Hai ngày về nguồn Đồi thông hai mộ

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 15/08/2019 08:23

Ban đầu, hẹn gặp nhau ở quán bia Ụ Pháo phố Trúc Bạch, văn sĩ Lã Thanh Tùng giới thiệu: “Đây là kỹ sư Vũ Đình Thảo, cháu cụ Tùng Giang Vũ Đình Trung, tác giả truyện thơ Đồi thông hai mộ”. Anh Thảo tặng tôi bản phô tô Đồi thông hai mộ (In lần thứ ba. NXB Yên Sơn, Hà Nội, 1953, 150 trang).

Hai ngày về nguồn Đồi thông hai mộ
Tác giả ngoài cùng (trái) trong chuyến du khảo về Kim Bôi, Hòa Bình

Ban đầu, hẹn gặp nhau ở quán bia Ụ Pháo phố Trúc Bạch, văn sĩ Lã Thanh Tùng giới thiệu: “Đây là kỹ sư Vũ Đình Thảo, cháu cụ Tùng Giang Vũ Đình Trung, tác giả truyện thơ Đồi thông hai mộ”. Anh Thảo tặng tôi bản phô tô Đồi thông hai mộ (In lần thứ ba. NXB Yên Sơn, Hà Nội, 1953, 150 trang). Nhan đề truyện u u minh minh, rợn rợn mà tính từ giữa thế kỷ trước, hầu như ai yêu thích văn chương cũng thuộc nằm lòng mấy câu mở đầu: Anh Đinh Lăng! Giờ đây đâu nhỉ?/ Anh của em yêu quý nhất đời,/ Anh đi mù mịt xa khơi,/ Phượng hoàng tung cánh phương trời mãi bay… Về truyện Đồi thông hai mộ, quả thật tôi chỉ nghe nói và thuộc truyền khẩu đôi câu, có thấy đâu mà đọc, đành ậm ờ cho qua chuyện…

Lại hẹn hò. Một ngày nắng nung giữa hè, đoàn du khảo gồm các nhà văn Lã Thanh Tùng, Đăng Bảy, Cầm Sơn cùng Vũ Đình Thảo và tôi lên huyện núi Kim Bôi (Hòa Bình), tìm về nơi thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung từng tản cư, bắt gặp câu chuyện tình Đinh Lăng – Quách Mỵ Dung rồi dệt nên thiên bi tình sử Đồi thông hai mộ. Trên xe, chúng tôi bàn thảo, trao đổi, tranh luận về lời giới thiệu “Mấy dòng ký sự tản cư - Mấy trang tình sử bi hùng” viết ngày 8 tháng 4 năm 1949, mở đầu truyện thơ Đồi thông hai mộ của chính tác giả Tùng Giang Vũ Đình Trung. Lời giới thiệu cho biết khoảng không gian, địa chỉ cụ thể ở gần Ba Trại, nơi có miếu thờ cùng hai ngôi mộ đá to, cao, xây sát gần nhau: “Phía đầu hai mộ len vào giữa một tấm bia đá dựng đứng, cao gần bằng đầu tôi, rộng non một sải tay tôi. Bia khắc chữ nho, chân phương, đậm nét, kể lai lịch, tài năng, đức hạnh của đôi uyên ương hiếm có” và nguồn gốc truyền thuyết Đinh Lăng – Quách Mỵ Dung in đậm sắc màu truyền kỳ, đan xen giữa thực và hư, mờ mờ ảo ảo.

Theo hẹn, đoàn chúng tôi đến Hội Văn nghệ tỉnh Hòa Bình, gặp Chủ tịch Lê Va, nữ sĩ Phan Mai Hương và cụ Nguyễn Hữu Duyên. Nhập đoàn rồi là đến ngay nhà cụ Duyên. Cụ sinh 1937, ngoài tám mươi, vốn chính gốc thành phố Nam Định, thời chống Pháp tản cư lên Hòa Bình rồi chốt lại đến nay. Trước đây cụ là kỹ sư xây dựng, bước chân trải khắp tỉnh, bạn bè nhiều, nói được tiếng Mường, chăm viết báo. Việc đến nhà cụ thực ra là thăm cụ bà, kém cụ ông một tuổi, cũng ngoài tám mươi rồi. Cụ bà vui chuyện: “Hôm trước tôi mơ thấy cụ Tùng Giang đấy. Sáng nay tôi thấy có người quần áo trắng xưng tên là Tùng Giang đến chơi. Tôi mở cửa ra thì chẳng thấy gì. Hay tại tôi đọc thơ cụ thì tôi tưởng ra thế?”. Ấy rồi cụ đọc Đồi thông hai mộ, đọc từng đoạn, rồi phân tích, rồi lại đọc sang đoạn khác. Cụ kể: “Tôi người gốc Gia Lộc, Hải Dương. Lúc nhỏ lận đận, vất vả lắm, được học hành gì mấy đâu. Đến thời sau hòa bình lập, tôi mười mấy tuổi, có chị người quen cho mượn quyển Đồi thông hai mộ. Cứ ê a nhập tâm thế mà tôi thuộc, thuộc hết cả quyển, nhớ mãi đến bây giờ. À, đến cái đoạn Đinh Lăng khóc cô người yêu: Hồn em thiêng theo anh từng bước,/ Mà chứng minh lời ước vì em:/ Mỵ Dung duyên đã khắc tim,/ Nguyện thề trọn kiếp không tìm duyên ai”… Cụ ông hồ hởi: “Ấy đấy, tôi đã bảo là bà ấy thuộc thật đấy. Mấy chục năm ở nhà, có bao giờ bà ấy đọc gì đâu. Đến hôm tôi mang quyển thơ này về, bà ấy xem cái tên rồi cứ thế đọc vanh vách. Tôi cũng bất ngờ vì hóa ra bà nhà tôi lại thuộc Đồi thông hai mộ đến thế”…

Sang chiều, trên chuyến xe tìm về cội nguồn Đồi thông hai mộ, cụ Duyên kể: “Này, thật hữu duyên. Vào năm 1956, tôi đã gặp cụ Tùng Giang đấy nhé… Năm ấy, tôi cưỡi cái xe đạp, phóng từ Hòa Bình về Thái Bình thăm người quen là cô đào kép Minh Nguyệt, con chủ rạp hát Tiên Phong, đoạn gần Cầu Bo. Chiều ấy thì gặp cụ Tùng Giang. Hóa ra cụ Tùng Giang với ngài chủ rạp hát quen nhau từ hồi tản cư trên Hòa Bình. Bấy giờ cụ về thăm bạn cũ hay là hẹn nhau dựng vở diễn? Chỉ biết tối ấy có diễn kịch mà đích thân ngài chủ rạp đóng vai Đổng Trác, cụ Tùng Giang vai Lã Bố, cô kép Minh Nguyệt vai Điêu Thuyền. Tôi cứ nhớ mãi, là vì cụ Tùng Giang có nhắc đến Đồi thông hai mộ. Còn tôi thì năm trước vừa đọc ké được truyện này. Nhưng bởi tính tôi không thích thơ lắm nên không thuộc được. À, sau này cô Nguyệt lấy Lê Như Tiếp là trưởng đoàn chèo Thái Bình. Bây giờ có còn chắc cũng già lắm rồi”…

Hai ô tô con nhằm phía huyện Kim Bôi, chạy tầm ba chục cây số thì đến xã Bắc Sơn. Chúng tôi vào gặp Phó Chủ tịch văn xã Bùi Văn Tứ. Anh vui chuyện, say sưa kể về lễ hội thờ thành hoàng làng Khả. Còn như câu chuyện Đồi thông hai mộ thì có nghe nói nhưng thực hư thế nào không rõ. Hỏi đến lối đi Chợ Châu, Chợ Đồn và các địa danh Ba Trại, Suối Ngang, Mường Khả đều có cả nhưng không biết có khu miếu thờ nào…

Cả đoàn lên xe, đi qua các xóm Hồi, Trám, Cầu rồi đến xóm Khả. Nghe nói thời chín năm chống Pháp, nơi đây vẫn còn hổ báo. Hai bên đường là núi đá, khe suối xen lẫn đồi thấp, liên tục là những khúc cua, ngoắt, ngoặt. Thỉnh thoảng mới thấy thấp thoáng vài nóc nhà, tuyệt đại là bà con người Mường. Đi gần kịch đường mới đến xóm Khả. Xe dừng lại ở một con dốc. Đã thấy có một chị đứng đợi bên vạt ngô ven đường. Thì ra trên xã gọi điện nhờ chị dẫn lối. Hỏi thì được biết chị là Bùi Thị Bảy, người Mường, năm nay tròn sáu mươi, xa gần có thể là con cháu ông cụ từng cung cấp cốt truyện cho thi sĩ Tùng Giang viết nên Đồi thông hai mộ. Nơi chân núi đá này gọi là Khe Bụt, núi đây là Lèn Cái, kia là lèn Con. Cả đoàn theo chị đi qua vạt ngô, vượt qua khe nước cạn, len lỏi qua những chỏm đá, những khóm tre rừng. Chẳng thấy đường đi đâu cả. Nhà thơ Đăng Bảy nhận: “Tôi cùng tên với chị đấy”. Chị Bảy phân bua: “Ngày xưa đây là đường mòn, từ Mường Khả bên Kim Bôi, vượt núi mấy cây số thì tới Chợ Đồn bên Lương Sơn. Từ ngày có đường to, chẳng còn ai đi đường này nữa”… Quanh co một đoạn ngắn nữa thì tới nơi có ngôi mộ cổ. Chỉ nghe các cụ truyền rằng đây là mộ của đôi trai gái không lấy được nhau, đưa nhau lên đây ăn lá ngón cùng chết. Vẫn cứ gọi là mộ Bụt, có lẽ vì mộ ở đầu nguồn Khe Bụt. Cả vùng này đều biết, ngôi mộ này thiêng lắm. Thời xưa, ai đi chợ qua đây cũng cầu khấn được phúc lộc, duyên lành, mua may bán đắt và nhặt đá xếp lên. Ngày trước là hai nấm mộ, nay xếp đá đầy thành một mộ hình chữ nhật, dài chừng hai mét mấy, bề ngang hơn mét và cao đến một mét. Chỉ có một cái bát con nhỏ, ngoài ra tịnh không thấy thứ gì khác. Phía trên đầu có tảng đá to, có cây rừng bằng người ôm mọc giữa lèn đá. Nhìn kỹ lắm may chăng mới thấy dấu vết lối mòn. Bốn bề tĩnh mịch. Mơ hồ nghe có tiếng rừng u oa, u oa, ù òa. Mọi người thắp hương rồi ra về. Anh Thảo ngậm ngùi dặn chị Bảy: “Chị ở lại đợi hết hương rồi thụ lộc”… Tôi đi sau, ngoái lại thấy bóng chị Bảy khuất dần bên nấm mộ đá trong rừng chiều âm u. Tự nhiên chân bước nhanh nhanh. Trời vẫn nóng ngột ngạt. Xuống đến vạt ngô, ai nấy mồ hôi đẫm đìa lưng áo.

Suốt sáng ngày hôm sau, chúng tôi đi lòng vòng mấy địa chỉ nhưng chẳng khai thác thêm được điều gì. Trên đường về qua Hà Đông, chúng tôi rẽ vào viếng mộ thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung (1905-1985) ở nghĩa trang quê làng Văn Quán (Hà Đông – Hà Nội). Anh Thảo kể rằng dòng họ Vũ định cư ở làng Văn Quán khoảng vài ba trăm năm nay. Dòng tộc khá giả nhưng cũng không có ai đỗ đạt cao. Thuở nhỏ, anh có hơn mười năm được ở bên cụ Tùng Giang. Khi cụ mất, anh đã gần ba mươi tuổi. Thế nhưng cũng không được nghe cụ kể gì nhiều và cũng không biết mà hỏi những chuyện xoay quanh truyện tình Đồi thông hai mộ. Thêm nữa, ngày ấy không khí xã hội còn nặng nề, giấu đi còn chẳng được. Chỉ có từ thời Đổi mới đến nay mới có nhiều người quan tâm và chính anh cũng ngày càng quan tâm đến lai lịch Đồi thông hai mộ nhiều hơn…

Qua hai ngày cưỡi ngựa xem hoa ở vùng Kim Bôi – Lương Sơn, anh em trong đoàn du khảo cùng bàn luận rồi so sánh, đối chiếu với phần lời dẫn của chính tác giả trong truyện thơ Đồi thông hai mộ, xin tạm nêu ba điều thu hoạch. Thứ nhất, thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung từng tản cư đến vùng Mường Khả (nay thuộc xã Bắc Sơn, huyện Kim Bôi) trong những năm 1947 - 1949. Thứ hai, một phần câu chuyện tình, nhân vật, cốt truyện, khung cảnh vùng núi Kim Bôi đã được khúc xạ, chuyển hóa, sáng tạo, hư cấu, nâng cao trong mạch thơ trữ tình Đồi thông hai mộ. Thứ ba, vẫn còn những người gần cận biết về Tùng Giang Vũ Đình Trung và có cả một thế hệ đồng cảm, yêu thích tác phẩm của ông… Riêng tôi lại xa xôi nghĩ đến hiện tượng “mặt nạ tác giả” mà thi sĩ Tùng Giang Vũ Đình Trung với truyện thơ Đồi thông hai mộ là một trường hợp còn cần tiếp tục được thảo luận, xem xét, lý giải…
(0) Bình luận
  • Bà phù thủy có cây vú sữa
    Chẳng hiểu vì sao tôi rất sợ khi thấy bà phù thủy nhà bên. Nhưng càng sợ lại càng tò mò, cứ muốn lén nhìn qua lỗ gạch để xem từng hành động của bà. Bà đang quét lá vú sữa, biết có ánh mắt đang theo dõi, liền ghé lại, làm tôi một pheng điếng hồn.
  • Những món quà của tạo hóa
    Tôi rất cô đơn, không có lấy một người bạn nào để gọi là thân. Vì không giỏi giao tiếp hay vì không tìm được người nào đủ tin tưởng để mở lòng mình ra, tôi không biết nữa, chỉ thấy mỗi khi lòng đầy lên là lại ước mình được rủ rỉ cùng Dung.
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Khơi nguồn sáng tạo v ăn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, chung sức phát triển Thủ đô Hà Nội
    Chiều 29/7, Thành ủy Hà Nội tổ chức gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân tiêu biểu trên địa bàn thành phố. Đây là dịp để lãnh đạo thành phố lắng nghe những hiến kế về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và phát huy nguồn lực con người, góp phần tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • [Video] “Khúc quân hành” năm 2026: Một thập kỷ bền bỉ lan toả nghĩa tình đền ơn đáp nghĩa
    Tiếp nối thành công của 9 lần trước, năm 2026, Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, đã diễn ra từ ngày 18 đến 21/7 tại các xã Đông Khê, Trường Hà - tỉnh Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội. Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chương trình Khúc quân hành năm 2026 đánh dấu một thập kỷ vun đắp và lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc.
  • Phường Phú Lương tổ chức tập huấn, diễn tập bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin năm 2026
    Nhằm nâng cao năng lực ứng phó, tăng cường kỹ năng thực hành và bảo vệ vững chắc hệ thống dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, chiều 29/7, UBND phường Phú Lương đã tổ chức thành công Hội nghị tập huấn và diễn tập công tác bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu năm 2026. Chương trình được thiết kế bài bản, hướng tới đối tượng là toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang trực tiếp công tác tại các cơ quan, đơn vị, phòng ban chuyên môn trên địa bàn phường.
  • Thu Hà Nội
    Mới ngày nào còn đi giữa cái nắng chói chang của mùa hè, hay trong cơn mưa rào như trút nước; vậy mà một buổi sáng ra đường chợt thấy lành lạnh - mới hay ta đang đi giữa mùa thu…
Đừng bỏ lỡ
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Từ giai điệu "Hà Nội mùa thu" đến sức sống của một không gian văn hóa cộng đồng
    Trong không gian Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội), chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 26/7 không chỉ mang đến những giai điệu Jazz đặc sắc mà còn mở ra một cách cảm nhận mới về Hà Nội. Điểm nhấn của chương trình là ca khúc “Hà Nội mùa thu” của nhạc sĩ Vũ Thanh đã đưa hình ảnh Thủ đô hiện lên bằng vẻ đẹp tinh tế, giàu chiều sâu văn hóa, qua đó khẳng định vai trò của nghệ thuật trong việc kiến tạo không gian văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị bền vững của thành phố.
  • Phát động cuộc thi sáng tác thơ, âm nhạc, nhiếp ảnh hướng tới Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương
    Cuộc thi là cơ hội khuyến khích đội ngũ văn nghệ sĩ và các tầng lớp Nhân dân phát huy sáng tạo, tìm kiếm những nhân tố mới nhằm bổ sung nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của tỉnh.
  • Đặc sắc chương trình nghệ thuật Bún Bò Huế “Huyền tích Vân Cù và bản giao hưởng Hương Ngự”
    Các nghệ nhân, đầu bếp và chuyên gia ẩm thực đến từ 3 miền Bắc - Trung – Nam chế biến 300 tô Bún bò Huế cùng một lúc theo quy trình truyền thống đã lập Kỷ lục Việt Nam.
  • Phát động Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội"
    Cuộc thi "Sáng tạo IP văn hóa từ di sản Phở Hà Nội" đánh dấu bước chuyển mình trong cách tiếp cận di sản, giúp lan tỏa các giá trị truyền thống, kích cầu du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đây cũng là khởi đầu quan trọng giúp thành phố chuẩn bị các nguồn lực tư liệu cần thiết, phục vụ thành phố xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO ghi danh Phở.
Hai ngày về nguồn Đồi thông hai mộ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO