Hơn 200 năm tiếp nhận Cung oán ngâm khúc

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 14/11/2022 09:47

Bậc thi bá Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1898), quê xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) nổi tiếng hay chữ, sáng tác rất nhiều, có tập thơ chữ Hán “Ôn Như thi tập” (Tập thơ Ôn Như) - tiền và hậu tập - gồm hàng ngàn bài.

cung-oan-ngam-khuc(1).jpg
Thi phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều

Tiếc thay, hiện tại không thể tìm thấy chút dấu vết gì. Ngoài ra còn có “Tây Hồ thi tập” (Tập thơ làm ở Hồ Tây), có thơ trong “Tứ Trai thi tập” (Tập thơ Tứ Trai) của bốn anh em, hai tập này cũng tàn khuyết hầu hết, chỉ còn vài bài chép trong Tạp ký (Ghi chép tản mạn) của Lý Văn Phức (1785 - 1849) và khoảng mươi khổ thơ trích dẫn lẻ tẻ trong Nguyễn Gia phả ký (Ghi chép thế phả họ Nguyễn Gia). Chính vì vậy mà thư mục Nguyễn Gia Thiều trong kho sách Hán Nôm hiện tại khá đơn giản. Và cho dù tài thơ của Nguyễn Gia Thiều được Lý Văn Phức đánh giá: “Thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân” (Trăm nghìn lần tôi luyện, từng lời khiến người ta phải kinh sợ) thì nay cũng chỉ biết chủ yếu về tác phẩm bất hủ “Cung oán ngâm khúc”. Mà lịch sử giới thiệu, nghiên cứu tác phẩm này cũng trải qua nhiều thăng trầm, khen chê lúc có vẻ “công bằng”, khi thiên lệch.


Tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” hiện còn 9 bản chép tay và khắc in khác nhau và bản in chữ Quốc ngữ sớm nhất có nhan đề “Cung oán ngâm khúc diễn ca quốc ngữ và chú giải các điển tích” do Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện (1911), sau này được tái bản và dịch ra nhiều ngôn ngữ như Pháp, Nga, Đức, Anh,… Tuy nhiên có một nghịch lý, trước năm 1954, việc giới thiệu, xuất bản, giảng dạy “Cung oán ngâm khúc” được tiến hành khá rộng rãi. Năm 1943, sách giáo khoa “Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm đã giới thiệu và nhận xét: “Lời văn thì rõ là của bậc túc nho uẩn súc: đặt câu thì gọt giũa, cao kỳ; diễn ý thì dùng nhiều chữ bóng bẩy và nhiều điển cố. Thứ nhất là trong những đoạn tả nỗi buồn rầu của người cung phi thì giọng văn réo rắt, thật tả hết nỗi đau khổ, bực dọc của một người đàn bà còn trẻ mà bị giam hãm trong cảnh lẻ loi lạnh lùng. Văn Nôm trong cuốn ấy thật đã tới một trình độ rất cao” (1943)…
Từ sau 1954, tình hình có khác. Ở đô thị miền Nam, “Cung oán ngâm khúc” được giảng dạy ở hầu khắp các bậc phổ thông và đại học nên việc xuất bản và nghiên cứu tác phẩm cũng dễ dàng, với tên tuổi những  Nguyễn Văn Diêu, Phạm Thế Ngũ, Bùi Đức Tịnh, Trần Cửu Chấn, Lê Tâm, Thuần Phong… Ở miền Bắc, trong một thời gian dài tác phẩm này cũng chịu số phận là “có vấn đề”, nhiều “độc tố”, nhân sinh quan, vũ trụ quan yếm thế, tiêu cực và đề cập đến nhiều khía cạnh nhục cảm - một phương diện được coi là cấm kỵ, cho nên tác phẩm và tác giả bị loại ra khỏi sách giáo khoa, thậm chí ngay ở bậc đại học cũng chỉ được giới thiệu sơ lược. Từ khoảng thập niên tám mươi lại đây, tình hình có khác, thơ ông được giới thiệu, giảng dạy trong cấp PTTH (lớp 10) và cao đẳng, đại học với quan điểm tiếp cận khoa học hơn.

img-0798.jpg
cung-oan-ngam-khuc-2.jpg
cung-oan-ngam-khuc-3.jpg


Trên thực tế, phải đến năm 1991, nhân kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Gia Thiều, một lễ kỷ niệm và hội thảo khoa học đã được tổ chức tại quê hương nhà thơ là một sự kiện văn hóa lớn, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong phương hướng tiếp nhận tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” cũng như tìm hiểu con người xã hội và nghệ sĩ Nguyễn Gia Thiều. Kết quả nghiên cứu được đúc kết theo ba chủ đề lớn: Môi trường địa - văn hóa và thời đại lịch sử “đã sản sinh ra Nguyễn Gia Thiều, tạo nên tầm vóc tư tưởng cũng như cốt cách văn hóa đặc biệt”; Tìm hiểu ý nghĩa đích thực của thông điệp nghệ thuật Nguyễn Gia Thiều gửi gắm qua cách hiểu hình tượng người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc”; Xem xét những sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Gia Thiều về mặt thể loại, phong cách và ngôn ngữ nghệ thuật qua khúc ngâm…


Đề tài cung nữ là đề tài có truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và ngay ở Việt Nam, Nguyễn Gia Thiều cũng không phải là người đầu tiên khám phá, khai thác nhưng với “Cung oán ngâm khúc”, ông thực sự là nhà thơ vượt lên trên tất cả, đến mức mỗi khi nhắc đến đề tài này, văn giới nghĩ ngay đến tác phẩm của ông. Có hai loại ý kiến: Nhà thơ không gửi gắm tâm sự về thời cuộc và ngược lại. Quan điểm thứ nhất cho rằng Nguyễn Gia Thiều viết “Cung oán ngâm khúc” thuần túy nói về số phận người cung nữ, không nhằm gửi gắm tâm sự gì (Dương Quảng Hàm, Thuần Phong… Dương Quảng Hàm viết: “Đề mục ấy có lẽ không liên lạc gì với thân thế tác giả và các việc xảy ra trong nước hồi bấy giờ. Duy ta nhận thấy có nhiều thi sĩ đương thời cũng đem đề mục ấy ra ngâm vịnh” (1943). Thứ hai, theo dòng chủ lưu, có thể nói nhận thức ý nghĩa hình tượng người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” mới là vấn đề có lịch sử nghiên cứu vào loại lâu đời nhất. Các nhà nghiên cứu lâu nay đều đứng trước một hiện tượng rất khó lý giải: Nhân vật nàng cung nữ của Nguyễn Gia Thiều triết lý quá cao siêu, lời lẽ quá già so với tuổi, cũng như tác giả đã để cho cung nữ có những hành vi vượt ra khỏi khung qui chuẩn người phụ nữ phương Đông đã trở thành “những ước lệ nghiêm ngặt của nghệ thuật phong kiến” và được gói gọn trong bốn chữ “công - dung - ngôn - hạnh”. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác giả Tôn Thất Lương, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Quang Khải, Trần Thị Băng Thanh, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Duy Kha… Các công trình nghiên cứu đều cố gắng tập trung lý giải nguyên nhân Nguyễn Gia Thiều để cho chủ thể trữ tình “lấn sân” sang ranh giới của nhân vật. Đặng Thanh Lê xác định “Cung oán ngâm khúc” có tính chất nhiều chủ đề, không chỉ có một dòng cảm xúc chủ đạo mà có hai dòng cảm xúc trữ tình đan xen nhau. Đó là ông vừa có phong cách triết học trong cảm hứng văn học và phong cách văn học trong nhận thức triết học. Và do hai dòng cảm xúc cùng “điều khiển” ngòi bút của Nguyễn Gia Thiều nên tác phẩm có một nội dung phản ánh luôn luôn phát triển theo hướng “mở”, phản ánh được chiều sâu số phận con người và nhiều vấn đề của hiện thực xã hội rộng lớn...


Xác định “Cung oán ngâm khúc” đặt trong mối quan hệ với sự hình thành, phát triển thể loại song thất lục bát - một trong số các thể loại nội sinh, mang tính chất dân tộc đậm nét cũng là một hướng nghiên cứu có nhiều kết quả sắc nét. Từ hướng tiếp cận, lý giải tác phẩm trong chính hình thức thể loại sẽ cho thấy một “Cung oán ngâm khúc” với những giá trị vĩnh cửu, đạt tới sự ổn định của thể ngâm khúc và có vị trí quan trọng trong lịch sử thể loại. Đặng Thanh Lê đúc kết: “Một thời đại đầy biến động, kinh thiên động địa. Một thân thế đắc thất, nổi chìm đa dạng. Một tài năng văn võ kiêm toàn. Một tài hoa phong phú, văn thơ nhạc, họa, kiến trúc. Và những tâm tư phức tạp đối diện cuộc sống đương thời… Tất cả kết tinh thành cảm hứng sáng tác mang màu sắc, phong cách độc đáo Nguyễn Gia Thiều ở qui mô dung lượng đề tài, chủ đề, ở tính tổng hợp của hình tượng trữ tình và ở phong cách ngôn ngữ giàu sức biểu hiện mạnh mẽ” (1991).


Với các hướng nghiên cứu được đúc kết như trên, vậy thì ý nghĩa vị trí Nguyễn Gia Thiều trong sự nghiệp thi ca thế kỷ XVIII được đánh giá ra sao? Lâu nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong xác định giá trị nội dung của “Cung oán ngâm khúc” không chỉ nói lên thân phận hẩm hiu, cay đắng của người cung nữ mà nổi trên trên hết là “một tiếng nói tố cáo xã hội” (Phạm Thế Ngũ). Các vấn đề phản ánh trong tác phẩm đều ít nhiều có liên quan đến “một trạng thái xã hội lúc bấy giờ”, nhà thơ đã nói hộ người cung nữ “cái tâm sự oán hận sầu tủi” và qua người cung nữ, “kêu lên giùm người phụ nữ trong xã hội phong kiến tiếng kêu đả đảo một chế độ vô nhân đạo đối với nhân phẩm và tình cảm con người” (Nguyễn Lộc). Các nhà nghiên cứu còn tìm thấy sự “liên thông tâm trạng” khá rõ trong các bài thơ như “Bảo cam ra hái hoa” với “Cung oán ngâm khúc”. Trên phương diện nghệ thuật, từ các nhà Hán Nôm đầu thế kỷ XX như Đinh Xuân Hội, Trúc Khê, Dương Quảng Hàm, Vân Bình Tôn Thất Lương, Lê Văn Hòe, Thuần Phong, Hà Như Chi… và nhiều nhà nghiên cứu đương đại cũng đều rất chú trọng khảo sát tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều và thống nhất cao trong nhận định giá trị nghệ thuật đặc sắc của “Cung oán ngâm khúc”. Khảo sát các phương diện thể thơ, kết cấu, chương pháp và tự pháp tác phẩm, Thuần Phong nhấn mạnh: “Sở dĩ áng văn có sức lôi cuốn như thế là nhờ ở nghệ thuật của tác giả đạt đến mức tuyệt vời, tác giả đã áp dụng các phương pháp hành văn một cách tuyệt xảo” (1956). Nguyễn Lộc cũng đặc biệt đề cao ngòi bút Nguyễn Gia Thiều ở tính chất “quý tộc” cao sang: “Đọc Cung oán ngâm khúc người ta dễ có cảm tưởng như đi vào một ngôi đền vàng son lộng lẫy, có phượng múa rồng bay, chạm trổ cực kỳ tinh vi, khéo léo. Trong đền lúc nào cũng thoang thoảng vị hương trầm… Nguyễn Gia Thiều đã thể hiện đầy đủ nhất, đậm nét nhất những đặc trưng của một nghệ thuật có tính chất quý tộc” (1976)… Thậm chí vấn đề nhục cảm trong “Cung oán ngâm khúc” lâu nay còn gây tranh cãi thì tác giả Nguyễn Ngọc Bích với bài viết Đạo Phật, tính dục và âm nhạc tính trong “Cung oán ngâm khúc” lại đưa đến một cách nhìn mới mẻ, thẳng thắn, khoa học và khẳng định vị trí “vô tiền khoáng hậu” của những đoạn miêu tả cái đẹp của dục tính trong “Cung oán ngâm khúc”, “chỉ có thể sánh với văn học Phật giáo Mật tông Tây Tạng mà thôi”. Ngoài ra, ông còn khảo sát các thể thơ Việt Nam và ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm, nhà nghiên cứu đã “tìm ra manh mối và cấu trúc của thi phẩm” - đó là “một bản nhạc giao hưởng, một tác phẩm mà ta có thể tả được bằng cách gọi tiếng Pháp là “poème symphonique” chứ không phải chỉ thuần thúy là một bài thơ” (2005). Trần Thị Băng Thanh lại có phát hiện mới mẻ khi cho rằng kết cấu đảo ngược trật tự thời gian với sự tham gia của hồi ức đã khiến cho “Cung oán ngâm khúc” có dáng vẻ của thủ pháp đồng hiện trong văn học phương Tây… Các ý kiến trên cơ bản đã được tích hợp trong sách “Nguyễn Gia Thiều - Tác gia và tác phẩm” (Nguyễn Hữu Sơn - Đặng Thị Hảo tuyển chọn, giới thiệu. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2019, 462 trang) có ý nghĩa như một sự tổng kết về lịch trình hai trăm nghiên cứu Nguyễn Gia Thiều và thi phẩm “Cung oán ngâm khúc”.

Bài liên quan
  • 10 cuốn sách về nghề thầy
    Nhân dịp 20/11/2022, Nxb Phụ nữ Việt Nam lựa chọn và giới thiệu 10 đầu sách nói về nghề giáo và sự ảnh hưởng của giáo dục đối với xã hội. Người Hà Nội xin gửi tới độc giả thông tin về 10 đầu sách này với hi vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích cho độc giả trong tuần lễ mà cả nước hướng tới ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11).
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • “Phan Thuận An với Huế”: Kết tinh một đời nghiên cứu về mảnh đất cố đô
    Nhà xuất bản Tri thức phối hợp cùng Tri Thức Trẻ Books vừa ra mắt bạn đọc bộ sách “Phan Thuận An với Huế”. Đây không chỉ là một công trình khảo cứu công phu có giá trị học thuật mà còn là kết tinh của tình yêu bền bỉ mà nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã dành cho vùng đất cố đô.
  • Ký ức tháng Tư
    Tháng Tư lại về. Với người lính, đó không chỉ là một tháng trong năm mà là tháng của ký ức, của những tiếng gọi từ quá khứ vọng về. Mỗi khi tháng Tư chạm ngõ, lòng chúng tôi lại dậy lên những âm thanh cũ: tiếng bước chân hành quân, tiếng võng kẽo kẹt giữa rừng, tiếng hát lạc trong gió núi. Và trên hết, đó là ký ức về ngày đất nước thống nhất - ngày mà bao máu xương, bao tuổi trẻ đã hóa thành niềm vui chung của dân tộc.
  • Du lịch Hà Nội tăng trưởng mạnh, đón hơn 3 triệu lượt khách trong tháng 4/2026
    Theo báo cáo của Sở Du lịch Hà Nội, trong tháng 4/2026, tổng lượng khách du lịch đến Thủ đô ước đạt 3,09 triệu lượt, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025.
  • Việt Nam giành 4 huy chương tại Giải Thể thao Điện tử châu Á 2026
    Sau 2 ngày tranh tài tại Giải Thể thao điện tử châu Á 2026 - Esports Championships Asia 2026 (ECA 2026), đội tuyển thể thao điện tử Việt Nam đã giành 4 huy chương, trong đó có 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc và 1 huy chương đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
  • Phường Ba Đình số hóa di sản ẩm thực, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô
    Tại hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm diễn ra ngày 24/4, phường Ba Đình triển khai dự án số hóa ẩm thực với nhiều nội dung, xây dựng dữ liệu số về các món ăn đặc trực; gắn mã QR giới thiệu thông tin, nguồn gốc món ăn; quảng bá ẩm thực gắn với du lịch và văn hóa; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát duy giá trị truyền thống.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Liên hoan Yosakoi Việt Nam 2026: Kết nối văn hóa, lan tỏa năng lượng tích cực
    Tiếp nối thành công của Liên hoan Yosakoi những năm trước, Liên hoan Yosakoi Việt Nam lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Giao lưu văn hóa - Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai” chính thức diễn ra trong hai ngày 25 - 26/4 tại Ninh Bình và Hà Nội, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, vũ công và công chúng yêu nghệ thuật.
  • Nhà hát Kịch Việt Nam dựng vở “Vũ Như Tô” của tác giả Nguyễn Huy Tưởng
    Nhà hát Kịch Việt Nam vừa khởi công dàn dựng vở kịch kinh điển “Vũ Như Tô” - một trong những tác phẩm tiêu biểu của sân khấu Việt Nam của Nhà văn, cố tác giả Nguyễn Huy Tưởng, do Đạo diễn - NSƯT Trịnh Mai Nguyên dàn dựng.
Hơn 200 năm tiếp nhận Cung oán ngâm khúc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO