Góp phần làm sáng tỏ tiểu sử và thành tựu thơ Hồ Xuân Hương
Khánh Thư (Thực hiện)|19/10/2022 05:11
PGS. TS Vũ Nho là chủ nhân của 116 đầu sách gồm cả sách dịch, viết chung và riêng về văn chương và giáo dục. Ở tuổi 75, cây bút dồi dào năng lượng này vẫn không ngừng làm việc để có thêm những tác phẩm trình công chúng... Cuốn sách mới nhất của ông “Hồ Xuân Hương đời và thơ” vừa ra mắt như một minh chứng cho niềm say mê của “lão nông tri điền” trên cánh đồng chữ. Cùng Người Hà Nội lắng nghe những chia sẻ của ông để hiểu sâu hơn về tập sách này.
PV: Ông từng nói sau cuốn sách“Trên sóng và trong lòng bè bạn” sẽ “gác bút” để nghỉ ngơi. Thế nhưng chỉ chưa đầy một năm sau ông lại miệt mài với những trang bản thảo của tập sách mới. Hẳn rằng ông phải có nhiều duyên cớ?
PGS.TS Vũ Nho: Vâng, duyên cớ thì có nhiều. Nhưng có thể tóm tắt: Thứ nhất, UNESCO vinh danh hai nhà thơ lớn của Việt Nam là Nguyễn Đình Chiểu và Hồ Xuân Hương. Thứ hai, về tiểu sử, thơ văn của bà chúa thơ Nôm có nhiều điểm mờ, khuyết thiếu. Ấy là chưa kể lại mâu thuẫn. Thứ ba, tôi kính nể bà Hồ Xuân Hương, một tài năng, một kì nữ của Việt Nam và thế giới. Thứ tư, cuốn sách “Giải mã bí ần nữ sĩ Hồ Xuân Hương” của nhà thơ, nhà nghiên cứu Nghiêm Thị Hằng cung cấp nhiều tư liệu mới. Và cuối cùng, may sao, tôi sẵn có các cuốn sách của các tác giả Hoa Bằng, Đào Thái Tôn, Lê Trí Viễn, Xuân Diệu, nhómTrí thức trẻ… Tôi viết cuốn sách này góp một phần vào việc làm sáng tỏ tiểu sử, thành tựu thơ Nôm và thơ chữ Hán to lớn của bà Hồ Xuân Hương.
PV: Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài năng,độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam và đã có nhiều những nghiên cứu, trang viết về bà. Vậy, khi chọn “bà chúa thơ Nôm” để ra sách, ông có lo ngại sẽ bước vào những “lối mòn” của người viết trước?
PGS.TS Vũ Nho: Thật ra tôi không hề đắn đo hay lo ngại gì cả! Đối với văn học trung đại, nếu chỉ phát hiện được một vài tư liệu mới về tác giả, nhiều khi làm đảo lộn các kết luận trước đó. Mỗi nhà nghiên cứu trong phạm vi hiểu biết và tư liệu của mình, chỉ có thể góp một phần làm sáng tỏ thân thế và sự nghiệp của đối tượng nghiên cứu. Tôi viết cuốn sách này trên tinh thần tiếp thu thành quả của người đi trước, đồng thời làm rõ thêm những điều mà họ chưa có điều kiện làm. Mỗi người có một cách đi và một con đường riêng. Bởi thế mà chẳng có lối mòn nào cả.
PV:Theo như nhan đề “Hồ Xuân Hương đời và thơ” thì cuốn sách đề cập tới nữ sĩ Hồ Xuân Hương cả ở khía cạnh cuộc đời và tác phẩm?
PGS.TS Vũ Nho: Đúng vậy, về cuộc đời của bà Hồ Xuân Hương, như tôi đã viết trong sách là nhiều chỗ mờ, nhiều chỗ khuyết thiếu, thậm chí mâu thuẫn. Tôi đã chọn các vấn đề: Người cha, Năm sinh năm mất, Nhan sắc và học vấn, Hai lần lấy lẽ,; Giao du với bạn bè; Phần mộ; Tư liệu mới về tiểu sử; Niên biểu tóm tắt. Xin nói là tôi không phải là người đầu tiên nói về các vấn đề này. Nhưng tôi căn cứ vào tài liệu các tác giả đã viết để minh định và làm cho người đọc không phải băn khoăn hay nghi ngờ.
Về văn bản thơ của bà, tôi khẳng định Hồ Xuân Hương, tác giả thơ Nôm truyền tụng với Hồ Xuân Hương, tác giả tập thơ chữ Hán và chữ Nôm “Lưu hương kí” là một người. Và giải thích tại sao thơ Nôm của bà mà Anthony Landes thuê người Việt sưu tầm lại không có mặt trong cuốn “Lưu hương kí” do chính bà chọn và nhờ Tốn Phong viết lời tựa. Có lẽ tôi tin rằng đây là điều mà trước tôi chưa ai làm, TS Đào Thái Tôn có giải thích nhưng đáng tiếc là chưa thật thuyết phục lắm.
PV: Ông có thể chia sẻ thêm về những nội dung quan trọng nhất được đề cập trong cuốn sách này?
PGS.TS Vũ Nho: Thật ra thì một số điều quan trọng về tiểu sử của bà Hồ Xuân Hương như: cha bà là cụ Hồ Phi Diễn hay cụ Hồ Sĩ Danh, năm sinh và năm mất của bà, ông Chiêu Hổ không phải là ông Phạm Đình Hổ thì đã rõ, nhưng ông Chiêu Hổ là ai, ông Mai Sơn Phủ là người thế nào... nhà thơ Nghiêm Thị Hằng đã giải quyết khá rốt ráo. Tôi chỉ góp phần khẳng định thêm.
Còn một số vấn đề cực kì quan trọng khác như Hồ Xuân Hương - tác giả thơ Nôm và Hồ Xuân Hương - tác giả của tập thơ chữ Hán và chữ Nôm “Lưu hương kí” có phải là một người? Phong cách của thơ Nôm trong các bài do Anthony Landes thuê người sưu tầm có gần gũi với phong cách thơ trong “Lưu hương kí”? Những bài thơ Nôm nào chắc chắn là của Hồ Xuân Hương, số lượng là bao nhiêu? Tại sao? Vì sao Hồ Xuân Hương bỏ hầu như hết các bài thơ Nôm mà Landes sưu tầm ra khỏi tập “Lưu hương kí”? Hồ Xuân Hương không chỉ giỏi thơ Nôm mà thơ chữ Hán cũng rất hay, rất độc đáo. Xưa nay đánh giá thơ Hồ Xuân Hương như thế nào? Tại sao khóc ông Trần Phúc Hiển lại không đề tên ông, cũng không đề chức quan của ông là Tham hiệp trấn Yên Quảng mà lại đề “Khóc ông phủ Vĩnh Tường”? Đó là những điều mà tôi đề cập trên cơ sở những nghiên cứu của các học giả tiền bối và những suy ngẫm cá nhân.
PV: Tiếp sau cuốn sách “Hồ Xuân Hương đời và thơ”, liệu rằng ông còn giữ ý định “gác bút” nữa hay không?
PGS.TS Vũ Nho: Thật ra thì tôi vẫn viết phê bình, giới thiệu lai rai. Nhưng để làm sách thì có thể nói là tạm dừng. Vì tôi đang còn những bản thảo hoàn chỉnh như: “Người lính với văn chương” (đã gửi Nhà xuất bản Quân đội nhân dân), “Đồng hành cùng người viết”, “Đổi mới môn Ngữ văn”, “Tiếu lâm Gabrovo” (dịch), “Tất cả trông cậy vào đằng ấy” (dịch) và một số bản thảo bổ sung để tái bản gồm “Thơ cho tuổi thơ”, “Trần Đăng Khoa thần đồng thơ ca”, “Truyện cổ tích dành cho người lớn” (dịch).
Trình làng văn muộn nhưng nhà văn Nguyễn Bắc Sơn sớm khẳng định vị thế trên văn đàn đương đại. Ở tuổi 81, ông đã cống hiến cho bạn đọc gần 20 tác phẩm văn xuôi giàu vị đời, tình người và đầy ắp tinh thần đối thoại. Viết nhiều thể loại nhưng nói đến nhà văn Nguyễn Bắc Sơn người đọc nhớ đến một cây bút đặc sắc, có thành tựu trong “thời của tiểu thuyết” và đã ba lần nhận giải thưởng Cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (2006 - 2009, 2011 - 2014 và 2016 - 2019).
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nhà văn Việt Nam thời hiện đại (từ đầu thế kỷ XX) đa số yêu thích và trung thành với quan điểm “Hiện thực chủ nghĩa” như một trào lưu/ khuynh hướng/ phương pháp nghệ thuật ưu việt (với nguyên tắc: tác phẩm miêu tả đời sống như hình thức vốn có của nó).
Mỗi người yêu thơ, làm thơ hay đọc thơ đều có một định nghĩa riêng về thơ và cái hay của thơ. Nhưng tôi tin, không một định nghĩa hay khái niệm nào về thơ có thể đạt tới sự toàn bích, bất kể người đưa ra là ai. Bởi nếu có, thơ sẽ không còn mờ ảo như chính bản chất của nó, không còn khoảng dư để người đọc bước vào và tự cảm.
Hướng tới chuỗi sự kiện trọng đại kỷ niệm 950 năm Quốc Tử Giám (1076 – 2026) cùng 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, triển lãm mỹ thuật mang tên “Ngàn năm di sản” sẽ chính thức khai mạc vào ngày 8/8 tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Sự kiện kéo dài đến ngày 25/9/2026 hứa hẹn trở thành điểm đến văn hóa đầy sức hút, góp phần làm phong phú đời sống nghệ thuật của Thủ đô trong mùa thu này.
Là nơi lưu giữ ký ức, kỹ năng và bản sắc cộng đồng, các làng nghề Hà Nội dần trở thành nguồn lực cho sáng tạo. Sự gặp gỡ giữa nghệ nhân và nhà thiết kế, nghệ sĩ đang mở ra những khả năng phát triển mới cho thủ công đương đại trên nền tảng di sản. Từ những cuộc “kết duyên” đầy cảm hứng ấy, Hà Nội đang khơi thông mạch ngầm của hệ sinh thái thủ công, biến vốn cổ thành động lực bền vững cho tương lai.
Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
Ngày 03/8/2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 3971/QĐ-UBND công nhận Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông là điểm du lịch chính thức. Đây là mốc son quan trọng trong hành trình bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời tạo cơ hội lớn để làng nghề khẳng định vị thế, phát triển du lịch văn hóa bền vững và lan tỏa tinh hoa lụa Việt.
Ngày 3/8, Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội (HHT) chính thức chào đón 3.000 tân sinh viên K17 nhập học. Đây là kỳ tuyển sinh có quy mô lớn nhất sau 17 năm thành lập, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của nhà trường.
Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
Ban tổ chức yêu cầu các tác phẩm tham dự “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026” phải giữ được phong cách, âm hưởng dân gian đặc trưng hoặc được hòa âm, phối khí mới trên nền tảng làn điệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, đồng thời phải được trình diễn trực tiếp bằng nhạc cụ dân tộc.
Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
“Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.