Hơn 200 năm tiếp nhận Cung oán ngâm khúc

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 14/11/2022 09:47

Bậc thi bá Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1898), quê xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) nổi tiếng hay chữ, sáng tác rất nhiều, có tập thơ chữ Hán “Ôn Như thi tập” (Tập thơ Ôn Như) - tiền và hậu tập - gồm hàng ngàn bài.

cung-oan-ngam-khuc(1).jpg
Thi phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều

Tiếc thay, hiện tại không thể tìm thấy chút dấu vết gì. Ngoài ra còn có “Tây Hồ thi tập” (Tập thơ làm ở Hồ Tây), có thơ trong “Tứ Trai thi tập” (Tập thơ Tứ Trai) của bốn anh em, hai tập này cũng tàn khuyết hầu hết, chỉ còn vài bài chép trong Tạp ký (Ghi chép tản mạn) của Lý Văn Phức (1785 - 1849) và khoảng mươi khổ thơ trích dẫn lẻ tẻ trong Nguyễn Gia phả ký (Ghi chép thế phả họ Nguyễn Gia). Chính vì vậy mà thư mục Nguyễn Gia Thiều trong kho sách Hán Nôm hiện tại khá đơn giản. Và cho dù tài thơ của Nguyễn Gia Thiều được Lý Văn Phức đánh giá: “Thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân” (Trăm nghìn lần tôi luyện, từng lời khiến người ta phải kinh sợ) thì nay cũng chỉ biết chủ yếu về tác phẩm bất hủ “Cung oán ngâm khúc”. Mà lịch sử giới thiệu, nghiên cứu tác phẩm này cũng trải qua nhiều thăng trầm, khen chê lúc có vẻ “công bằng”, khi thiên lệch.


Tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” hiện còn 9 bản chép tay và khắc in khác nhau và bản in chữ Quốc ngữ sớm nhất có nhan đề “Cung oán ngâm khúc diễn ca quốc ngữ và chú giải các điển tích” do Nguyễn Văn Vĩnh thực hiện (1911), sau này được tái bản và dịch ra nhiều ngôn ngữ như Pháp, Nga, Đức, Anh,… Tuy nhiên có một nghịch lý, trước năm 1954, việc giới thiệu, xuất bản, giảng dạy “Cung oán ngâm khúc” được tiến hành khá rộng rãi. Năm 1943, sách giáo khoa “Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm đã giới thiệu và nhận xét: “Lời văn thì rõ là của bậc túc nho uẩn súc: đặt câu thì gọt giũa, cao kỳ; diễn ý thì dùng nhiều chữ bóng bẩy và nhiều điển cố. Thứ nhất là trong những đoạn tả nỗi buồn rầu của người cung phi thì giọng văn réo rắt, thật tả hết nỗi đau khổ, bực dọc của một người đàn bà còn trẻ mà bị giam hãm trong cảnh lẻ loi lạnh lùng. Văn Nôm trong cuốn ấy thật đã tới một trình độ rất cao” (1943)…
Từ sau 1954, tình hình có khác. Ở đô thị miền Nam, “Cung oán ngâm khúc” được giảng dạy ở hầu khắp các bậc phổ thông và đại học nên việc xuất bản và nghiên cứu tác phẩm cũng dễ dàng, với tên tuổi những  Nguyễn Văn Diêu, Phạm Thế Ngũ, Bùi Đức Tịnh, Trần Cửu Chấn, Lê Tâm, Thuần Phong… Ở miền Bắc, trong một thời gian dài tác phẩm này cũng chịu số phận là “có vấn đề”, nhiều “độc tố”, nhân sinh quan, vũ trụ quan yếm thế, tiêu cực và đề cập đến nhiều khía cạnh nhục cảm - một phương diện được coi là cấm kỵ, cho nên tác phẩm và tác giả bị loại ra khỏi sách giáo khoa, thậm chí ngay ở bậc đại học cũng chỉ được giới thiệu sơ lược. Từ khoảng thập niên tám mươi lại đây, tình hình có khác, thơ ông được giới thiệu, giảng dạy trong cấp PTTH (lớp 10) và cao đẳng, đại học với quan điểm tiếp cận khoa học hơn.

img-0798.jpg
cung-oan-ngam-khuc-2.jpg
cung-oan-ngam-khuc-3.jpg


Trên thực tế, phải đến năm 1991, nhân kỷ niệm 250 năm sinh Nguyễn Gia Thiều, một lễ kỷ niệm và hội thảo khoa học đã được tổ chức tại quê hương nhà thơ là một sự kiện văn hóa lớn, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong phương hướng tiếp nhận tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” cũng như tìm hiểu con người xã hội và nghệ sĩ Nguyễn Gia Thiều. Kết quả nghiên cứu được đúc kết theo ba chủ đề lớn: Môi trường địa - văn hóa và thời đại lịch sử “đã sản sinh ra Nguyễn Gia Thiều, tạo nên tầm vóc tư tưởng cũng như cốt cách văn hóa đặc biệt”; Tìm hiểu ý nghĩa đích thực của thông điệp nghệ thuật Nguyễn Gia Thiều gửi gắm qua cách hiểu hình tượng người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc”; Xem xét những sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Gia Thiều về mặt thể loại, phong cách và ngôn ngữ nghệ thuật qua khúc ngâm…


Đề tài cung nữ là đề tài có truyền thống lâu đời ở Trung Hoa và ngay ở Việt Nam, Nguyễn Gia Thiều cũng không phải là người đầu tiên khám phá, khai thác nhưng với “Cung oán ngâm khúc”, ông thực sự là nhà thơ vượt lên trên tất cả, đến mức mỗi khi nhắc đến đề tài này, văn giới nghĩ ngay đến tác phẩm của ông. Có hai loại ý kiến: Nhà thơ không gửi gắm tâm sự về thời cuộc và ngược lại. Quan điểm thứ nhất cho rằng Nguyễn Gia Thiều viết “Cung oán ngâm khúc” thuần túy nói về số phận người cung nữ, không nhằm gửi gắm tâm sự gì (Dương Quảng Hàm, Thuần Phong… Dương Quảng Hàm viết: “Đề mục ấy có lẽ không liên lạc gì với thân thế tác giả và các việc xảy ra trong nước hồi bấy giờ. Duy ta nhận thấy có nhiều thi sĩ đương thời cũng đem đề mục ấy ra ngâm vịnh” (1943). Thứ hai, theo dòng chủ lưu, có thể nói nhận thức ý nghĩa hình tượng người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” mới là vấn đề có lịch sử nghiên cứu vào loại lâu đời nhất. Các nhà nghiên cứu lâu nay đều đứng trước một hiện tượng rất khó lý giải: Nhân vật nàng cung nữ của Nguyễn Gia Thiều triết lý quá cao siêu, lời lẽ quá già so với tuổi, cũng như tác giả đã để cho cung nữ có những hành vi vượt ra khỏi khung qui chuẩn người phụ nữ phương Đông đã trở thành “những ước lệ nghiêm ngặt của nghệ thuật phong kiến” và được gói gọn trong bốn chữ “công - dung - ngôn - hạnh”. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác giả Tôn Thất Lương, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Quang Khải, Trần Thị Băng Thanh, Đặng Thanh Lê, Nguyễn Duy Kha… Các công trình nghiên cứu đều cố gắng tập trung lý giải nguyên nhân Nguyễn Gia Thiều để cho chủ thể trữ tình “lấn sân” sang ranh giới của nhân vật. Đặng Thanh Lê xác định “Cung oán ngâm khúc” có tính chất nhiều chủ đề, không chỉ có một dòng cảm xúc chủ đạo mà có hai dòng cảm xúc trữ tình đan xen nhau. Đó là ông vừa có phong cách triết học trong cảm hứng văn học và phong cách văn học trong nhận thức triết học. Và do hai dòng cảm xúc cùng “điều khiển” ngòi bút của Nguyễn Gia Thiều nên tác phẩm có một nội dung phản ánh luôn luôn phát triển theo hướng “mở”, phản ánh được chiều sâu số phận con người và nhiều vấn đề của hiện thực xã hội rộng lớn...


Xác định “Cung oán ngâm khúc” đặt trong mối quan hệ với sự hình thành, phát triển thể loại song thất lục bát - một trong số các thể loại nội sinh, mang tính chất dân tộc đậm nét cũng là một hướng nghiên cứu có nhiều kết quả sắc nét. Từ hướng tiếp cận, lý giải tác phẩm trong chính hình thức thể loại sẽ cho thấy một “Cung oán ngâm khúc” với những giá trị vĩnh cửu, đạt tới sự ổn định của thể ngâm khúc và có vị trí quan trọng trong lịch sử thể loại. Đặng Thanh Lê đúc kết: “Một thời đại đầy biến động, kinh thiên động địa. Một thân thế đắc thất, nổi chìm đa dạng. Một tài năng văn võ kiêm toàn. Một tài hoa phong phú, văn thơ nhạc, họa, kiến trúc. Và những tâm tư phức tạp đối diện cuộc sống đương thời… Tất cả kết tinh thành cảm hứng sáng tác mang màu sắc, phong cách độc đáo Nguyễn Gia Thiều ở qui mô dung lượng đề tài, chủ đề, ở tính tổng hợp của hình tượng trữ tình và ở phong cách ngôn ngữ giàu sức biểu hiện mạnh mẽ” (1991).


Với các hướng nghiên cứu được đúc kết như trên, vậy thì ý nghĩa vị trí Nguyễn Gia Thiều trong sự nghiệp thi ca thế kỷ XVIII được đánh giá ra sao? Lâu nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong xác định giá trị nội dung của “Cung oán ngâm khúc” không chỉ nói lên thân phận hẩm hiu, cay đắng của người cung nữ mà nổi trên trên hết là “một tiếng nói tố cáo xã hội” (Phạm Thế Ngũ). Các vấn đề phản ánh trong tác phẩm đều ít nhiều có liên quan đến “một trạng thái xã hội lúc bấy giờ”, nhà thơ đã nói hộ người cung nữ “cái tâm sự oán hận sầu tủi” và qua người cung nữ, “kêu lên giùm người phụ nữ trong xã hội phong kiến tiếng kêu đả đảo một chế độ vô nhân đạo đối với nhân phẩm và tình cảm con người” (Nguyễn Lộc). Các nhà nghiên cứu còn tìm thấy sự “liên thông tâm trạng” khá rõ trong các bài thơ như “Bảo cam ra hái hoa” với “Cung oán ngâm khúc”. Trên phương diện nghệ thuật, từ các nhà Hán Nôm đầu thế kỷ XX như Đinh Xuân Hội, Trúc Khê, Dương Quảng Hàm, Vân Bình Tôn Thất Lương, Lê Văn Hòe, Thuần Phong, Hà Như Chi… và nhiều nhà nghiên cứu đương đại cũng đều rất chú trọng khảo sát tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều và thống nhất cao trong nhận định giá trị nghệ thuật đặc sắc của “Cung oán ngâm khúc”. Khảo sát các phương diện thể thơ, kết cấu, chương pháp và tự pháp tác phẩm, Thuần Phong nhấn mạnh: “Sở dĩ áng văn có sức lôi cuốn như thế là nhờ ở nghệ thuật của tác giả đạt đến mức tuyệt vời, tác giả đã áp dụng các phương pháp hành văn một cách tuyệt xảo” (1956). Nguyễn Lộc cũng đặc biệt đề cao ngòi bút Nguyễn Gia Thiều ở tính chất “quý tộc” cao sang: “Đọc Cung oán ngâm khúc người ta dễ có cảm tưởng như đi vào một ngôi đền vàng son lộng lẫy, có phượng múa rồng bay, chạm trổ cực kỳ tinh vi, khéo léo. Trong đền lúc nào cũng thoang thoảng vị hương trầm… Nguyễn Gia Thiều đã thể hiện đầy đủ nhất, đậm nét nhất những đặc trưng của một nghệ thuật có tính chất quý tộc” (1976)… Thậm chí vấn đề nhục cảm trong “Cung oán ngâm khúc” lâu nay còn gây tranh cãi thì tác giả Nguyễn Ngọc Bích với bài viết Đạo Phật, tính dục và âm nhạc tính trong “Cung oán ngâm khúc” lại đưa đến một cách nhìn mới mẻ, thẳng thắn, khoa học và khẳng định vị trí “vô tiền khoáng hậu” của những đoạn miêu tả cái đẹp của dục tính trong “Cung oán ngâm khúc”, “chỉ có thể sánh với văn học Phật giáo Mật tông Tây Tạng mà thôi”. Ngoài ra, ông còn khảo sát các thể thơ Việt Nam và ngôn ngữ sử dụng trong tác phẩm, nhà nghiên cứu đã “tìm ra manh mối và cấu trúc của thi phẩm” - đó là “một bản nhạc giao hưởng, một tác phẩm mà ta có thể tả được bằng cách gọi tiếng Pháp là “poème symphonique” chứ không phải chỉ thuần thúy là một bài thơ” (2005). Trần Thị Băng Thanh lại có phát hiện mới mẻ khi cho rằng kết cấu đảo ngược trật tự thời gian với sự tham gia của hồi ức đã khiến cho “Cung oán ngâm khúc” có dáng vẻ của thủ pháp đồng hiện trong văn học phương Tây… Các ý kiến trên cơ bản đã được tích hợp trong sách “Nguyễn Gia Thiều - Tác gia và tác phẩm” (Nguyễn Hữu Sơn - Đặng Thị Hảo tuyển chọn, giới thiệu. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2019, 462 trang) có ý nghĩa như một sự tổng kết về lịch trình hai trăm nghiên cứu Nguyễn Gia Thiều và thi phẩm “Cung oán ngâm khúc”.

Bài liên quan
  • 10 cuốn sách về nghề thầy
    Nhân dịp 20/11/2022, Nxb Phụ nữ Việt Nam lựa chọn và giới thiệu 10 đầu sách nói về nghề giáo và sự ảnh hưởng của giáo dục đối với xã hội. Người Hà Nội xin gửi tới độc giả thông tin về 10 đầu sách này với hi vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích cho độc giả trong tuần lễ mà cả nước hướng tới ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11).
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại
    Gần 300 nhà quản lý, chuyên gia và nhà thiết kế trao đổi, chia sẻ tại Hội thảo quốc tế “Mỹ thuật ứng dụng và di sản: Từ giá trị truyền thống đến thiết kế đương đại” tại Trường Đại học Nghệ thuật - Đại học Huế.
  • Tiếp tục đổi mới, khơi dậy tinh thần sáng tạo của văn nghệ sĩ Thủ đô
    Sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội đã trở thành mái nhà chung của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa Thủ đô và nền văn học, nghệ thuật nước nhà. Tại tọa đàm “Văn học, nghệ thuật Thủ đô - 60 năm xây dựng và phát triển” do Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội tổ chức tại Hà Nội sáng 29/10, các ý kiến, tham luận đã làm rõ những dấu ấn sáng tạo, hành trình phát triển cùng những yêu cầu đặt ra trong thời gian tới của văn học nghệ thuật Thủ đô.
  • Một Hà Nội hoài niệm với phở gánh
    Tôi sinh ra ở một làng quê nghèo miền Trung, nơi có cát trắng, gió Lào. Trong những năm tháng tuổi thơ, tôi chưa một lần rời khỏi lũy tre làng. Đến tuổi trưởng thành, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tôi làm việc ở chiến khu Việt Bắc. Rồi một ngày tháng Mười năm 1954, tôi được về công tác tại Hà Nội. Đêm trước ngày vào nội đô, lòng tôi xốn xang, không sao chợp mắt.
  • Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ khai giảng khóa đào tạo cho nhóm đối tượng đặc thù
    Ngày 30/10, Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ tổ chức lễ khai giảng khóa I đào tạo nghề cho nhóm đối tượng đặc thù, gồm công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân và người tái hòa nhập cộng đồng.
  • Khởi công quần thể du lịch sinh thái núi U Bò – hồ Thác Chuối
    UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Tập đoàn Sun Group tổ chức khởi công Quần thể du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí núi U Bò – hồ Thác Chuối với tổng vốn đầu tư 16.234 tỷ đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Phát triển không gian đô thị Hà Nội theo Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm
    Vừa qua, tại kỳ họp thứ bảy (kỳ họp chuyên đề), HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã thông qua Nghị quyết phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 3.5 (đoạn từ Quốc lộ 2 đến đầu cầu Thượng Cát). Qua đó góp phần phát triển không gian đô thị đa trung tâm, hiện đại, bền vững theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
  • Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (1947-1950) được xếp hạng Di tích quốc gia
    Ngày 29/10/2026, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ký ban hành Quyết định số 2913/QĐ-BVHTTDL về việc xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử Địa điểm làm việc của Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật), tại xóm Cây Hồng (1947-1950), xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên.
  • Hà Nội sẵn sàng cho Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026
    Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026 sẽ diễn ra vào ngày 24/11/2026 tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình với quy mô khoảng 50.000 người. Sự kiện nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống, kết hợp di sản với sáng tạo đương đại và khẳng định văn hóa là nguồn lực phát triển đất nước...
  • Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung: Người sáng tạo giá trị mới từ chất liệu truyền thống
    Từ những sợi mây, nan tre vốn gắn với nghề đan lát truyền thống làng nghề Phú Vinh (TP Hà Nội), Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Trung đã tìm ra một hướng sáng tạo riêng cho nghề: đan tranh chân dung. Bắt đầu từ bức chân dung Bác Hồ vào năm 1976, ông từng bước đưa kỹ thuật đan thủ công vượt ra ngoài những sản phẩm quen thuộc, tái hiện hình ảnh các nhân vật lịch sử bằng ngôn ngữ tạo hình độc đáo. Hành trình ấy không chỉ cho thấy sức sáng tạo của người nghệ nhân mà còn mở ra những hướng đi mới cho chất liệu truyền thống.
  • [Podcast] Tản văn: Suối cạn
    Chẳng nhớ tôi đã đi dọc con suối cạn sau nhà bao nhiêu lần. Mỗi lần đi, lại một lần suy tư về con suối mà mình chưa biết tuổi. Có lẽ ngày xửa, ngày xưa khi rừng đầu nguồn chưa bị tàn phá, nó là con suối xinh đẹp, tràn đầy sức sống từ dòng nước trong vắt đầu nguồn.
  • Giải mã sức hấp dẫn của sơn mài qua triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn”
    Từ ngày 30-10 đến 4-11-2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, số 66 Nguyễn Thái Học, phường Ba Đình, Hà Nội, triển lãm “Nguyên – Lãng du cùng Sơn” mang đến cho công chúng cơ hội tiếp cận sơn mài từ cả hai phương diện: thưởng thức tác phẩm hoàn chỉnh và tìm hiểu quá trình tạo nên tác phẩm.
  • Hà Nội tập huấn Luật Thủ đô 2026 cùng các văn bản triển khai thi hành về lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch
    Sáng 28/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị tập huấn Luật Thủ đô, các văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô năm 2026 và đối thoại, giải đáp thắc mắc liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành. Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Hội trường Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (số 47 Hàng Dầu, phường Hoàn Kiếm) và kết nối trực tuyến tới điểm cầu 126 xã/phường; các Nhà hát thuộc Sở và Trụ sở Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật (VHNT) Hà Nội.
  • Đình Tường Phiêu- từ di sản độc đáo đến câu chuyện phát huy giá trị
    Tại Di tích quốc gia đặc biệt đình Tường Phiêu (xã Phúc Thọ, TP Hà Nội), bài toán phát triển kinh tế di sản gắn với bảo tồn, lan tỏa giá trị văn hóa, lịch sử đang có những chuyển biến tích cực. Chính quyền địa phương đang gắn kết các giá trị độc nhất vô nhị tại đình Tường Phiêu với làng nghề hoa cây cảnh truyền thống, giáo dục di sản ở địa phương để chung sức phát triển du lịch văn hóa Hà Nội.
  • [Podcast] Chè đỗ xanh - Ngọt thanh hương vị Hà Nội xưa
    Nhắc đến chè truyền thống Hà Nội, người ta thường nhớ đến hương vị phong của chè sen thơm dịu, chè cốm mang hương lúa non, chè bà cốt ấm nồng mùi gừng, chè đỗ đen ngọt mát trong những ngày hè. Trong bức tranh ẩm thực đa dạng đó, chè đỗ xanh với nguyên liệu chính đỗ xanh là nguyên liệu quen thuộc trong bữa ăn của người Việt, được dùng để nấu xôi, làm bánh, nấu cháo hay chế biến thành nhiều món chè.
  • Tạo xung lực mới để Hà Nội và Phú Thọ cùng phát triển trong kỷ nguyên mới
    Thành phố Hà Nội đã thực hiện lấy ý kiến Nhân dân về việc “Điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính giữa thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ tại khu vực Vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm”. Việc điều chỉnh địa giới hành chính này rất cần thiết, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của hai địa phương cũng như mục tiêu quản lý thống nhất, phát triển bền vững, tăng cường liên kết Vùng Thủ đô và bảo đảm hài hòa lợi ích của Hà Nội và tỉnh Phú Thọ
Hơn 200 năm tiếp nhận Cung oán ngâm khúc
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO