Văn hóa – Di sản

Ngô Chi Lan – nữ học sĩ tài hoa

Phạm Văn Hưng 05/11/2023 14:50

Ngô Chi Lan (1434 - ?) sinh ra và lớn lên vào khoảng giữa và nửa sau thế kỉ XV, một trong những thế kỉ “đa sự” nhất trong lịch sử Việt Nam thời Trung đại. Chính thế kỉ XV đã tạo ra những trang sử chất chồng sự kiện với một mật độ dày đặc những “anh hùng” và những nhân vật có “tính vấn đề”, đầy sức hấp dẫn dù nhìn từ góc độ nào chăng nữa. Mỗi con người, mỗi nhân vật đó đều đã được lịch sử “đặt hàng” để làm chứng nhân và trở thành công cụ trong tay nó. Không phải là anh hùng vệ quốc, không phải là tể thần, danh nho nhưng Ngô Chi Lan đã sống và in dấu lên lịch sử với những nét riêng của chính mình, những nét riêng cơ hồ trở thành đơn nhất.

ngo-chi-lan.jpg
Tranh minh họa nữ sĩ Ngô Chi Lan.

Cho đến ngày nay, nhiều thông tin về Ngô Chi Lan vẫn còn nằm trong phạm vi “tương truyền”, “nghe nói”. Nếu có ai đó trưng ra một số bằng chứng mang tính giấy trắng mực đen về bà thì phần nhiều “giấy mực” đó chỉ là sự văn bản hóa các giai thoại về vị nữ học sĩ tài hoa và cũng nhiều lận đận này. Theo Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương, tên thật của bà là Nguyễn Hạ Huệ. Có lẽ trên thực tế, tên đó ít được dùng bởi tên gọi Ngô Chi Lan có liên hệ chặt chẽ về mặt ý nghĩa với tên tự “Quỳnh Hương” hơn. Bà sống chủ yếu dưới triều Lê Thánh Tông (1460 - 1497), vẫn chưa rõ năm sinh. Tương truyền, bà là cháu ruột của Ngô Thị Ngọc Dao và là con nuôi của Nguyễn Thị Lộ. Nếu đó là sự thực thì từ khi còn trẻ, thậm chí còn nhỏ, Ngô Chi Lan đã sớm phải “truân chuyên” vì những thăng trầm quyền lực ở chốn cung đình nói chung và nội cung nói riêng do những mối quan hệ tự nhiên đó. Sau khi Lê Thánh Tông lên ngôi (1460), bà được vời vào cung làm Nữ học sĩ, lo việc dạy lễ nghi và văn chương cho các cung nhân. Chồng bà là danh sĩ Phù Thúc Hoành (? - ?) người làng Phù Xá, tuy không đỗ đạt nhưng nhờ tài năng và danh tiếng nên được giao giảng dạy Kinh Dịch ở Quốc Tử Giám, sau đó chuyển sang Viện Hàn lâm. Đương thời, Ngô Chi Lan nổi tiếng là người tài sắc vẹn toàn, chăm đọc sách, giỏi đàn ca, từ khúc, thường được Lê Thánh Tông triệu vào chầu hầu trong các buổi xướng họa thơ văn và phong chức Phù gia nữ học sĩ (còn gọi là Kim Hoa học sĩ) vì bà là người làng Phù Lỗ - tục gọi làng Sọ - huyện Kim Hoa (sau đổi là Kim Anh, trấn Kinh Bắc, nay thuộc huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội). Về sáng tác văn học, Ngô Chi Lan chỉ để lại một tập thơ là Mai trang tập (Tập thơ vườn mai), dưới thời Hoàng Đức Lương vẫn còn lưu hành nhưng sau này thất lạc gần hết. Thơ văn của bà hiện còn hai bài thơ chữ Hán thể ngũ ngôn chép trong Trích diễm thi tập, một chùm thơ trong Truyền kì mạn lục và bài thơ đề núi Vệ Linh in trong Lĩnh Nam chích quái.

Trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại, số tác giả nữ không nhiều. Sự xuất hiện của Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan... (vốn không phải là đông đảo gì) vào nửa sau thế kỉ XVIII - nửa trước thế kỉ XIX gần như là một biệt lệ. Ngoài những nữ sĩ xuất hiện rải rác trong giai đoạn trước với một, hai thi phẩm còn để lại như Lê Thị Ỷ Lan, Lý Ngọc Kiều, Điểm Bích và người cùng thời với Ngô Chi Lan trong thế kỉ XV (mà tiểu sử, hành trạng còn “mù mờ” hơn nhiều là Nguyễn Thị Lộ) thì có thể nói Ngô Chi Lan là nhà thơ nữ đầu tiên có những đóng góp cụ thể với một số lượng thi phẩm “đáng kể” đối với sự vận động, phát triển của văn học Việt Nam nói chung và văn học thời trung đại nói riêng. Sống giữa thời thịnh trị trong niên hiệu Hồng Đức, khi nhà vua và các văn thần đang còn say sưa với những đề tài minh quân, lương thần, hòa cốc phong đăng… thì số thi phẩm nhỏ nhoi của bà thực sự đã đem đến cho văn học giai đoạn này một sắc diện trẻ trung và mới mẻ. Một buổi kia, tương truyền bà được Ngô Thái hậu cho tháp tùng lên du ngoạn trên núi Vệ Linh (núi Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn ), tức cảnh sinh tình nữ sĩ đã viết nên một bài thơ về vị thánh trong xếp hạng tứ bất tử của dân tộc:

Vệ Linh xuân thụ bạch vân nhàn,

Vạn tử thiên hồng diệm thế gian.

Thiết mã tại thiên, danh tại sử,

Anh uy lẫm lẫm mãn giang san.

(Vệ Linh mây trắng tỏa cây xuân,

Hồng tía muôn hoa đẹp cảnh trần.

Ngựa sắt về trời, danh ở sử,

Oai thanh còn dậy khắp xa gần)

Sau vài tháng, bài thơ này truyền khắp trong cung, được Thuần hoàng đế Lê Thánh Tông khen ngợi. Một lần khác, Lê Thánh Tông ngự ở Thanh Dương môn, sai quan Thị thư họ Nguyễn làm bài từ khúc Uyên ương. Khi bài dâng lên, vua xem chưa vừa ý liền bảo Ngô Chi Lan làm một bài theo đề đó. Bà làm thoắt chốc đã xong, hoàng thượng xem và khen ngợi hồi lâu, ban cho năm đĩnh vàng, lại gọi là Phù gia Nữ học sĩ. Từ đó Ngô Chi Lan nổi tiếng khắp trong triều ngoài quận, được làng bút mực nể vì, trọng thị. Việc sử sách truyền rằng “Mỗi khi yến tiệc, nàng thường ôm quyển đứng chầu hầu vua, hễ vua phán làm thơ, chỉ thoắt chốc đã làm xong ngay, không cần phải sửa chữa gì cả” hẳn không phải là vô cớ. Cả một đời sống và gắn bó với Thăng Long, Ngô Chi Lan quả là một người “dan díu với kinh thành” thực sự sâu sắc. Cảnh và người Thăng Long đi vào thơ bà thật nhẹ nhàng, đằm thắm, ở nhiều bài gần như thoát khỏi phong khí của văn học cung đình, đạt cả lời lẫn ý, kết hợp nhuần nhuyễn sự thụ cảm giữa vẻ đẹp của cảnh vật với những chi tiết của đời sống con người. Bài Thái liên khúc (Khúc hát hái sen) của bà toát lên một vẻ đẹp nhẹ nhàng, tươi sáng về vùng hồ Tây - Thăng Long xưa:

Tương khan lục mấn niên,

Vô sự thái khê liên.

Tiểu cô, kiều bất ngữ,

Đới tiếu học xanh thuyền.

*

Liên hoa viễn cận hương,

Thái thái tổng sơn nương.

Mạc khiển phong xuy mấn,

Băng cơ nguyên tự hương.

(Kìa xem cô gái tóc xanh,

Gặp khi thong thả ra ghềnh hái sen.

Cô em duyên dáng lặng yên,

Mỉm cười tập lái đưa thuyền lướt qua.

*

Hương sen thoang thoảng gần xa,

Cô em quê lúa hái hoa trên dòng.

Tóc mây chẳng bận gió lồng,

Nước da băng tuyết trắng hồng mát thay!

Ngày nay, một trong những nguồn tài liệu còn để lại nhiều thông tin về Ngô Chi Lan là truyện Kim Hoa thi thoại (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa) trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Đặt sang một bên những yếu tố hư ảo, huyền bí của thể truyền kì, câu chuyện cũng cung cấp cho ta một số dữ kiện nhất định. Nguyễn Dữ đã mượn lời Sái Thuận (nhà thơ đất Kinh Bắc) để ca ngợi bà: “Nam châu nếu không có tôi, biết đâu phu nhân chẳng là tay tuyệt xướng, mà tôi nếu không có phu nhân biết đâu chẳng là tay kiệt xuất trong một thời. Thế mới biết lời đồn quả không ngoa thật”... Câu chuyện dựng lại cho hậu thế một không khí sinh hoạt văn chương êm đềm của thời thịnh mà trong đó dinh thất của Ngô Chi Lan và Phù Thúc Hoành gần như là một “Tao đàn” thu nhỏ, là nơi lui tới của nhiều danh sĩ đương thời. Những sinh hoạt văn chương đó không thấy nói đến người “cầm trịch” nhưng nếu có thì hẳn Phù gia nữ học sĩ Ngô Chi Lan phải đóng một vai trò quan trọng. Theo Truyền kì mạn lục, bà mất năm ngoài 40 tuổi, táng ở cánh bãi Tây Nguyên, tuy nhiên theo một số tư liệu, nếu thực sự bà là người viết bài thơ viếng Lê Thánh Tông (1442 - 1497) thì bà mất sau 50 tuổi. Bài thơ viếng ấy được khen là: “Tuy không có gì mới lạ nhưng thương nhớ có thừa, rất hợp với ý thái của người đời xưa (...), lấy hùng hồn làm gốc, bình đạm làm khéo, câu tuy ngắn nhưng ý thì dài, lời tuy gần nhưng nghĩa thì xa”. Tuy nhiên, giữa những thông tin hư hư thực thực ấy, chúng ta còn biết được người đương thời đồn đoán không ít về mối quan hệ của Nữ học sĩ họ Ngô với Thuần hoàng đế Lê Thánh Tông, dù trên thực tế không ít sách vở đã chứng minh bà là cháu gọi ông ngoại Lê Thánh Tông (Ngô Từ) bằng bác, nhậm chức ở tòa Kinh diễn năm Quang Thuận thứ 2 (1461) lúc 27 tuổi và sống đến đời Lê Hiến Tông, “nghĩa kết vua tôi, nhưng tình thật như cha con vậy, lúc chầu hầu, khi lui tới không cần giữ ý tị hiềm”. Những vần thơ khích bác, châm chọc của kẻ sĩ đương thời như:

Quân vương yếu dục tiêu nhàn hận,

Ưng hoán Kim Hoa học sĩ lai.

(Quân vương nếu muốn khuây buồn nản,

Hãy gọi Kim Hoa học sĩ vào)

Hay:

Yến bãi long lâu thi lực quyện,

Lục canh lưu đãi hiểu miên trì.

(Tiệc cạn lầu rồng sức thơ mỏi,

Canh dài giữ đợi giấc nằm trưa)

Một phần chứng tỏ sự ghen ghét của một số thời nhân đối với bà, một phần nói lên những nghi hoặc có thực của người đời về mối quan hệ quân vương - nữ sĩ mà trong đó bậc quân vương thì tài hoa và... đào hoa, còn nữ sĩ lại là người tài sắc lừng lẫy một thời. Cũng như mối quan hệ giữa Lê Thái Tông và Nguyễn Thị Lộ, dù ít dù nhiều, câu chuyện sẽ luôn tồn tại trong thế xét đoán “vườn dưa sửa dép” của người đời.

Qua những giai thoại về Ngô Chi Lan chúng ta có thể hình dung về một con người mẫn tiệp, phóng bút thành thơ. Thơ của bà phần nhiều là thơ xướng họa, ứng khẩu và không được biên chép, tập hợp nên mất mát là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, qua những gì còn lại, đến nay hoàn toàn có thể đồng tình với thi sĩ Xuân Diệu sau này rằng thơ Ngô Chi Lan là “một bước tiến của thơ; (...) lời văn ở đây đã trong sáng, liền, thoải mái, không vất vả, không gợn, và có nhạc điệu” (1982)... Những sáng tác của bà được hậu thế trân trọng và lưu lại trong Văn đàn bảo giám, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nữ lưu văn học sử... Giữa chiều dài mười thế kỉ văn học viết với hàng trăm tác giả văn học còn đứng lại với lịch sử Việt Nam thời trung đại, bà và khoảng chục nữ sĩ khác đã nói lên được những nỗi lòng của cá nhân mình, của giới mình và thời đại mình một cách xuất sắc. Họ thực sự là những gương mặt sáng giá của văn đàn thời trung đại, tự vượt thoát khỏi những hạn chế và thành kiến vốn đã là định đề. Và có một điều, giống với một số nữ sĩ khác (Nguyễn Thị Lộ, Nguyễn Thị Hinh), Ngô Chi Lan vừa là một nhà thơ vừa là một nhà giáo, và trong cương vị “giáo tập” ấy bà cũng đã làm trọn vẹn chức trách của mình, trở thành một trong số ít những “cô giáo” đầu tiên trong lịch sử dân tộc, không chỉ dạy chữ, dạy người mà còn giúp vua giữ yên nội cung để dồn tâm cho chính sự. Điều đó một phần là do truyền thống của quê hương Phù Lỗ văn hiến và khoa bảng hun đúc nên mà có. Ở Phù Lỗ Đoài ngày nay vẫn còn ngôi miếu thờ Phù gia nữ học sĩ, dân làng thành kính gọi là Miếu Bà.

Năm thế kỉ đã qua kể từ ngày người nữ sĩ họ Ngô ra đi theo các vị tiên liệt. Con người tài sắc nức tiếng một thời với tên gọi Chi Lan, với tên tự Quỳnh Hương và lưu lại cho đời Tập thơ vườn mai (Mai trang tập) hẳn là đã tâm đắc rất nhiều với những hoa những hương và khi bà mất đi chắc chắn đã để lại một khoảng trống trên thi đàn, lưu lại niềm tiếc nuối cho biết bao bạn văn trước cảnh “hương còn thơm ngát người đà vắng tanh”. Vẫn như một thói thường, khi đã “cái quan” thì người đời sẽ bắt đầu “định luận”. Tuy nhiên, có hề gì, Ngô Chi Lan vốn đã là “người của công chúng” từ khi còn sống nên những khen chê, những nghị xét, đồn đoán có thể khiến bà buồn bực nhất thời nhưng chóng qua. Ở cõi bên kia, có thể nữ sĩ đã hết ấm ức về những truân chuyên mà mình vấp phải khi gặp được những chị em “cùng một nết phong nhã” để an ủi nhau: “Tạo vật đố toàn!”../.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – tài năng và đức độ
    Linh nhân Hoàng thái hậu Ỷ Lan triều Lý là một nhân vật lịch sử và văn hóa nổi tiếng của nước nhà. Tên tuổi cũng như cuộc đời bà gắn liền với sự nghiệp của hai ông vua anh kiệt là Lý Thánh Tông, chồng bà và Lý Nhân Tông, con trai bà.
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” (từ 11 - 20/9) mở rộng cả về nội dung, không gian và phương thức tổ chức, là sự khẳng định tầm nhìn, hành động thiết thực thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Từ những trang sách đến không gian văn hóa tri thức của Thủ đô
    Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 24/8/2026 thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực thuộc đời sống tư tưởng, văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái xuất bản, thư viện và văn hóa đọc hiện đại, qua đó bồi đắp đời sống tinh thần, khơi mở tri thức và góp phần làm sâu sắc thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội hòa dòng chảy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Là thiết chế văn hóa quan trọng của Thủ đô, cùng với việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Hà Nội đã, đang trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa nghệ thuật góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới. Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội sẽ là nơi gặp gỡ giữa di sản, nghệ thuật, sáng tạo và cộng đồng, đưa những giá trị văn hóa của Thủ đô đến gần hơn với công chúng qua các hoạt động thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 vào tháng 9 này.
  • Khi những giai điệu truyền thống hoà quyện cùng tinh hoa jazz thế giới
    Chiều 6/9, tại Nhà Bát giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” với sự tham gia của NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club đã đem đến cho công chúng một cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa những giai điệu quen thuộc của Việt Nam hoà quyện với tinh hoa jazz thế giới. Từ “Hà Nội - Niềm tin và hy vọng”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” đến “Hà Nội 12 mùa hoa”, hình ảnh Thủ đô được tiếp nối bằng ngôn ngữ âm nhạc giàu sức sáng tạo.
  • “Âm nhạc cộng đồng” góp thêm sắc màu truyền thống cho đời sống văn hóa Hà Nội
    Tối 6/9, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội) chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội thực hiện đã đưa khán giả đi qua nhiều miền ký ức và sắc màu văn hóa bằng ngôn ngữ chung của âm nhạc. Từ những giai điệu mang âm hưởng Tây Bắc đến các ca khúc viết về Tổ quốc, về Thủ đô ngàn năm văn hiến đến khát vọng của thế hệ trẻ, đêm diễn mang đến một dòng chảy âm nhạc kết nối quá khứ với hiện tại, truyền thống với hơi thở đương đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội: Khi văn hóa trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 28/8/2026 về chỉ đạo triển khai “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Không chỉ là một hoạt động văn hóa thường niên, Kế hoạch đặt “Ngày Văn hóa Việt Nam” trong một tầm nhìn rộng hơn: trở thành điểm hội tụ để tôn vinh, lan tỏa các giá trị văn hóa, khơi dậy sức sáng tạo và từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của Thủ đô.
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Chương trình nghệ thuật “Giai điệu Tổ quốc” lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước
    Tối 31/8, tại xã Bát Tràng, Nhà hát Cải lương Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Giai điệu Tổ Quốc", chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026).
  • Cận cảnh lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn trị vì 130 ngày
    Trị vì được 130 ngày thì mất, vị vua thứ 6 triều Nguyễn có lăng mộ nằm giữa rừng thông khá khiêm tốn nhưng vẫn đảm bảo tính uy nghiêm về khu lăng mộ của một bậc hoàng đế.
  • Người dân thích thú với "bữa tiệc" ánh sáng quanh hồ Hoàn Kiếm
    Trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, hồ Gươm là một trong những điểm đến thu hút đông đảo người dân và du khách với không gian cảnh quan được chỉnh trang, khoác lên diện mạo mới cùng hệ thống chiếu sáng nghệ thuật hiện đại, giàu tính thẩm mỹ.
Ngô Chi Lan – nữ học sĩ tài hoa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO