Lý luận - phê bình

Còn đây một thời hoa đỏ

Vũ Quần Phương 08:16 22/05/2023

Thanh Tùng, có những câu thơ thật bình dị, dễ hiểu, nhưng đọc xong cứ phải sững lại. Có gì trong ấy: “Mọi người tiễn em ra mộ/ Anh lại đón em về với trái tim/ Đó là nơi tốt nhất của em/ Nơi không bao giờ thay đổi” (Dù em đã đổi thay).

nha-tho-thanh-tung-anh-me-thuan.jpg
Nhà thơ Thanh Tùng

Có, có một cõi lòng để ngỏ, xót đau, chân thật. Cái làm ta sững lại phải chăng là câu thơ trong dấu ngoặc, một chú thích con con nhân nói đến đổi thay. Câu chuyện tan vỡ của vợ chồng Thanh Tùng, nhiều bạn bè đã biết và đều tiếc cho cả hai, ngay từ ngày ấy. Nhưng phải đến những năm sau này, đọc vào chính thơ Thanh Tùng mới thấy hết nỗi tiếc thương điên dại của anh sau cuộc tan vỡ này. Việc đời đã ra như thế, điều ta quan tâm là chia sẻ ra sao với nỗi lòng người. Là hiểu biết gì thêm về tình cảm con người. Bản tính Thanh Tùng vốn mạnh mẽ, chịu quăng quật, chịu thích ứng, luôn giành chủ động trong mọi tình huống. Nhưng trong nỗi đau tình cảm này, anh đã âm thầm chịu đựng nó, cảm nhận nó trong một tình thế thường xuyên, thậm chí thời gian càng lùi xa cường độ lại càng đau. Đau đến điên dại, mình không nhận được ra mình: “Ai bỏ tôi đi thế này/ Tôi bỏ ai đi thế này/ Kẻ nào đã nuốt hết gió/ Cho buồm chẳng thể ra khơi”.

Ngoài đời, ngỡ vẫn một Thanh Tùng ăn sóng nói gió, đến đâu tưng bừng bạn bè đến đó. Trong thơ, rõ dần một Thanh Tùng âm thầm nghe ngấm trong từng tế bào mình một nỗi cô đơn chung thân, tinh vi, êm ả và triệt hạ. Anh nói rằng người ấy để lại trong tim anh mũi dao, thỉnh thoảng nó lại nhấn sâu thêm một chút. Mọi thứ thuốc chữa đều vô hiệu. Anh phải chữa trái tim đau bằng rượu. Nhưng rồi trái tim cũng hóa thành bình rượu. Và mũi dao kia cũng say mèm song nó vẫn cứ nhấn sâu thêm từng lúc.

Bài thơ “Thời hoa đỏ” đã hình thành trên nền cảm xúc đó, nhưng đối chọi nhau chói chang hơn giữa hạnh phúc và mất mát, giữa khát khao và tan tác, giữa hoa đỏ và máu rơi. Cách thể hiện bài thơ này là một sáng tạo. Những cảm xúc, những suy nghĩ khác nhau, trái chiều nhau cùng đồng hiện mà đan nhau. Như an ủi lại như hành hạ. Rất khó phân tích bằng tư duy logic chỉ có thể cảm nhận. Nghe ra được tâm trạng này không dễ, diễn được nó ra bằng những câu thơ lạ lùng này, tôi nghĩ là một đột xuất của Thanh Tùng và của cả nền thơ. Xin trích một số câu: “Ta nhìn sâu vào mắt nhau mà thấy lòng đau xót/ Trong câu thơ của em anh không có mặt/ Câu thơ hát về một thời yêu đương tha thiết/ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”.

Có mấy câu như điệp khúc hùng tráng mà xót thương, tạo hình dữ dội mà dư âm lại rất hiền. Âm điệu ma mị, rất liêu trai: “Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/Như máu ứa một thời trai trẻ Hoa như mưa rơi rơi/ Như tháng ngày xưa ta dại khờ”.

Thời hoa đỏ”, bài thơ gắn vào nhiều nét riêng của duyên phận Thanh Tùng, nhưng anh không định kể lại rồi cảm thán về nó. Anh chỉ nói hiện thực của lòng anh ở thời điểm ấy.

Thơ Thanh Tùng có một bản năng nội tâm sâu sắc. Trong giai đoạn đầu của đời viết, khi cả nền thơ nước ta gánh hai nhiệm vụ: Đấu tranh thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Thanh Tùng đã góp xứng đáng phần mình vào dàn đồng ca chung của thế hệ những nhà thơ (xuất hiện trong thời kì kháng chiến) chống Mỹ. Sự bộc lộ giọng điệu tâm hồn của từng người khi ấy chưa được thuận lợi như những năm Đổi Mới sau này. Thanh Tùng được xếp vào những cây bút tiêu biểu của thơ vùng công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh, tên anh hay được nhắc cùng với những Đào Cảng, Thi Hoàng, Hoàng Hưng, Yên Đức, Trí Dũng, Trần Nhuận Minh… Ưu điểm chung của các anh, thường được biểu dương là cảm xúc khỏe khoắn, chất thơ mang màu sắc mới, có tính công nghiệp, giọng thơ xốc vác, gần cuộc đời… Đó cũng chính là phẩm chất trội nhất của thơ Thanh Tùng hồi ấy. Anh được coi là người lĩnh xướng trong vạt thơ đề tài công nhân, công nghiệp. Từ khi có quốc sách Đổi Mới, thì Thanh Tùng cũng như cả thế hệ anh đã có một bước phát triển rõ rệt, có thể còn rõ hơn ở hai thế hệ đàn anh. Bạn đọc đã nhận ra một Trần Nhuận Minh hiện thực sắc sảo, một Thi Hoàng thâm trầm giễu cợt, vượt hẳn giai đoạn trước. Riêng với Thanh Tùng, giới nghiên cứu chưa có mấy phát hiện mới về anh. Có thể do đặc tính nghiên cứu văn chương ở ta, nó phải được dấy lên từ một sự kiện có tính phong trào như một cuộc hội thảo hay cuộc giới thiệu sách quy mô, thường là do tác giả tự tổ chức. Việc này người làm thành công nhất và cũng thất bại nhất là một ông làm giả thơ Thiền. Thanh Tùng không có điều kiện làm việc ấy, mà tôi đoán, chưa chắc anh đã thích cung cách đó. Sự đổi thay ở Thanh Tùng có phần lặng lẽ. Lặng lẽ vì anh chuyển sang trữ tình riêng tư, hơn là đuổi theo sự kiện xã hội. Lại đúng chặng anh đăng báo ít, in tập cũng thưa. Công chúng thơ vẫn quen nhìn anh là cây bút chuyên về công nhân, công nghiệp tiêu biểu. Định vị ấy đến nay, với anh, không đủ nữa. Anh đã mở rộng đề tài, mở rộng chủ đề, mở rộng cả cách viết, đặc biệt thể nghiệm và đã có thành công, nhiều bài thơ ứng tác. Những vui buồn thuộc về con người đều chuyển hóa trong tâm hồn anh thành thơ. Những vật vã đau đớn của đời anh đã được thơ anh biết tới. Sau ngày anh tạ thế, tuyển tập thơ Thanh Tùng đã cho thấy đầy đủ hơn chân dung đời anh và sự nghiệp thơ anh: Một khuynh hướng sáng tác phóng khoáng nhưng âm thầm, ngày càng giàu thêm bản lĩnh cá thể nhưng lại ổn định một phong vị cổ điển vững chãi.

Bản lĩnh cá thể mang trong lòng nó một nhân cách hàng đầu của tính hiện đại. Ấy là chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, mà biểu hiện trước tiên là không quan liêu với chính trái tim mình. Kết quả là phẩm chất chân thực của tác phẩm. Chân thực về cá thể tác giả và ngay sau đó là chân thực về cả một thời đại. Đòi hỏi đầu tiên để thực thi phẩm chất này là tác giả phải có năng lực nghe được những diễn biến tế vi trong chính lòng mình và năng lực thể hiện nó ra, sáng rõ thuyết phục, trên ngôn ngữ. Thanh Tùng đã có được những năng lực ấy. Đó là hai đầu vị của tài năng thi sĩ. Tài năng ấy được sinh thành từ bản năng trời cho và một quá trình rèn luyện của từng người. Trong chiêm nghiệm riêng tư của tôi trong ngót sáu mươi năm theo đuổi nghiệp thơ, tôi thấy, nhiều lúc, ở nhiều người, có tôi trong đó, năng lực đáng quý này lại bị xói mòn do cách hiểu còn giáo điều và thô thiển về chức năng văn chương. Thanh Tùng trả phí tổn cho lầm lạc này không lớn. Có lẽ do tính anh phóng khoáng. Mê thơ chứ không mê các thứ lý sự lằng nhằng, đa thư loạn ngôn. Đọc anh thấy rõ lắm khuynh hướng thơ nội tâm phát triển như một tất yếu và khá nhất quán. Ở trên tôi có nói đến nét đặc hiệu của tình cảm anh trong chuyện đổ vỡ hôn nhân. Nét đặc hiệu ấy ta lại có thể nhận ra trong nỗi đau mất mẹ. Thanh Tùng phát hiện ra anh cũng từng có một ý nghĩ lười biếng và u mê rằng mẹ là vĩnh cửu ở bên ta. Anh yên tâm thế và dồn sức đuổi theo khát vọng làm thơ: “Con mải mê để lại mẹ một mình/ Bao lửa ấm con truyền vào thơ hết/ Mẹ già nua lạnh lẽo buổi chiều tàn/ Bao hăm hở con dồn vào phía trước/ Đằng sau mẹ vẫn khóc âm thầm”.

tuyen-tho-thanh-tung.jpg

Để bây giờ, hai câu kết của bài thơ, anh ân hận viết: “Để con luôn vội vã/ Không kịp về với mẹ một lần”. Và ở một bài khác, anh tự nhận lỗi mình: “Con chỉ của mẹ cha một nửa/ Một nửa còn của những quãng đường xa”.

Ý định ấy thật tốt đẹp, cao cả nữa. Nhưng giờ đây anh thực tế hơn và chua chát nhận ra: “Thơ con an ủi cho bao phiền muộn/ Riêng mẹ thì chưa có được bao giờ”.

Ở những đề tài xã hội, anh không khai thác vào sự kiện như thói quen phản ánh và bình luận của thơ bây giờ mà anh nói cái dấu vết của sự kiện đó giột xuống lòng mình. Ý thơ làm bàng hoàng cả tâm trí: Ngày khai trường đứa bé được bố sắm cho sách bút áo quần, cả đồ chơi, các thứ, nhưng cháu vẫn phải nhắc bố, lời nhắc con trẻ hồn nhiên, người lớn nghe mà sững người, thương cháu quá và thấy mình như có tội: “Nhưng cha ơi cha quên sắm cho con đôi nạng mới/ Đã hai năm từ khi con bị bom/ Chiếc nạng cũ chẳng chịu cùng con lớn lên, cha ạ!”

Phong vị cổ điển: Tạng cảm xúc Thanh Tùng vốn giàu dĩ vãng. Anh ngỏ cửa hồn mình mặc cho nó tuôn trào: “Tôi trữ lượng trong mình thác nhớ/ Mùa xuân ơi hãy đạp tung cánh cửa/ Cho tôi về uống lại nước sông Hồng/ Tôi khô cháy lên rồi lê lết dưới trời Nam/ Cho tôi về ngủ dưới gốc cây sưa/ [...]/ Cho tôi về, cho tôi về/ Tôi vừa yêu trở lại/ Mùa thu vừa hò hẹn với riêng tôi”.

Giọng thơ Thanh Tùng thanh thoát, thoáng rộng, là nhờ ở trữ lượng cảm xúc được tích lũy theo khuynh hướng đó. Thi liệu truyền thống, cảm xúc lớp lang, lớp nọ bồi theo lớp kia, không đứt mạch, tự sự sáng rõ, vị tình hơn vị ý… Trong bản chất, mạch trữ tình Thanh Tùng kế thừa được nhiều ưu thế của bút pháp cổ điển. Thế mạnh của anh là tình cảm. Chỗ anh phải cảnh giác là nó dễ khuôn cảm xúc theo lối mòn, ý thơ bị cuốn theo những hình ảnh xưa, và tư duy không mới. Tôi có cảm nhận anh đã có ý vượt qua cái bẫy đó bằng chọn cách dựng bài không bố cục. Mỗi bài như một lát cảm xúc. Mở bài trực khởi vào ngay chủ đề, vào ngay xúc cảm. Và thơ chấm hết khi mạch cảm xúc vừa dứt. Mỗi bài chỉ như một kí họa.

Thanh Tùng thường sử dụng thủ pháp này khi làm thơ ứng tác. Anh có biệt tài cất tiếng thành thơ. Bài thơ gọn, thường một chủ đề sáng rõ. Với Thanh Tùng, anh hay dùng chủ đề hồi cố, vận dụng được kho nguyên liệu ký ức luôn đầy ắp trong hồn. Ý thơ trong từng câu thường chung nhau một khuôn cấu tạo, một kiểu tư duy. Thí dụ bài “Mỗi một mùa xuân”, 11 câu, hai vế. Vế trên 6 câu: mùa xuân thơ ấu; chung kiểu lập ý bằng cái nhìn tưởng tượng của trẻ thơ: phố như làm bằng bánh ngọt, cây như xức nước hoa… Vế sau 5 câu, mùa xuân của bây giờ là một niềm hoài niệm, cái đã mất không thể nào có lại. Bài thơ hết trong một dư vị tình cảm, thường buồn. Nhưng điều đáng nói hơn là anh đã có những bài ứng tác vượt qua cái chung ấy, nhiều bài dù ta đã thoáng lần ra thủ pháp nhưng vẫn bị mê đi về những biến hóa trong cách anh tạo mối liên hệ mới của các chi tiết và nhất là trong tình cảm khi anh đã chạm vào sâu thẳm của việc đời (bài Cơm mới). Ứng tác là một biểu hiện của sức tưởng tượng phóng khoáng và cách nghĩ mẫn tiệp, là một lợi thế của bút pháp Thanh Tùng, nhưng nó cũng là chỗ dễ làm thơ anh dừng lại. Có khi còn phản ý tác giả như bài thơ ngắn đọc mừng cô dâu chú rể tại một tiệc cưới: “Chúc hai em/ Với đôi đũa ngắn/ Gắp được miếng hạnh phúc từ xa” (dẫn theo một bài viết của Nguyễn Vũ Tiềm). Thơ lập ý tương phản, khéo nhưng ý thơ lại như phê phán: đũa ngắn lại chòi gắp xa./.

Bài liên quan
  • Thừa từ và cụm từ
    Lâu nay, khi giao tiếp chuyện trò hoặc đọc sách, báo chúng ta gặp nhiều những từ, cụm từ thừa, trùng lặp. Xin dẫn ra hai kiểu phổ biến (Những cụm từ thừa, trùng lặp được in nghiêng).
(0) Bình luận
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Từ một câu chuyện của chiến tranh
    Chiến tranh là một “lát cắt” không bình thường của cuộc sống. Mọi sinh hoạt, mọi dự tính, kể cả những điều riêng tư nhất của con người có thể bị đảo lộn để nhường chỗ cho một trật tự lớn hơn: sự thống nhất hành động vì mục tiêu chiến thắng.
  • Từ “Chào con” đến “mẹ đây”: Lời chào tới hai thế giới
    Có lẽ, trước khi con người học cách gọi tên thế giới, thế giới đã kịp cúi xuống thì thầm gọi con người bằng tình yêu. Tình yêu ấy dường như ở ngay đây - trong khoảnh khắc sinh linh chào đời. Ở giây phút mong manh ấy, sự sống bắt đầu. Bài thơ “Chào con, mẹ đây” của Huỳnh Mai Liên đã chạm vào đúng miền nguyên sơ đó - nơi đời người mở ra bằng một tiếng gọi dịu dàng, vừa đón một sinh linh bước vào thế giới, vừa đánh thức một con người khác bên trong người mẹ.
  • Nhà văn Nam Cao - nhìn từ khả năng kiến tạo di sản văn hóa vùng
    Nhà văn có muôn nẻo lựa chọn bút danh cho mình (cội nguồn dòng tộc, kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu, bè bạn, triết lý nhân sinh, thế sự, nghề nghiệp, phép chơi chữ…). Với Trần Hữu Tri (1917-1951), ông chọn bút danh Nam Cao bằng lối ghép địa danh quê hương với hai chữ đầu của tên tổng và huyện: tổng Cao Đà, huyện Nam Xang (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
  • Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim với “Nhịp xuân”
    Thơ Nguyễn Thanh Kim trong tập “Nhịp xuân” mở ra một không gian giàu nhạc tính và ký ức, nơi con người, thiên nhiên, quê hương và lịch sử hòa quyện thành mạch cảm xúc dào dạt. Đọc những vần thơ này, ta cảm nhận rõ nỗi thiết tha với đất mẹ, với những mùa màng, với dòng sông, cây bưởi, hoa gạo, hoa xoan. Tất cả trở thành những biểu tượng vừa gần gũi vừa lung linh trong tâm thức người thơ.
  • Tạp chí Người Hà Nội nhận tặng thưởng của Hội đồng Lý luận Trung ương
    Tối 29/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức Lễ trao tặng thưởng các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất bản năm 2024; khen thưởng các cơ quan báo chí, xuất bản có thành tích nổi bật trong tuyên truyền, quảng bá các hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật năm 2025.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
Đừng bỏ lỡ
  • Góp phần định hình tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam
    PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đánh giá, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết của Quốc hội, ngày 24/4/2026) là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết của Quốc hội góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam.
  • Du khách ngược dòng thời gian, trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung”
    Nhiều du khách vào Đại nội Huế trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung” tại Nhà hát Duyệt Thị Đường.
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
Còn đây một thời hoa đỏ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO