Văn hóa – Di sản

Hát ru của người Tày ở Bắc Kạn được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Kim Thoa (T/h) 17:17 06/06/2023

Hát ru của người Tày Bắc Kạn nói chung và người Tày ở xã Giáo Hiệu, huyện Pác Nặm nói riêng là những làn điệu của người lớn hát ru trẻ nhỏ, chủ yếu là khi còn nằm trên nôi, khi địu trên lưng, khi bồng bế ru ngủ…

6.jpg

Quyết định số 1400/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 1/6/2023 đã đưa Nghệ thuật trình diễn dân gian Hát ru của người Tày xã Giáo Hiệu, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Hát ru của người Tày Bắc Kạn nói chung và người Tày ở xã Giáo Hiệu, huyện Pác Nặm nói riêng là những làn điệu của người lớn hát ru trẻ nhỏ, chủ yếu là khi còn nằm trên nôi, khi địu trên lưng, khi bồng bế ru ngủ…

Nội dung hát ru kể về cuộc sống sinh hoạt thường ngày với những câu chuyện bình dị, dí dỏm, thông qua những làn điệu ngân nga của người lớn để trẻ nhỏ có giấc ngủ sâu… Nhân vật trong bài hát ru rất phong phú, như con trâu, gà, lợn, muồm muỗm, con chim nhỏ hay quả dưa trên nương, nhưng là biểu hiện sâu sắc tình yêu thương của người lớn dành cho những đứa trẻ.

Đây là thể loại dân ca phổ biến khắp nơi có dân tộc Tày cư trú. Nội dung các bài hát ru cơ bản giống nhau, nhưng giai điệu, cách hát của mỗi miền quê có sự khác nhau làm cho hát ru thêm phong phú sinh động.  

Đối với người Tày ở Bắc Kạn, hình ảnh các bà, mẹ vừa bế, bồng con, cháu trên tay vừa ngân nga điệu hát “ứ noọng” là hình ảnh thân thuộc trong mọi gia đình có trẻ nhỏ từ xưa đến nay. Phong tục người Tày, sau khi em bé được đầy tháng tuổi - người mẹ hết thời gian ở cữ thì em bé đó mới được mẹ, bà bế ra ngoài đi chơi, được về thăm ông bà ngoại, đồng thời từ đây, mẹ của trẻ mới bắt đầu tham gia lao động sản xuất như những thành viên khác trong gia đình.

Kể từ thời gian này trở đi cho đến khoảng 3 tháng tuổi, mỗi khi đến cữ trẻ ngủ thì người được giao nhiệm vụ trông và thường bồng, bế ru ngủ trên tay hoặc đặt trẻ ru ngủ trong nôi. Khi bé đã tương đối cứng cáp, bắt đầu biết lẫy, biết bò thì mới địu trên lưng để ru ngủ, theo mẹ đi làm, đi xa.

Trên nhà sàn, trong không khí tĩnh lặng, yên bình, âm thanh kẽo kẹt của tiếng nôi đưa, thi thoảng điểm thêm tiếng vịt, tiếng gà kêu tìm bạn là câu hát ru êm dịu, khoan thai của mẹ như đồng hành cùng trẻ chìm trong giấc mơ đẹp về miền cổ tích bằng những hình ảnh:

Những lời ru cổ xưa thường rất tinh tế, dí dỏm vừa hợp với tư duy trẻ thơ, vừa phản ánh khá rõ nét, cụ thể về nền văn minh lúa nước.

Điệu ru mượt mà, êm ái, ngân nga, man mác trưa hè, dịu dàng ấm áp lúc giá đông, khiến bé như cảm nhận có mẹ ở bên mà yên lòng, nhẹ nhàng trôi vào giấc ngủ thần tiên. Khi xưa, nhà nào cũng có nôi, bé nào cũng được nằm nôi từ khi đầy tháng đến hai, ba tuổi. Cùng với tiếng kẽo kẹt đưa nôi đều đều như nhịp nhạc hòa vào tiếng hát êm ái ngọt ngào của các bà, các mẹ, các chị, ngày qua ngày chúng còn thuộc lòng và hát được bi bô. Đến khi trưởng thành, lời ru ấy đã trở thành hành trang từ tuổi thơ vào đời với tình cảm ơn sâu nghĩa nặng mẹ cha. Thời ấy, ai đã có dịp đến với các làng người Tày rất dễ bắt gặp hàng chục tiếng ru cất lên cùng lúc, nghe như bản hòa tấu yên ả thanh bình đậm đà bản sắc quê hương.

Qua khảo sát trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, những lời ru đầu tiên trẻ được nghe là trong lễ đầy tháng tuổi của mình. Những lời ru đó là của người thân hai bên gia đình nội, ngoại mang tính chất, nội dung cầu, chúc cháu bé sự bình an, hay ăn chóng lớn chứ không nhằm mục đích để dỗ ngủ như hát ru thông thường.

Những gì còn hiện hữu trong hát ru của người Tày ở Bắc Kạn cho đến ngày nay là sự kết tinh, thành quả của quá trình chọn lọc, tiếp thu, phát triển những yếu tố lành mạnh, tích cực của cả cộng đồng trong suốt tiến trình lịch sử. Bắt nguồn từ nhu cầu của người mẹ là dỗ con ngủ, ban đầu chỉ là những câu ngân không lời, được tiếp thu, phát triển lên thành những câu hát, bài hát hoàn chỉnh. Mỗi thế hệ trong những giai đoạn lịch sử nhất định không ngừng bổ sung, phát triển, nâng cao loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian này thông qua những âm hưởng, nội dung mới phản ánh bức tranh văn hóa, kinh tế, xã hội của từng thời kỳ. Vì thế, trong hát ru, chúng ta nghe thấy có âm hưởng của phong slư, có âm hưởng của lượn cọi, nếu nghe thầy pụt hát lại có âm hưởng của pụt … điều đó làm tăng thêm tính đa dạng làn điệu, hình thức, nội dung thể hiện, làm giàu thêm vốn di sản văn hóa quý báu này.

Làn điệu hát ru của người Tày ở Bắc Kạn được truyền miệng lại từ xa xưa, nhưng trên thực tế hiện nay đã bị mai một ở nhiều địa phương. Được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nghệ thuật trình diễn dân gian hát ru giúp cộng đồng dân tộc Tày nói chung, dân tộc Tày ở xã Giáo Hiệu, Pác Nặm nói riêng có cơ hội, điều kiện nhân rộng làn điệu hát ru, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Từ không gian tín ngưỡng ở núi Ngọc Trản đến Di sản văn hóa Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”
    Từ một lễ hội tín ngưỡng truyền thống trong phạm vi điện Hòn Chén, sau đó phổ biến dần ra cộng đồng và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”.
  • Lễ hội điện Huệ Nam: Giá trị văn hóa, tín ngưỡng hội tụ bên dòng sông Hương
    Lễ hội điện Huệ Nam tháng 7 Âm lịch năm 2026 chính thức khai hội tại điện Huệ Nam (điện Hòn Chén), đình làng Hải Cát và Điện thờ Thánh Mẫu (TP Huế).
  • Thêm 13 di tích tại Hà Nội chính thức nhận xếp hạng cấp thành phố
    Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội vừa ký ban hành quyết định chính thức công nhận và xếp hạng di tích cấp Thành phố đối với 13 di tích lịch sử - văn hóa, nghệ thuật thuộc địa bàn hai địa phương là phường Tùng Thiện và xã Vân Đình.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Để tạo lập cơ chế huy động hiệu quả nguồn lực xã hội tham gia bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội; HĐND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Nghị quyết số 30/2026/NQ-HĐND quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ cá nhân, tổ chức cải tạo, bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn Hà Nội (thực hiện điểm a, khoản 1 Điều 15 Luật Thủ đô 2026).
  • Hà Nội ra mắt không gian nghệ thuật thủ công đương đại
    Chiều 26/8, tại 61 Tràng Tiền, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Trung tâm Thông tin Triển lãm Hà Nội tổ chức ra mắt không gian nghệ thuật thủ công đương đại.
  • Khu di sản Hoàng thành Thăng Long: Điểm đến hấp dẫn tạo lực phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô
    Theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Thủ đô Hà Nội có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển công nghiệp văn hóa. Trong đó Khu di sản văn hóa thế giới Hoàng thành Thăng Long đã, đang từng bước được Hà Nội định hướng, phát triển thành điểm đến hấp dẫn với du khách trong nước và quốc tế.
  • Phố cũ làng xưa - ngày ấy, bây giờ
    1/ Tôi sinh ra tại Hà Nội, mồ côi mẹ từ lúc lên 3. Mẹ tôi ra đi khi còn rất trẻ, để lại cho ba tôi 4 người con, tôi là út, trên tôi còn 2 chị và anh trai cả. Vì hoàn cảnh, ba tôi tục huyền. Mẹ kế chúng tôi gọi bằng mợ, thương yêu con chồng như con đẻ, chăm sóc chu đáo, tận tình.
  • Sông Tô và những câu chuyện nơi cuối dòng
    Trải qua hơn hai nghìn năm tồn tại, dòng Tô Lịch từng là mạch nước của những làng quê, là hào nước tự nhiên bảo vệ kinh thành Thăng Long và là nơi lưu dấu biết bao lớp trầm tích văn hóa.
Đừng bỏ lỡ
  • Từ không gian tín ngưỡng ở núi Ngọc Trản đến Di sản văn hóa Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”
    Từ một lễ hội tín ngưỡng truyền thống trong phạm vi điện Hòn Chén, sau đó phổ biến dần ra cộng đồng và trở thành Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia “Lễ hội điện Huệ Nam”.
  • [Podcast] Tản văn: Dịu dàng Hà Nội vào thu
    Phố trở mình giã từ mùa hạ. Tháng nghiêng mình nhẹ bước vào thu. Bàn chân muốn chùng chình nhịp bước. Gió se se chút lạnh giao mùa.
  • Nhạc sĩ Tuấn Phương: Lưu luyến những mảnh hồn quê
    Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, nhạc sĩ Tuấn Phương có khoảng 400 tác phẩm. Dù sáng tác ở đa dạng thể loại, nhưng khi nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ đến những ca khúc trữ tình như “Tình đất”, “Biển chiều”, “Bến sông xưa”, “Người ơi hãy về”… Có lẽ, điều gần gũi với người nghe hơn cả chính là những lời ca thủ thỉ về quê hương xứ sở, về nỗi nhọc nhằn của con người, về tình yêu đôi lứa. Tình đất và cũng là tình người, tình quê luôn thường trực trong các sáng tác của nhạc sĩ Tuấn Phương.
  • "Ký ức những năm tháng không quên" được tái hiện qua các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu
    Nhân dịp Quốc khánh 2/9, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (số 66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội) đã chính thức khai mạc triển lãm chuyên đề "Ký ức những năm tháng không quên". Triển lãm kéo dài từ nay đến ngày 08/9/2026, mở ra một hành trình trở về quá khứ qua góc nhìn mỹ thuật hiện đại.
  • Nhiều hoạt động “Vui Tết Độc lập” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Từ ngày 29/8 đến 30/9/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) tổ chức chuỗi hoạt động với chủ đề “Vui Tết Độc lập”, chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2026).
  • Để những giá trị di tích được gìn giữ và lan tỏa
    Di tích là những dấu tích vật chất và tinh thần gắn với lịch sử, văn hóa và đời sống cộng đồng. Trên cơ sở đó, Hà Nội vừa ban hành quy định mới về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích, trong đó nhấn mạnh yêu cầu quản lý thống nhất, phân cấp rõ trách nhiệm, phát huy vai trò của cộng đồng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý di tích.
  • Nâng cao kỹ năng làm du lịch cộng đồng tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
    Ngày 24/8, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị triển khai về ứng xử văn minh du lịch và du lịch cộng đồng năm 2026.
  • Ra mắt phim điện ảnh “Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh”
    "Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh" lần đầu ra mắt khán giả tại Ninh Bình, vùng đất gắn với câu chuyện và quá trình thực hiện bộ phim.
  • Đưa nghệ thuật cải lương đến gần công chúng Thủ đô
    Tối 23/8, tại sân khấu Nhà Bát Giác, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), chương trình “Biểu diễn nghệ thuật cộng đồng” của Nhà hát Cải lương Hà Nội đã mang đến cho người dân và du khách một đêm diễn đậm đà bản sắc văn hóa.
  • Những tác phẩm âm nhạc góp phần lan toả văn hóa Hà Nội
    Từ các ca khúc “Hà Nội mùa thu”, “Hoa sữa” đến những giai điệu của Charlie Parker, Miles Davis, Duke Ellington, Antonio Carlos Jobim... chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 23/8 tại Nhà Bát Giác đã đưa những thanh âm quen thuộc của Hà Nội bước vào không gian âm nhạc cộng đồng đầy tinh thần phóng khoáng và ngẫu hứng của jazz. Qua tiếng kèn của các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club và giọng hát của hai ca sĩ Thuỷ Bùi, Minh Thu, hình ảnh Thủ đô hiện lên vừa lãng mạn, vừa trẻ trung, cởi mở trong nhịp sống văn hóa đương đại.
Hát ru của người Tày ở Bắc Kạn được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO