Hai ngày về nguồn Đồi thông hai mộ

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 15/08/2019 08:23

Ban đầu, hẹn gặp nhau ở quán bia Ụ Pháo phố Trúc Bạch, văn sĩ Lã Thanh Tùng giới thiệu: “Đây là kỹ sư Vũ Đình Thảo, cháu cụ Tùng Giang Vũ Đình Trung, tác giả truyện thơ Đồi thông hai mộ”. Anh Thảo tặng tôi bản phô tô Đồi thông hai mộ (In lần thứ ba. NXB Yên Sơn, Hà Nội, 1953, 150 trang).

Hai ngày về nguồn Đồi thông hai mộ
Tác giả ngoài cùng (trái) trong chuyến du khảo về Kim Bôi, Hòa Bình

Ban đầu, hẹn gặp nhau ở quán bia Ụ Pháo phố Trúc Bạch, văn sĩ Lã Thanh Tùng giới thiệu: “Đây là kỹ sư Vũ Đình Thảo, cháu cụ Tùng Giang Vũ Đình Trung, tác giả truyện thơ Đồi thông hai mộ”. Anh Thảo tặng tôi bản phô tô Đồi thông hai mộ (In lần thứ ba. NXB Yên Sơn, Hà Nội, 1953, 150 trang). Nhan đề truyện u u minh minh, rợn rợn mà tính từ giữa thế kỷ trước, hầu như ai yêu thích văn chương cũng thuộc nằm lòng mấy câu mở đầu: Anh Đinh Lăng! Giờ đây đâu nhỉ?/ Anh của em yêu quý nhất đời,/ Anh đi mù mịt xa khơi,/ Phượng hoàng tung cánh phương trời mãi bay… Về truyện Đồi thông hai mộ, quả thật tôi chỉ nghe nói và thuộc truyền khẩu đôi câu, có thấy đâu mà đọc, đành ậm ờ cho qua chuyện…

Lại hẹn hò. Một ngày nắng nung giữa hè, đoàn du khảo gồm các nhà văn Lã Thanh Tùng, Đăng Bảy, Cầm Sơn cùng Vũ Đình Thảo và tôi lên huyện núi Kim Bôi (Hòa Bình), tìm về nơi thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung từng tản cư, bắt gặp câu chuyện tình Đinh Lăng – Quách Mỵ Dung rồi dệt nên thiên bi tình sử Đồi thông hai mộ. Trên xe, chúng tôi bàn thảo, trao đổi, tranh luận về lời giới thiệu “Mấy dòng ký sự tản cư - Mấy trang tình sử bi hùng” viết ngày 8 tháng 4 năm 1949, mở đầu truyện thơ Đồi thông hai mộ của chính tác giả Tùng Giang Vũ Đình Trung. Lời giới thiệu cho biết khoảng không gian, địa chỉ cụ thể ở gần Ba Trại, nơi có miếu thờ cùng hai ngôi mộ đá to, cao, xây sát gần nhau: “Phía đầu hai mộ len vào giữa một tấm bia đá dựng đứng, cao gần bằng đầu tôi, rộng non một sải tay tôi. Bia khắc chữ nho, chân phương, đậm nét, kể lai lịch, tài năng, đức hạnh của đôi uyên ương hiếm có” và nguồn gốc truyền thuyết Đinh Lăng – Quách Mỵ Dung in đậm sắc màu truyền kỳ, đan xen giữa thực và hư, mờ mờ ảo ảo.

Theo hẹn, đoàn chúng tôi đến Hội Văn nghệ tỉnh Hòa Bình, gặp Chủ tịch Lê Va, nữ sĩ Phan Mai Hương và cụ Nguyễn Hữu Duyên. Nhập đoàn rồi là đến ngay nhà cụ Duyên. Cụ sinh 1937, ngoài tám mươi, vốn chính gốc thành phố Nam Định, thời chống Pháp tản cư lên Hòa Bình rồi chốt lại đến nay. Trước đây cụ là kỹ sư xây dựng, bước chân trải khắp tỉnh, bạn bè nhiều, nói được tiếng Mường, chăm viết báo. Việc đến nhà cụ thực ra là thăm cụ bà, kém cụ ông một tuổi, cũng ngoài tám mươi rồi. Cụ bà vui chuyện: “Hôm trước tôi mơ thấy cụ Tùng Giang đấy. Sáng nay tôi thấy có người quần áo trắng xưng tên là Tùng Giang đến chơi. Tôi mở cửa ra thì chẳng thấy gì. Hay tại tôi đọc thơ cụ thì tôi tưởng ra thế?”. Ấy rồi cụ đọc Đồi thông hai mộ, đọc từng đoạn, rồi phân tích, rồi lại đọc sang đoạn khác. Cụ kể: “Tôi người gốc Gia Lộc, Hải Dương. Lúc nhỏ lận đận, vất vả lắm, được học hành gì mấy đâu. Đến thời sau hòa bình lập, tôi mười mấy tuổi, có chị người quen cho mượn quyển Đồi thông hai mộ. Cứ ê a nhập tâm thế mà tôi thuộc, thuộc hết cả quyển, nhớ mãi đến bây giờ. À, đến cái đoạn Đinh Lăng khóc cô người yêu: Hồn em thiêng theo anh từng bước,/ Mà chứng minh lời ước vì em:/ Mỵ Dung duyên đã khắc tim,/ Nguyện thề trọn kiếp không tìm duyên ai”… Cụ ông hồ hởi: “Ấy đấy, tôi đã bảo là bà ấy thuộc thật đấy. Mấy chục năm ở nhà, có bao giờ bà ấy đọc gì đâu. Đến hôm tôi mang quyển thơ này về, bà ấy xem cái tên rồi cứ thế đọc vanh vách. Tôi cũng bất ngờ vì hóa ra bà nhà tôi lại thuộc Đồi thông hai mộ đến thế”…

Sang chiều, trên chuyến xe tìm về cội nguồn Đồi thông hai mộ, cụ Duyên kể: “Này, thật hữu duyên. Vào năm 1956, tôi đã gặp cụ Tùng Giang đấy nhé… Năm ấy, tôi cưỡi cái xe đạp, phóng từ Hòa Bình về Thái Bình thăm người quen là cô đào kép Minh Nguyệt, con chủ rạp hát Tiên Phong, đoạn gần Cầu Bo. Chiều ấy thì gặp cụ Tùng Giang. Hóa ra cụ Tùng Giang với ngài chủ rạp hát quen nhau từ hồi tản cư trên Hòa Bình. Bấy giờ cụ về thăm bạn cũ hay là hẹn nhau dựng vở diễn? Chỉ biết tối ấy có diễn kịch mà đích thân ngài chủ rạp đóng vai Đổng Trác, cụ Tùng Giang vai Lã Bố, cô kép Minh Nguyệt vai Điêu Thuyền. Tôi cứ nhớ mãi, là vì cụ Tùng Giang có nhắc đến Đồi thông hai mộ. Còn tôi thì năm trước vừa đọc ké được truyện này. Nhưng bởi tính tôi không thích thơ lắm nên không thuộc được. À, sau này cô Nguyệt lấy Lê Như Tiếp là trưởng đoàn chèo Thái Bình. Bây giờ có còn chắc cũng già lắm rồi”…

Hai ô tô con nhằm phía huyện Kim Bôi, chạy tầm ba chục cây số thì đến xã Bắc Sơn. Chúng tôi vào gặp Phó Chủ tịch văn xã Bùi Văn Tứ. Anh vui chuyện, say sưa kể về lễ hội thờ thành hoàng làng Khả. Còn như câu chuyện Đồi thông hai mộ thì có nghe nói nhưng thực hư thế nào không rõ. Hỏi đến lối đi Chợ Châu, Chợ Đồn và các địa danh Ba Trại, Suối Ngang, Mường Khả đều có cả nhưng không biết có khu miếu thờ nào…

Cả đoàn lên xe, đi qua các xóm Hồi, Trám, Cầu rồi đến xóm Khả. Nghe nói thời chín năm chống Pháp, nơi đây vẫn còn hổ báo. Hai bên đường là núi đá, khe suối xen lẫn đồi thấp, liên tục là những khúc cua, ngoắt, ngoặt. Thỉnh thoảng mới thấy thấp thoáng vài nóc nhà, tuyệt đại là bà con người Mường. Đi gần kịch đường mới đến xóm Khả. Xe dừng lại ở một con dốc. Đã thấy có một chị đứng đợi bên vạt ngô ven đường. Thì ra trên xã gọi điện nhờ chị dẫn lối. Hỏi thì được biết chị là Bùi Thị Bảy, người Mường, năm nay tròn sáu mươi, xa gần có thể là con cháu ông cụ từng cung cấp cốt truyện cho thi sĩ Tùng Giang viết nên Đồi thông hai mộ. Nơi chân núi đá này gọi là Khe Bụt, núi đây là Lèn Cái, kia là lèn Con. Cả đoàn theo chị đi qua vạt ngô, vượt qua khe nước cạn, len lỏi qua những chỏm đá, những khóm tre rừng. Chẳng thấy đường đi đâu cả. Nhà thơ Đăng Bảy nhận: “Tôi cùng tên với chị đấy”. Chị Bảy phân bua: “Ngày xưa đây là đường mòn, từ Mường Khả bên Kim Bôi, vượt núi mấy cây số thì tới Chợ Đồn bên Lương Sơn. Từ ngày có đường to, chẳng còn ai đi đường này nữa”… Quanh co một đoạn ngắn nữa thì tới nơi có ngôi mộ cổ. Chỉ nghe các cụ truyền rằng đây là mộ của đôi trai gái không lấy được nhau, đưa nhau lên đây ăn lá ngón cùng chết. Vẫn cứ gọi là mộ Bụt, có lẽ vì mộ ở đầu nguồn Khe Bụt. Cả vùng này đều biết, ngôi mộ này thiêng lắm. Thời xưa, ai đi chợ qua đây cũng cầu khấn được phúc lộc, duyên lành, mua may bán đắt và nhặt đá xếp lên. Ngày trước là hai nấm mộ, nay xếp đá đầy thành một mộ hình chữ nhật, dài chừng hai mét mấy, bề ngang hơn mét và cao đến một mét. Chỉ có một cái bát con nhỏ, ngoài ra tịnh không thấy thứ gì khác. Phía trên đầu có tảng đá to, có cây rừng bằng người ôm mọc giữa lèn đá. Nhìn kỹ lắm may chăng mới thấy dấu vết lối mòn. Bốn bề tĩnh mịch. Mơ hồ nghe có tiếng rừng u oa, u oa, ù òa. Mọi người thắp hương rồi ra về. Anh Thảo ngậm ngùi dặn chị Bảy: “Chị ở lại đợi hết hương rồi thụ lộc”… Tôi đi sau, ngoái lại thấy bóng chị Bảy khuất dần bên nấm mộ đá trong rừng chiều âm u. Tự nhiên chân bước nhanh nhanh. Trời vẫn nóng ngột ngạt. Xuống đến vạt ngô, ai nấy mồ hôi đẫm đìa lưng áo.

Suốt sáng ngày hôm sau, chúng tôi đi lòng vòng mấy địa chỉ nhưng chẳng khai thác thêm được điều gì. Trên đường về qua Hà Đông, chúng tôi rẽ vào viếng mộ thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung (1905-1985) ở nghĩa trang quê làng Văn Quán (Hà Đông – Hà Nội). Anh Thảo kể rằng dòng họ Vũ định cư ở làng Văn Quán khoảng vài ba trăm năm nay. Dòng tộc khá giả nhưng cũng không có ai đỗ đạt cao. Thuở nhỏ, anh có hơn mười năm được ở bên cụ Tùng Giang. Khi cụ mất, anh đã gần ba mươi tuổi. Thế nhưng cũng không được nghe cụ kể gì nhiều và cũng không biết mà hỏi những chuyện xoay quanh truyện tình Đồi thông hai mộ. Thêm nữa, ngày ấy không khí xã hội còn nặng nề, giấu đi còn chẳng được. Chỉ có từ thời Đổi mới đến nay mới có nhiều người quan tâm và chính anh cũng ngày càng quan tâm đến lai lịch Đồi thông hai mộ nhiều hơn…

Qua hai ngày cưỡi ngựa xem hoa ở vùng Kim Bôi – Lương Sơn, anh em trong đoàn du khảo cùng bàn luận rồi so sánh, đối chiếu với phần lời dẫn của chính tác giả trong truyện thơ Đồi thông hai mộ, xin tạm nêu ba điều thu hoạch. Thứ nhất, thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung từng tản cư đến vùng Mường Khả (nay thuộc xã Bắc Sơn, huyện Kim Bôi) trong những năm 1947 - 1949. Thứ hai, một phần câu chuyện tình, nhân vật, cốt truyện, khung cảnh vùng núi Kim Bôi đã được khúc xạ, chuyển hóa, sáng tạo, hư cấu, nâng cao trong mạch thơ trữ tình Đồi thông hai mộ. Thứ ba, vẫn còn những người gần cận biết về Tùng Giang Vũ Đình Trung và có cả một thế hệ đồng cảm, yêu thích tác phẩm của ông… Riêng tôi lại xa xôi nghĩ đến hiện tượng “mặt nạ tác giả” mà thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung với truyện thơ Đồi thông hai mộ là một trường hợp còn cần tiếp tục được thảo luận, xem xét, lý giải…
(0) Bình luận
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dấu son trang sử hào hùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
    Trong hai năm 1970 – 1971, những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương gồm Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của Nhân dân ta đi đến ngày toàn thắng: miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải.
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Phường Cửa Nam phát động Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động và Tháng Công nhân năm 2026
    Sáng 29/4, tại Phố Sách Hà Nội, UBND phường Cửa Nam đã tổ chức Lễ phát động hưởng ứng Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động và Tháng Công nhân - Phường Cửa Nam năm 2026.
  • Sáu cuộc đời hồi sinh từ một người hiến tạng ở Bệnh viện Trung ương Huế
    Từ một người chết não hiến tạng, Bệnh viện Trung ương Huế thực hiện ghép tim, gan, thận và giác mạc thành công cho 6 bệnh nhân đang trong tình trạng bệnh lý nặng.
Đừng bỏ lỡ
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
Hai ngày về nguồn Đồi thông hai mộ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO