Văn hóa – Di sản

Đỗ Nhuận – nhân tài thời thịnh trị

Nguyễn Vinh Phúc 05/11/2023 15:06

Đỗ Nhuận người làng Kim Hoa, huyện Kim Hoa, xứ Kinh Bắc (nay thuộc thôn Bạch Đa, xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, ngoại thành Hà Nội), sinh năm Bính Thìn (1436). Năm 31 tuổi đỗ đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466). (Theo phát hiện của các cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm 1987 qua việc đọc một tấm bia ở ngay nhà thờ ông ở quê). Sách Đăng khoa lục ghi tên những người đỗ đạt thì đều ghi ông đỗ năm 21 tuổi, như vậy là ông sinh năm 1446. Có lẽ điều ghi ở tấm bia ở quê hương ông chính xác hơn vì các sách có thể bị tam sao thất bản.

do-nhuan.jpg
Danh nhân Đỗ Nhuận được phối thờ tại đền Bạch Đa, xã Kim Hoa (Mê Linh, Hà Nội).

Sau khi đỗ không rõ được giữ chức vụ gì, chỉ biết đến tháng 8 năm Quang Thuận thứ 9 (1468), Đỗ Nhuận cùng với Quách Đình Bảo theo hầu vua về thẳng Lam Kinh, vua tôi xướng họa, tập hợp lại thành tập Anh hoa hiếu trị.

Sách Tao đàn, tác giả, tác phẩm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1994) cho biết:

“Đêm ngày 25 tháng 11 năm Hồng Đức nguyên niên (1470), Đỗ Nhuận được gọi vào hầu vua (Lê Thánh Tông), cùng vua bàn về thiên văn và hai chữ “đạo lý”. Thật là một bề tôi được quân vương đặc biệt ưu ái.

Năm Hồng Đức thứ 2 (1471), Đỗ Nhuận được thăng Đông các hiệu thư.

Ngày 11 tháng 5 năm Hồng Đức thứ 6 (1475), thi Đình tại điện Kính Thiên, vua thân ra đề văn sách, hỏi về đạo vua tôi ngày xưa. Đông các hiệu thư Quách Đình Bảo là những người được cử đọc. Khoa ấy lấy 43 người đỗ, trong đó có Ngô Luân, sau là hội viên hội Tao đàn.

Tháng 11 năm Hồng Đức thứ 14 (1483), Đỗ Nhuận cùng Thân Nhân Trung đứng chủ biên bộ Thiên Nam dư hạ là bộ sách gồm 100 tập. Song đến cuối thế kỷ XVIII đã thất lạc nhiều, “mười phần chỉ còn một hai phần” (Phan Huy Chú). Dù sau này nhiều người sưu tầm lại, sao chép lẫn lộn song bộ sách này cũng là kho tư liệu quý trong việc tìm hiểu điển chế đời Lê.

Sau đó Đỗ Nhuận được thăng Đông các học sĩ.

Tháng 8 năm Hồng Đức thứ 18 (1484) bắt đầu dựng bia tiến sĩ ở Quốc Tử Giám. Lê Thánh Tông sai Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ chia nhau soạn văn bia. Đỗ Nhuận được phân công viết bài văn bia khoa Mậu Thìn năm Thái Hòa thứ 6 (1488).

Tháng 11 năm Hồng Đức thứ 25 (1494) thành lập hội Tao đàn gồm 28 nho thần, do chính vua làm Tao đàn Chánh Nguyễn soái và cử Thân Nhân Trung cùng Đỗ Nhuận giữ chức Tao đàn Phó Nguyên soái. Vua tôi xướng họa, ca ngợi tiết tháo bề tôi... tập hợp lại thành tập Quỳnh uyển cửu ca. Nhưng năm sau, Hồng Đức thứ 26 (1495) Đỗ Nhuận qua đời, thọ 59 tuổi.

Đỗ Nhuận sáng tác nhiều, nhưng chưa xếp thành tập riêng, nên thất lạc không ít, số còn lại hiện nằm rải rác ở các sách khác nhau. Bước đầu tập hợp được một số sáng tác sau đây: 1- Thiên Nam dư hạ (Đồng chủ biên); 2- Anh hoa hiếu trị (Đồng tác giả. Hiện chưa thấy sách này); 3- Thân chinh ký sự (Hiện chưa thấy sách); 4- Bài văn bia Thái Hòa lục niên Mậu Thìn khoa Tiến sĩ đề danh (Đề tên tiến sĩ khoa Mậu Thìn năm Thái Hòa thứ 6) còn ở Văn Miếu Hà Nội; 5- Quỳnh uyển cửu ca (Đồng tác giả, trong đó có 9 bài thơ họa và 6 đoạn văn bình thơ Lê Thánh Tông); 6- Châu cơ thắng thưởng (Đồng tác giả); 7- Chùm thơ ba bài (Đồng tác giả, họa đủ 3 bài và đoạn văn bình thơ Lê Thánh Tông)...

Với vai trò Tao đàn Phó Nguyên soái hẳn Đỗ Nhuận đã góp không ít công sức xây dựng hội này thành một tổ chức sáng tác văn thơ thường kỳ và theo từng chủ đề. Đỗ Nhuận và nhóm Tao đàn đã thể hiện được tư tưởng yêu nước và lý tưởng xã hội chính trị tương đối tích cực. Tuy nhiên, vì là thơ làm theo yêu cầu của nhà vua nên thường khô như những bài thuyết lý về đạo Nho, song đôi lúc ta cũng bắt gặp cảm hứng chân thực của cá nhân thi sĩ như vịnh hoa mai, Đỗ Nhuận có câu:

Tuyết cán phong phiêu đỉnh đỉnh cô,

Thanh cao vạn hộc trọng minh châu.

(Cốt cách từng trải gió tuyết đĩnh đạc,

Vẻ thanh cao muôn hộc trọng như ngọc minh châu)

Đôi lúc Đỗ cũng thể hiện cảm hứng phiêu diêu, thoát tục:

Thế thượng hồng trần lao nhiễu nhiễu,

Nhất sinh thùy thức bạch vân nhàn.

(Đề Lục Vân động)

(Sống trong bụi hồng trần trên đời vất vả phiền nhiễu,

Suốt đời mấy ai biết được làn mây trắng thư nhàn)

(Đề động Lục Vân)

Nhưng trên đại thể thơ Đỗ Nhuận tỏ ra tự hào về sự thánh trị của vương triều thể hiện ở trạng thái xã hội ổn định. Sản xuất nông nghiệp phát triển, nhân dân an cư lạc nghiệp:

Chi tại phật long phong tập lợi,

Hưu trung thời ứng vũ như thăng.

Cửu niên hữu tích, bang tu liễn,

Tứ hải vô nga, đế nghiệp hằng.

(Phong đăng)

(Đời thịnh trị tột bậc sẵn có gió hòa,

Điềm lành luôn ứng thường mưa thuận.

Thóc lúa tích trữ chín năm, trù bị trong nước dồi dào,

Bốn bể bình yên, công nghiệp nhà vua rộng lớn)

Ý thức về sự thịnh trị của vương triều trong thơ Đỗ Nhuận còn gắn liền với niềm tin mạnh mẽ vào thế vững bền trường cửu của đất nước non sông:

Cảnh ngưỡng thánh thần toàn thịnh mỹ,

Đường đường quốc thế Thái bàn niên.

(Quân đạo)

(Ngưỡng mộ thánh thần toàn thịnh trị,

Quốc thế trang nghiêm hùng vĩ như Thái Sơn bàn thạch)

Dưới đây xin trích hai bài Đỗ Nhuận phụng hoạ thơ Lê Thánh Tông:

Đồng bào cộng chẩm lưỡng nan câu,

Tàn nguyệt tây doanh khách mộng cô.

Bích thảo tình hoài không nghị hận,

Thanh sương chí khí thượng hoành thu.

Trầm trầm cổ giác song thanh đoạn,

Niểu niểu lân hồng nhất tự vô.

Thử khứ mạo hiềm ly biệt khổ,

Nhân sinh kỷ đáo Đế vương châu.

(Tư gia tướng sĩ)

(Cùng áo bào lại cùng chăn gối, hai cái đó khó đạt,

Trăng tàn doanh trại phía tây, giấc mộng cô đơn trên đất khách.

Tình cảm anh em luống những ân hận,

Chí người tráng sĩ, còn ngang trời thu.

Tiếng trống, tù và nặng nề vang lên rồi đứt đoạn,

Tin nhạn thư cá biền biệt không có lấy một hàng.

Chuyến đi này, chẳng ngại khổ vì cảnh ly biệt,

Vì đời người mấy khi được đến đất Đế vương)

(Tướng sĩ nhớ nhà)

Tường Luân dịch thơ:

Chung áo, chung chăn, khó cộng cam,

Trăng tàn Tây trại mộng cô đơn.

Anh em tình nghĩa lòng đau đáu,

Tráng sĩ khí cao dạ ngổn ngang.

Tiếng trống tù và xen mấy tiếng,

Thư chim tin cá vắng đôi hàng.

Hiềm chi gian khổ vì ly biệt,

Mấy dịp được về đất Đế vương?

Hai câu kết thì rõ là công thức, chứ bốn câu thực và luận thì thấm đẫm tình người, sự ly cách là nỗi khổ hiển nhiên.

Bài phụng họa thứ hai:

Oa hoàng dẫn phủ khắc toàn ngoan,

Biệt chiếm hồ thiên nhãn giới khoan.

Cảnh hữu thanh phong tần vị tảo,

Môn vô tục khách bất tằng quan.

Dẫn niên nhạn khi xuân đài trưởng,

Hành vũ long quy dạ động hàn.

Thế thượng hồng trần lao nhiễu nhiễu,

Nhân sinh thùy thức Lục Vân nhàn?

(Lục Vân động)

(Nữ Oa lấy búa đục khắc nên hiểm trở hay sao?

Riêng chiếm một bầu trời, tầm mắt bao la.

Cảnh có gió trong thường đến quét dọn,

Cửa không khách tục, chưa từng đóng bao giờ.

Nhạn đi, năm tháng trôi, rêu xuân xanh biếc,

Rồng về, đem theo mưa, động đêm lạnh lùng.

Bụi trần của cuộc đời quấy nhiễu cho mệt mỏi,

Người đời mấy ai đã biết cảnh thanh nhàn của động Lục Vân)

(Động Lục Vân)

Nguyễn Tuấn Lương dịch thơ:

Nữ Oa dùng búa tạc sơn xuyên,

Động mở một bầu thiên tạo riêng.

Gió mát vẫn thường hay quét dọn,

Cửa không cần đóng, khách không tìm.

Nhạn đi năm cũ, rêu xuân biếc,

Rồng đến mưa về, động lạnh đêm.

Bụi tục làm cho đời mệt mỏi,

Mấy ai đã biết động mà lên?

Thật là một bức tranh đẹp, rất đáng yêu, thiên nhiên thanh thoát và ít nhiều mang tính ai hoài.

Cuối cùng, cũng cần phải nói tới tấm bia Tiến sĩ khoa 1448 do Đỗ Nhuận soạn. Nguyên ở ta khoa cử có từ lâu, nhưng mãi tới đời Lê Thánh Tông, cụ thể là tới năm 1484 vua mới có sáng kiến cho khắc tên các Tiến sĩ vào bia đá dựng ở nhà Thái học. Năm đó vua cho dựng 10 bia, kể về 10 khoa thi tiến sĩ từ năm 1442 đến khoa 1481.

Khoa đầu tiên (1442) do Thân Nhân Trung soạn. Khoa thứ hai (1448) do Đỗ Nhuận soạn. Khi ấy Thân, Đỗ là hai đại thần tài học siêu việt được vua rất tín nhiệm nên mới được giao nhiệm vụ quan trọng như trên.

Thân Nhân Trung lúc đó là Phụng trực đại phu Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm Đông Các đại học sĩ. Còn Đỗ Nhuận là Trung trinh đại phu Hàn lâm viện thị độc kiêm Đông Các đại học sĩ. Túc là cũng một mười, một chín rưỡi. Duy văn bia của Thân Nhân Trung là bia đầu tiên và có một câu văn đã trở thành tuyên ngôn: Hiền tài là nguyên khí quốc gia nên nhiều người biết tới. Còn bài văn bia của Đỗ Nhuận có những ý tứ rất hay, cũng trở thành chân lý trong đào tạo giáo dục và trị nước, song là bia thứ hai nên ít được nhắc tới. Nhiều đoạn cũng đặc sắc. Như đoạn này: “Việc chính trị lớn của đế vương không gì cân bằng nhân tại, còn muốn chế độ nhà nước hoàn bị tất phải đợi chờ các vua sáng sau này. Vì làm chính trị mà không lấy nhân tại làm gốc, lập quy chế cho đời sau mà không tính đến cho các ngôi vua sau thì đều là cẩu thả. Sau dư khiến chính trị văn hóa đều thịnh, văn vật điển chương đều đủ?”... Ý tứ cũng chẳng khác mấy với ý tứ của Thân Nhân Trung.

Ngoài ra Đỗ Nhuận còn nêu thêm ý răn đe kẻ sĩ thành đạt để họ khỏi sa ngã khi có chức vụ quyền thế: “Nay những người được đề tên ở bia này, dù nửa phần không còn nữa (vì khoa thi năm 1448 và Đỗ soạn văn bia năm 1484, gần bốn chục năm đã qua đi - NVP chú), song người trung chính hay ngụy tà, việc làm tốt hay xấu, đã có công luận nghiêm khắc. Còn những người hiện đang tại chức nên nhớ ơn trên đã lựa chọn, phải thận trọng để khỏi hổ thẹn. Còn những kẻ học sau này hãy nhìn vào bia mà lựa chọn điều hay mà noi theo, đừng để phải chê trách...”.

Trong khuôn khổ của phong trào văn học cung đình, tác phẩm của Đỗ Nhuận vẫn thể hiện được chủ nghĩa yêu nước và lý tưởng chính trị xã hội tích cực của một sĩ phu có ý thức trách nhiệm với non sông, Tổ quốc./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – tài năng và đức độ
    Linh nhân Hoàng thái hậu Ỷ Lan triều Lý là một nhân vật lịch sử và văn hóa nổi tiếng của nước nhà. Tên tuổi cũng như cuộc đời bà gắn liền với sự nghiệp của hai ông vua anh kiệt là Lý Thánh Tông, chồng bà và Lý Nhân Tông, con trai bà.
(0) Bình luận
  • Triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số”
    Qua ứng dụng công nghệ số, triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số” đã mang đến cho công chúng một cách tiếp cận di sản trực quan, sinh động và gần gũi hơn.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
  • Lễ hội Bình Đà 2026: Trang nghiêm nghi lễ Quốc Tổ, lan tỏa hào khí cội nguồn dân tộc
    Sáng 22/4 (tức ngày mùng 6 tháng 3 năm Bính Ngọ), tại Đền Nội, Bình Đà, xã Bình Minh, thành phố Hà Nội, Lễ rước, tế và dâng hương Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đã được tổ chức trang nghiêm trong khuôn khổ Lễ hội Bình Đà 2026, thu hút đông đảo nhân dân địa phương, du khách thập phương cùng cộng đồng người Việt hướng về cội nguồn.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Những ngày tháng Tư, khi tiết trời Hà Nội bước vào thời khắc đẹp nhất của mùa xuân muộn, vùng đất Bình Đà lại rộn ràng cờ hội, đón người dân và du khách thập phương về dự Lễ hội Bình Đà 2026. Diễn ra từ ngày 19 đến 22/4 tại xã Bình Minh, đây là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của Thủ đô, gắn với tín ngưỡng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân - vị thủy tổ trong huyền sử dân tộc Việt Nam.
  • Hai Bàn thờ Phật bằng đá ở xã Dương Hòa được công nhận Bảo vật Quốc gia
    Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Bảo vật Quốc gia đối với Bàn thờ Phật bằng đá tại chùa Hương Trai và chùa Đại Bi diễn ra tại sân Ải Cả, xã Dương Hòa (Hà Nội) vào ngày 17/4/2026. Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà đã tới dự.
  • Văn hóa dân gian cần được xem như một nguồn lực phát triển đất nước
    Từ thực tế di sản văn hóa truyền thống của dân tộc, GS.TS Lê Hồng Lý – Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, chúng ta cần xem xét văn hóa dân gian như một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, đúng với định hướng phát triển văn hóa Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • “Phan Thuận An với Huế”: Kết tinh một đời nghiên cứu về mảnh đất cố đô
    Nhà xuất bản Tri thức phối hợp cùng Tri Thức Trẻ Books vừa ra mắt bạn đọc bộ sách “Phan Thuận An với Huế”. Đây không chỉ là một công trình khảo cứu công phu có giá trị học thuật mà còn là kết tinh của tình yêu bền bỉ mà nhà nghiên cứu Phan Thuận An đã dành cho vùng đất cố đô.
  • Ký ức tháng Tư
    Tháng Tư lại về. Với người lính, đó không chỉ là một tháng trong năm mà là tháng của ký ức, của những tiếng gọi từ quá khứ vọng về. Mỗi khi tháng Tư chạm ngõ, lòng chúng tôi lại dậy lên những âm thanh cũ: tiếng bước chân hành quân, tiếng võng kẽo kẹt giữa rừng, tiếng hát lạc trong gió núi. Và trên hết, đó là ký ức về ngày đất nước thống nhất - ngày mà bao máu xương, bao tuổi trẻ đã hóa thành niềm vui chung của dân tộc.
  • Du lịch Hà Nội tăng trưởng mạnh, đón hơn 3 triệu lượt khách trong tháng 4/2026
    Theo báo cáo của Sở Du lịch Hà Nội, trong tháng 4/2026, tổng lượng khách du lịch đến Thủ đô ước đạt 3,09 triệu lượt, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025.
  • Việt Nam giành 4 huy chương tại Giải Thể thao Điện tử châu Á 2026
    Sau 2 ngày tranh tài tại Giải Thể thao điện tử châu Á 2026 - Esports Championships Asia 2026 (ECA 2026), đội tuyển thể thao điện tử Việt Nam đã giành 4 huy chương, trong đó có 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc và 1 huy chương đồng.
Đừng bỏ lỡ
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
  • Phường Ba Đình số hóa di sản ẩm thực, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô
    Tại hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm diễn ra ngày 24/4, phường Ba Đình triển khai dự án số hóa ẩm thực với nhiều nội dung, xây dựng dữ liệu số về các món ăn đặc trực; gắn mã QR giới thiệu thông tin, nguồn gốc món ăn; quảng bá ẩm thực gắn với du lịch và văn hóa; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát duy giá trị truyền thống.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Liên hoan Yosakoi Việt Nam 2026: Kết nối văn hóa, lan tỏa năng lượng tích cực
    Tiếp nối thành công của Liên hoan Yosakoi những năm trước, Liên hoan Yosakoi Việt Nam lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Giao lưu văn hóa - Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai” chính thức diễn ra trong hai ngày 25 - 26/4 tại Ninh Bình và Hà Nội, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, vũ công và công chúng yêu nghệ thuật.
  • Nhà hát Kịch Việt Nam dựng vở “Vũ Như Tô” của tác giả Nguyễn Huy Tưởng
    Nhà hát Kịch Việt Nam vừa khởi công dàn dựng vở kịch kinh điển “Vũ Như Tô” - một trong những tác phẩm tiêu biểu của sân khấu Việt Nam của Nhà văn, cố tác giả Nguyễn Huy Tưởng, do Đạo diễn - NSƯT Trịnh Mai Nguyên dàn dựng.
Đỗ Nhuận – nhân tài thời thịnh trị
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO