cảm hứng từ câu chuyện tình yêu dang dở gắn với phiên chợ tình Khau Vai nổi tiếng, bộ phim điện ảnh cùng tên tái hiện vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục và đời sống văn hóa của đồng bào vùng cao. Tác phẩm dự kiến khởi chiếu tại các rạp trên toàn quốc từ tháng 11/2026.
  • [Podcast] Tản văn: Hà Nội ở Sài Gòn
    Chuyến bay tới Sài Gòn của tôi sẽ khởi hành sau hai giờ đồng hồ nữa, vậy mà tôi vẫn loay hoay với đống đồ cá nhân. Mãi một hồi lâu tôi mới ra được đường lớn để bắt taxi tới sân bay Nội Bài...
  • Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát: Hành trình sáng tạo, làm mới sơn mài truyền thống
    Từ những bức tranh sơn mài trên mặt phẳng đến các tác phẩm tạo hình, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Tấn Phát (phường Sơn Tây, TP Hà Nội) đã lựa chọn một hướng đi riêng với chất liệu truyền thống. Quá trình học tập, thực hành và tìm tòi thiết kế, anh không chỉ khai thác những đặc trưng vốn có của sơn mài mà còn thử nghiệm cách làm mới, đưa chất liệu sơn mài đến gần hơn với không gian đương đại, bồi đắp hình ảnh sáng tạo của con người Thủ đô.
Ngỡ ngàng Phùng Khắc Bắc, một chấm xanh
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO