Tác giả - tác phẩm

Lắng nghe, lắng nghe… Thanh Quế

Nhà thơ Vũ Quần Phương 21/09/2023 06:28

Tôi quen Thanh Quế khoảng giữa thập niên 60 thế kỷ trước, ở nhà Trúc Thông. Hai anh cùng học trường Đại học Tổng hợp. Thanh Quế khoa Sử, Trúc Thông khoa Văn. Chúng tôi hồi ấy mới có thơ đăng báo được vài ba năm, ít biết nhau. Trúc Thông yêu cái trong trẻo manh nha của cảm xúc Thanh Quế ngay từ dạo ấy. Anh giới thiệu trước với tôi về thơ Quế. Tôi nhớ hai câu. Hai câu chơ vơ mà nhớ mãi: “Đàn mình kẻ khác cầm dây/ Nặng tay gào thét nhẹ tay khóc thầm”.

chan-dung-nha-tho-thanh-que(1).jpg

Có điều không thấy Thanh Quế đưa cặp lục bát này vào bài thơ nào. Hay tôi chưa đọc hết thơ anh. Có lần trò chuyện tôi đọc lại, Quế lắng nghe nhưng chỉ lặng im. Một chú bé quê Phú Yên, mới 10 tuổi đã tập kết ra Bắc, được toàn xã hội nâng niu nuôi dưỡng, lúc mới ở tuổi ngoài hai mươi đang là sinh viên Hà Nội, mà có câu thơ đầy thân phận thế, cũng là sự lạ. Tôi có ý muốn biết thêm xuất xứ câu thơ. Thấy anh không nói, tôi không dám hỏi, sợ chạm vào một kỷ niệm buồn.

Thanh Quế vốn ít nói. Anh không phải người say chuyện nhưng rất ân cần. Ân cần trong sự im lặng nhìn bạn và nghe. Xong đại học, Thanh Quế trở lại quê hương, chiến trường khu V, ác liệt nhất thời kháng chiến chống Mỹ. Thống nhất đất nước, tôi có thoáng được gặp anh ở các cuộc họp, không trò chuyện dài được. Tôi biết về những ngày anh sống ở chiến trường là do đọc. Những mẩu hồi ký chiến tranh của bạn bè và đôi khi của chính anh, tôi dần dần biết thêm những gì anh đã chịu đựng. Thương bạn vô cùng. Chiến đấu ngay trên quê hương, có lần anh ghé được về nhà, có nỗi mong được thấy cô em gái, ngày anh ra Bắc, anh 10 tuổi, hẳn em chỉ trong tuổi mẫu giáo. Nhưng cô em đã lên rừng tham gia chiến đấu. Về lại chiến khu, anh để tâm tìm em. Lần mò mãi đến được đơn vị em, thì em lại đi công tác. Lần sau anh đến, em đã hi sinh. Tôi hình dung nỗi đau của bạn. Xa xót quá. Mỗi khi vào Đà Nẵng, tôi đều tìm thăm Thanh Quế. Có khi phải tìm trong bệnh viện. Năm ngoái, 2022, gặp nhau trong một hội nghị mấy ngày, Quế có yếu hơn trước, có buổi anh vắng. Tôi đã đọc tập tuyển “Thơ Thanh Quế”, xuất bản 2008, 80 bài. Thanh Quế viết cả thơ lẫn văn xuôi nên riêng thơ anh không nhiều. Khi tuyển anh lại kỹ tính. Những bài sau 2008 in rải trong các tập sau. Tập gần đây nhất, có tinh chất một tập tuyển cho chặng thơ ở thế kỷ XXI, 2000 - 2022, tập “Sự chuyển động” gồm những bài anh viết sau khi khi có quốc sách Đổi mới. Hai chặng thì vẫn một Thanh Quế, khác chăng chỉ là mức độ bộc lộ.

Thơ Thanh Quế là thơ thương người. Thậm chí biết Nó lừa mình, thì phải nghĩ kiểu nào để vẫn thương được Nó. Người như thế thì đáng gọi là “nó” nhưng tôi xin được viết hoa, cho đúng tinh thần thơ Thanh Quế. Lần ấy, một cô nàng giả ốm yếu xin giúp đỡ, anh và bè bạn phát hiện ra, không biết đã cho gì, nhưng thơ viết Xin mời cô đi thôi. Và rồi: “Người ăn xin đã xa/ Lại vui cùng bè bạn/ Bỗng thấy buồn vô hạn/ Có gì nhói ở tim…/ Thì người ăn xin giả / Cũng là người ăn xin”.

Thơ như tự thú. Câu chữ thật thà, không thể trốn vào kỹ xảo chữ nghĩa nào để tránh mặt. Thanh Quế có một lối tư duy thơ như truy kích. Anh truy kích chính anh, vào tận lõi tâm hồn, tận lõi cảm xúc, để phân phải trái. Nhỏ nhẹ, trong veo nhưng đến đích không nửa vời. Già nửa thế kỷ cầm bút vẫn giữ một khuynh hướng viết ấy là một phẩm chất tâm hồn và cũng là một phẩm chất nghệ thuật. Người ta ngửa tay trước mặt mình xin bố thí, dù với một lý do không thực, thì cũng là một nỗi khổ tâm lắm chứ. “Thì người ăn xin giả / Cũng là người ăn xin”. Cách nghĩ đơn giản thế mà áp dụng được, đủ nâng thêm một cấp độ làm người. Đằng sau câu thơ ấy là cả một phương châm xử thế sâu thẳm.

Thanh Quế ít nói nhưng cả nghĩ. Với thơ, anh có những mảng đề tài gợi nghĩ ngợi thường trực trong tâm trí. Đấy là tình quê hương, tình gia đình, tình với những người ở thế yếu trong xã hội. Nghĩ để giải thích tình cảm của mình cho chính mình. Ở chỗ người ta bỏ qua, cho là một sự đương nhiên “trời sinh ra thế" thì anh tìm cho ra lý do. Đấy là cách tìm thơ của nhà thơ và cũng là cách lặn sâu hơn vào cuộc đời của lòng lương thiện. Làm sao mà anh cứ nôn nao tâm trí như ân hận, như mắc nợ, hoặc ứa nước mắt mỗi khi nhớ đến cái làng nghèo Phú Thanh của tỉnh Phú Yên, nơi sinh anh: dăm gốc bàng, một cây đa, nhiều đụn cát? Làm sao mà với thành phố Tuy Hòa, cát xào xạo mái tôn, năm ba người gồng gánh mà lòng anh không dứt ra được? Những câu hỏi liên tiếp và âm thầm rung động trong lòng anh. Có khi anh trả lời được, đúng hơn là gần như trả lời được. Nhưng nhiều hơn là không, anh không giải thích được. Nhưng không sao, ở đây, nêu được ra câu hỏi, nêu được những nghịch lý của hiện thực tâm trạng ấy đã là một cách trả lời. Ở bài “Người về hưu”, Thanh Quế khảo sát tâm lý một ông về hưu, vào cái ngày ông giã biệt cơ quan một đời gắn bó, ngày mai không đến đây nữa. Giọng thơ thảng thốt, mình tự ngạc nhiên với lòng mình. Người đọc nhận ra đây là tâm sự của chính tác giả. Hay hay dở cái phút chần chừ, lưu luyến ấy? Tùy người phán xét, anh chỉ thành thật lắng nghe mình và can đảm ghi lại. Thành công thơ ở đây là lưu được chứng tích của nỗi lòng con người lương thiện sau một chặng đời tận tụy, cần lao. Bài thơ không có sự kiện gì mà đọc xong chúng ta cũng lặng lẽ ứa nước mắt chia sẻ cùng ông: “Đội mũ lên, ông bước ra khỏi cửa/ Giữa cái nhìn ngơ ngác của mọi người/ Ông đứng ngay hành lang òa khóc”.

Òa khóc ngoài hành lang, bên ngoài cái không gian thân thuộc rồi. Ngoài chứ chưa xa. Chưa xa mà đã không nén được: òa khóc. Ghi lại được nỗi lòng này, và hiểu được những giọt nước mắt ấy cũng là một cách nâng cao thêm một cấp làm người. Đọc thơ Thanh Quế nên đọc bằng sự thành kính phân thân của ông mục sư nghe con chiên xưng tội. Thanh Quế làm thơ như tự thú mà ta đọc chỉ lấy lượng thông tin thì không nhập được vào Thanh Quế. Chính anh đã thưa trong bài thơ dài “Giãi bày”, hai câu kết: “\Những gì của đời tôi, tôi trải lòng ra hết/ Chỉ có vậy thôi, chỉ vậy, thật tình”.

Phương pháp sáng tác, cổ kim có nhiều, trải lòng ra hết là một cách, mà trải lòng nhưng không trải hết cũng là một cách, mà giấu mình cũng là một cách khác. Tùy người và cũng tùy thời. Có lúc cả ba cách cùng tồn tại. Ngay các cụ cổ điển, vốn ưa quy phạm, ước lệ, ngại tiết lộ mình nhưng Cao Bá Quát hay Trần Tế Xương có giấu gì chuyện riêng tư. Dám thật cũng là một bản lĩnh. Và cũng chính từ đặc điểm này mà những bài thơ về tình cảm gia đình của cụ Cao, cụ Trần chân thật, thấm thía biết bao. Thanh Quế cũng có lợi thế ấy. Tình cảm gia đình vốn là một mảng đề tài lớn của thơ nhiều thời “Tình gia thất nào ai chẳng có” (Chinh phụ ngâm). Ở nước ta, hơn một thế kỷ chiến tranh giành độc lập dân tộc, tình nhà có lúc phải nén lại để toàn tâm lo việc nước. Nhưng ngay sau chiến tranh, đề tài này nhanh chóng được lấp đầy. Và cũng nhanh chóng có nhiều tác phẩm hay. Thanh Quế cũng lặng lẽ góp phần vào thành công ấy. Chắc cũng như nhiều bạn viết, ở mảng đề tài này, Thanh Quế cũng “tự phát” mà viết, không có đơn đặt hàng của báo chí hay nhà xuất bản. Nhớ cha, “Chúng con chưa quen việc ba đã ra đi”, thương mẹ “Buổi trưa một mình má trước mâm cơm/ Những ngọn gió khuya ngoài trời hun hút/ Má ho khan, ai đưa bát nước gừng”, thì viết. Viết như để trò chuyện, như được giãi bày. Thơ thật lắm, thật về tình, thật về cảnh, thật cả trong lời ăn tiếng nói. Tiếng nói trong nhà, giữa những người thân yêu nhất. Bạn đọc chúng ta, dù kính cẩn, trân trọng, ngừng hơi thở lại để lắng nghe, thì vẫn chỉ là người nghe ké. Hiểu được đến đâu thì hiểu, đừng hỏi thêm. Không gian đối thoại của Quế ở đây thuần khiết lắm, trong veo và thiêng liêng lắm. Hình như anh không tính đến ngay cả nghệ thuật thơ. Nhưng anh phải nghe cho ra điều mong ước nhất của lòng anh đối với song thân, với người vợ sương nắng cùng anh, rồi với con, với cháu. Thơ mà như lời nguyện, lời than. Thảng thốt cất lên, thảng thốt im bặt. Đây một bài, sáu câu. Chưa đủ để thành bài thơ, nhưng đủ để thấy một nỗi lòng: “Nghe mưa rơi ngoài cửa sổ/ Sao nhớ các em, nhớ má/ Lòng tôi thật nặng thật buồn/ Lâu rồi chưa về quê hương/ Nước mắt đẫm trong giấc ngủ/ Thấy mình chia tay bạn cũ…”.

tho-thanh-que.123.jpg

Bài thơ kết thúc bằng ba chấm lửng nghĩa là nó vẫn đang còn, tác giả chưa ghi cả ngày tháng viết. Nó là một nỗi lòng để ngỏ, cho ta gặp đúng một Thanh Quế trong đời, chứ không phải chỉ trong thơ (thơ về gia đình mà cứ giữ kẽ “quan trên trông xuống người ta trông vào" thì thường không đạt). Bây giờ, ngoài thất thập, ông níu lấy cháu, cháu nội cháu ngoại, bốn đứa, tên gọi trong nhà nghe thân lắm: Lá, Cây, Cỏ, Rơm. Thơ về cháu đang là nhiều nhất ở ông già này.

Độ mươi năm nay thơ Thanh Quế bắt đầu nói tới bến ga cuối của chuyến tàu đời. Cũng là tự nhiên thôi. Với nó, cũng trước lạ sau quen. Không đợi nước đến chân mới nhảy. Ông ướm thử: năm 2009, thấy mình như đã ở phòng đợi và ý thức “Bên kia sau cánh cửa này/ Là căn phòng vĩnh cửu”. Lần lượt vào, không thấy ai ra. Mà lạ, chỉ xếp hàng vào mà cũng chí chóe. Năm 2014, tiến thêm một nấc nữa, gần hơn, ông hình dung: “trên báo Văn nghệ/ Một dòng chữ đen/ “Vô cùng thương tiếc nhà thơ Thanh Quế". Viết về tang lễ mình. Không có gì để hớn hở nhưng hài lòng: “Đời chúng ta chỉ vậy thôi/ Thật là thỏa nguyện”. Đấy là cái hài lòng của trí tuệ, trí tuệ nắm quy luật, tuân theo quy luật để chủ động. So với bài thơ 26 năm trước, Thanh Quế chơi trò giả chết với hai con, Thi và Hoàng. Hai đứa nhỏ khóc toáng. Ông bố cũng phát hoảng, cơn hoảng đầy cảm tính, vì đã ai chuẩn bị, biến cố ấy còn ở tương lai xa. Bây giờ nó ở ngay bên kia bờ rào thời gian này thôi. Thơ Thanh Quế ngày càng gọn, chắc, thiết thực là vậy. Ông tránh mọi kiểu bàn cao nói rộng để đạt một hàm súc, khả thi. Đó là một đức tính cần thiết , không chỉ cho thơ, mà cho cả xã hội ta hiện nay.

Trang đầu tập thơ vừa xuất bản “Sự chuyển động”, Thanh Quế, trong Lời thưa trước, có cho biết từ năm 1980, ông đã chủ động thay đổi bút pháp, và đến năm 2000 sự thay đổi ấy đã cho kết quả rõ rệt: sự khác biệt về đề tài, về cách biểu hiện. Khi soạn tập thơ mới đưa in, ông cũng đã tách thành hai dòng: mới và cũ. Có lẽ ông muốn giúp bạn đọc thấy rõ ưu việt của sự cải tiến. Dù ông cũng thấy khó mà phân tách rành mạch được. Tôi là bạn đọc thấy rõ bước tiến của thơ ông trong việc tìm vào chất thơ cốt lõi nơi tâm hồn con người, tước bỏ những trang trí, dù đẹp và khéo léo, để tiến đến những tình cảm lão thực, thấm thía, sâu nặng nhân tình. Nhưng có cần tách bạch như ông nói không. Thơ thay đổi, cố nhiên nằm trong ý định tác giả, trong yêu cầu của toàn xã hội “đổi mới tư duy" nhưng cũng trong quy luật phát triển nội tại của chính thơ nữa chứ. Mạch thơ lấy chiêm nghiệm làm cốt lõi như ở Thanh Quế cũng thường vận động theo quy luật: chiêm nghiệm càng dài thì thơ càng ngắn lại, các thuyết minh phụ trợ tự rơi rụng mà sức thuyết phục lại càng cao. Nghĩa là những phát triển của thơ anh vốn là một quá trình liên thông từ chặng trước sang chặng sau và có tính tiệm tiến. Tách bạch ra một cách cơ học e làm rối cảm thụ của bạn đọc, có khi chặng nọ lại triệt tiêu thành tựu của chặng kia. Chặng sau khái quát rộng, tác động vào nhận thức mạnh. Chặng trước có sức mê đắm trong thể phách câu chữ, âm điệu, nhịp điệu. Cứ để nó tự nhiên chan hòa vào nhau, tạo nên những ngả rẽ kỳ thú cho người thưởng thức. Tội gì lại nhốt chúng vào từng ô kéo rồi dán nhãn ra ngoài. Những bài như “Thăm chồng”, “Trước nhà em sông Vu Gia”… cộng hưởng với những “Tại sao anh chẳng nói”. Khi người khác… càng thật sự tạo nên sức âm vang Thanh Quế chứ sao./.

Nhà thơ Thanh Quế sinh năm 1945 tại An Châu, Tuy An, Phú Yên, hiện sống tại Đà Nẵng. Năm 1954, ông theo gia đình tập kết ra Bắc, rồi học tại Trường học sinh miền Nam. Tốt nghiệp khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ông trở thành cán bộ nghiên cứu của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương. Thanh Quế từng là phóng viên, biên tập Tạp chí Văn nghệ Giải phóng Trung Trung Bộ, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phó Chủ tịch Hội VHNT Quảng Nam – Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT thành phố Đà Nẵng, Chủ tịch Hội Nhà văn Đà Nẵng kiêm Tổng biên tập Tạp chí Non nước. Ông là tác giả của 13 tập thơ và trường ca, 24 tập tiểu thuyết, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn và 4 tập chân dung văn nghệ. Năm 2012, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT.

Bài liên quan
  • Thêm hai tập thơ ngộ nghĩnh, đáng yêu viết cho trẻ nhỏ
    Hai tập thơ thiếu nhi mang tên “Khu vườn màu xanh” và “Bé tập làm người lớn” vừa được Nxb Phụ nữ Việt Nam giới thiệu tới bạn đọc. Tác giả của hai tập sách này là Châu An Khôi – một kiến trúc sư và cũng là bố của 3 bạn nhỏ.
(0) Bình luận
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • Ra mắt tác phẩm văn học thiếu nhi kinh điển “Khu vườn bí mật”
    Crabit Kidbooks liên kết với NXB Hà Nội vừa ra mắt ấn bản “Khu vườn bí mật” của nhà văn người Anh - Frances Hodgson Burnett, với phần minh họa của họa sĩ Inga Moore và bản dịch của Ngô Hà Thu.
  • Hồi ức “Những ô cửa gió lộng” - Khi tình yêu ở lại
    Tưởng niệm 38 năm ngày mất của gia đình nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ (29/8/1988 - 29/8/2026), sáng 29/8/2026, tại Hà Nội, NXB Kim Đồng tổ chức chương trình “Giới thiệu sách Những ô cửa gió lộng và giao lưu Xuân Quỳnh cùng tình yêu ở lại”. Chương trình có sự tham dự của tác giả Lưu Tuấn Anh, nhà báo Lưu Minh Vũ cùng các văn nghệ sĩ, độc giả yêu mến nhà thơ Xuân Quỳnh.
  • Nhạc sĩ Tuấn Phương: Lưu luyến những mảnh hồn quê
    Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, nhạc sĩ Tuấn Phương có khoảng 400 tác phẩm. Dù sáng tác ở đa dạng thể loại, nhưng khi nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ đến những ca khúc trữ tình như “Tình đất”, “Biển chiều”, “Bến sông xưa”, “Người ơi hãy về”… Có lẽ, điều gần gũi với người nghe hơn cả chính là những lời ca thủ thỉ về quê hương xứ sở, về nỗi nhọc nhằn của con người, về tình yêu đôi lứa. Tình đất và cũng là tình người, tình quê luôn thường trực trong các sáng tác của nhạc sĩ Tuấn Phương.
  • Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát: Quen mà lạ trong tự truyện cuộc đời “Đi theo một quầng sáng”
    Khi biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát đang lao tâm khổ tứ với những đêm thức giấc, những ngày miệt mài viết tự truyện cuộc đời mình, tôi thầm nghĩ trong thời kỳ công nghệ số lên ngôi, còn mấy ai muốn đọc một cuốn tự truyện dày gần 500 trang nữa dù tôi biết cuộc sống của chị cũng có nhiều khúc quanh, khúc rẽ mà không ít người tò mò muốn biết... Thế mà trái với ý nghĩ ban đầu, khi cầm trên tay cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng” (NXB Văn hóa Dân tộc, 2026) của chị, tôi đã đọc say sưa, hào hứng, thậm chí đọc miệt mài quên cả thời gian. Chỉ hai ngày, tôi đã “ngốn” xong cả dòng chảy ký ức cuộc đời tác giả.
  • Ra mắt bộ sách "Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz" bằng tiếng Tây Ban Nha
    Nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz (13/8/1926 - 13/8/2026) - nhà lãnh đạo kiệt xuất của Cách mạng Cuba, người bạn lớn, người đồng chí thủy chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, chiều 5/8, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ giới thiệu bộ sách “Tuyển tập các tác phẩm chọn lọc của Tổng Tư lệnh Fidel Castro Ruz” gồm 24 tập bằng tiếng Tây Ban Nha.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Định vị Cổ Loa trong lịch sử khu vực và văn minh nhân loại
    Lưu giữ dấu tích của một kinh đô cổ cùng những truyền thuyết gắn với buổi đầu dựng nước, Cổ Loa đồng thời chứa đựng những giá trị có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một di sản quốc gia. Trên cơ sở nhận diện, làm rõ giá trị nổi bật toàn cầu, Hà Nội đang từng bước triển khai chuẩn bị hồ sơ đề cử Khu di tích Cổ Loa trình UNESCO xem xét ghi danh vào Danh mục Di sản thế giới, qua đó làm nổi bật vị thế của kinh đô Âu Lạc trong lịch sử Đông Nam Á và tiến trình hình thành các nền văn minh của nhân loại.
  • Hà Nội - điểm hẹn của những giai điệu Jazz không biên giới
    Từ những thanh âm giàu ngẫu hứng của Jazz, Hà Nội đang mở ra một không gian giao lưu văn hóa mới, nơi nghệ sĩ Việt Nam gặp gỡ bạn bè quốc tế và công chúng có cơ hội tiếp cận một dòng nhạc giàu sức sáng tạo. Liên hoan nhạc Jazz quốc tế Hà Nội 2026 (Hanoi Jazztival), diễn ra từ ngày 17 đến 19/9, không chỉ mang đến những chương trình nghệ thuật đa sắc màu mà còn góp thêm một điểm hẹn quốc tế vào đời sống văn hóa của Thủ đô.
  • Để sân khấu có những tác phẩm xuất sắc đồng hành cùng sự phát triển của Thủ đô
    Sức sống của sân khấu không chỉ được quyết định bởi tài năng của nghệ sĩ hay chất lượng của một vở diễn, mà còn ở khả năng phản ánh hơi thở cuộc sống và truyền tải những giá trị của thời đại đến công chúng. Để sân khấu Hà Nội thực sự đồng hành với sự phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới, cần khơi thông nguồn lực sáng tạo từ người biên kịch, đổi mới cơ chế đặt hàng, tạo điều kiện cho những ý tưởng nghệ thuật mới được hiện thực hóa bằng các tác phẩm có giá trị tư tưởng và sức lan tỏa.
  • Đại hội 9 Hội chuyên ngành: Đ ợt sinh hoạt chính trị, văn hóa và nghề nghiệp quan trọng của văn nghệ sĩ Thủ đô
    Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật thành phố Hà Nội vừa chính thức ban hành Kế hoạch về việc triển khai tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 2026–2031 cho 9 Hội chuyên ngành trực thuộc. Kế hoạch nhằm tạo sự thống nhất trong chỉ đạo, hướng dẫn, chuẩn bị và tổ chức Đại hội nhiệm kỳ 2026 – 2031 của các Hội chuyên ngành, hướng tới thành công của Đại hội Đại biểu Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật thành phố Hà Nội lần thứ XIV..
  • Nâng cao chất lượng sinh hoạt Chi hội Phụ nữ cơ sở: Từ mô hình điểm đến sự chuyển biến trong phương thức hoạt động
    Bằng việc đưa chuyển đổi số vào công tác tuyên truyền Nghị quyết và gắn kết hoạt động Hội với các chương trình an sinh xã hội thiết thực, buổi sinh hoạt chi hội điểm tháng 9/2026 của Hội Liên hiệp Phụ nữ phường Phú Lương đã gợi mở lời giải hiệu quả cho bài toán đổi mới phương thức hoạt động, từng bước nâng cao chất lượng sinh hoạt Hội ngay từ cơ sở.
Đừng bỏ lỡ
Lắng nghe, lắng nghe… Thanh Quế
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO