Phù sa văn hóa là gốc của cây thơ

arttime| 10/06/2022 09:12

Phù sa văn hóa là thuật ngữ ẩn dụ có nội dung quan trọng và sang trọng trong triết lý phát triển. Nơi quan trọng bồi phù sa văn hóa là nền tảng nằm trong giới tự nhiên có quá trình vận động biện chứng: phát sinh, phát triển, biến hóa bất tận, vận động không ngừng. Nói sang trọng bởi lớp phù sa trong văn chương nói chung và thơ ca nói riêng giúp con người đi từ tất yếu đều tự do, giải nhiều bài toán mâu thuẫn vốn đặt ra trong đời sống tự nhiên, xã hội và con người.

Bài này chỉ giới hạn ở hai đề tài mà nền thơ là tri thức văn hóa ứng xử của nhà thơ đối với thiên nhiên, đất nước và con người.

1. Một nét đẹp thiên nhiên trong thơ:

Đất và nước, sông suối và ao hồ, núi non và biển cả là do thiên nhiên ban tặng cho con người, nhưng còn là do con người sáng tạo nên, bồi đắp qua nhiều thế hệ. Con người hơn bất cứ động vật nào khác là ở chỗ, dùng sức lao động và trí tuệ của mình, bằng tài năng khéo léo và sự cảm thụ cái đẹp mọi thứ trên trái đất. Cái khéo của hóa công chưa bao giờ bị con người từ chối, trái lại biết sáng tạo theo “cách chơi” để làm đẹp môi trường tự nhiên và sinh thái. Thơ đích thực là thơ nói cảnh sinh tình. Ngay từ thời cổ đại, người bình dân đã biết cảm thụ tinh tế vẻ đẹp của núi sông, bầu trời, biển cả, trăng sao, hoa lá để thể hiện tình người: 

Núi cao chi lắm núi ơi !

Che khuất mặt trời che cả người thương;

Cô kia tát nước bên sông

Có sang anh bắc cành hồng cho sang

….

Trong văn học thời trung cận đại nước ta, đề tài trăng sao tưởng như một đề tài ẩn dụ có hệ thống. Với đạo sư mãn giác, chỉ hai câu thơ về mùa xuân mà nói được phép biện chứng của tự nhiên:

Mạc vị xuân tàn, hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ, nhất chi mai

( Đừng tưởng xuân tàn, hoa lạc tận

Đêm qua sân trước một cành mai).

Đại danh y Lê Hữu Trác(1720-1791), một nhà thơ với những câu thơ mượn trăng làm ẩn dụ để nói chuyện đời người: say trăng, quên trông trăng, trăng lặn, đêm tàn người vắng teo v.v… Với Nguyễn Du, chúng ta bắt gặp câu thơ chua xót của cảnh ly biệt: 

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường.

Đại văn hào L.Tolstoi có lần nói: “Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc, của văn hóa dân tộc”. Ngôn ngữ trong văn xuôi là ngôn ngữ tự do (ariatio solute), còn ngôn ngữ trong thơ là ngôn ngữ rào cản (vineta solute). Vì vậy, khi sáng tác, nhà thơ cần có tư duy khái quát, sức tưởng tượng bay bổng, tri thức văn hóa tổng quát, vốn sống lịch lãm. Thiên nhiên vừa là đối tượng thưởng ngoạn, vừa là suối nguồn khơi gợi những cảm hứng bay bổng trước màu sắc và mùi hương. Cũng viết về trăng, sao, mây gió, nhưng mỗi nhà thơ có những thủ pháp tu từ siêu thực riêng, những hình tượng thơ ca lấp lánh không nhầm lẫn với ai được. Hàn Mặc Tử trong Đây thôn Vĩ Dạ có ba khổ thơ, thì hai khổ về cơ bản là bút pháp hiện thực, nhưng khổ thứ hai, ông đã mượn gió và trăng nói hộ tình yêu, trách móc của đôi trai gái:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó

Có chở Trăng về kịp tối nay….

Còn trong Bẽn lẽn với những biểu tượng: Trăng, gió, Chị Hằng, bóng nguyệt,… để nói sự “ghen tuông” nhẹ nhàng, dễ thương của hai tình nhân: 

Trăng nằm sóng soải trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động

Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!

Cũng nói về trăng, nhưng Yến Lan trong phong trào Thơ mới (một trong bốn nhà thơ thành danh được gọi là: Bàn thành tứ hữu: Quách Tấn, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Yến Lan) có những vần thơ vừa siêu thực, vừa hiện thực, đầy ấn tượng

Bến Milăng nằm không, thuyền đợi khách

Rượu hết rồi, ông lái chẳng buồn câu

Trăng thì đầy, vàng rơi trên mặt sách

Ông lái buồn để gió lén mơn râu

Một đoạn tiếp:

Ông lão vẫn say trăng đầu gối sách

Để thuyền hồn bơi khỏi bến Mi lăng

Tiếng gọi đó, gọi đò như oán trách

Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.

Người đọc không quan tâm nhiều đến địa danh Milăng, chỉ biết đó là một bức tranh hoàng hôn muôn, ở bến đò, tiếng gọi đò, chỉ có trăng sáng, ông lái đò khát rượu,… tạo nên một cảm giác buồn nao nao lây sang người yêu thơ.

Có bao nhiêu nhà thơ, thì có bấy nhiêu môtíp viết về màu sắc thiên nhiên, hiện thực và siêu thực, lý tính và phi lý tính… đều là những cách làm tăng vẻ đẹp của thiên nhiên. Bài thơ tình ở Hàng Châu của Tế Hanh là một ví dụ. Ở đó có nắng vàng và mây trắng, có niềm vui và nỗi buồn: 

Mùa thu đi qua, còn giữ lại

Một ít vàng, trong nắng, trong cây,

Một ít buồn trong gió, trong mây

Một ít vui trên môi người thiếu nữ.

Bài thơ ra đời rất lâu trước lúc mắt nhà thơ bị khiếm thị. Ông ao ước :

Một thứ kính nào/ Màu thời gian đặc biệt/ Tôi thấy lại mắt em/ Trong một ngày xuân đẹp

Xúc động sâu sắc trước tâm trạng bi quan của Tế Hanh, Chế Lan Viên có bài Kém mắt tặng nhà thơ: Nơi mắt nhìn không tới/ Thì lòng ta đến thay.

Đó vừa là thơ, vừa là văn hóa ứng xử!?

Trong giai đoạn chiến tranh giữ nước, tư tưởng thơ ca thường mang âm hưởng cao cả, rộng lớn, bi hùng, bi tráng. Có một mảng đề tài thơ ca mượn cỏ cây, hoa lá, rặng tre, vườn trầu, hoa sim, hương chanh, hương bưởi,… để biểu tượng cho tình yêu mang bản sắc Việt, bản lĩnh của người lính: Màu tím hoa sim, Quê hương, Cuộc chia ly màu đỏ, Hương thầm, Hoa chanh, Núi đôi,…. Bạn đọc yêu thơ trong nhiều thế kỉ, thường tôn vinh và thuộc lòng những ý thơ, vần thơ của những bài thơ vừa nói đến. Xin nói đôi lời về Hoa Chanh của nhà thơ Nguyễn Bao. Hình tượng người lính trong thơ thật giản dị, tình cảm tuổi thơ gắn bó với người con gái cúng lứa đôi, láng giềng, có chung lối ngõ, có chung cầu ao, giàn trầu, gốc chanh, rặng ổi,… nhưng khi giặc đến nhà, người con trai ra trận:


Dặm đường hành quân

Những chiến dịch dài

Nỗi nhớ quê nhà

Dục chân bước gấp

Tiếng em thầm thì

Ngày đêm vẫn nhắc

Khi Tổ quốc cần,

Chúng ta biết hy sinh

Giữ lấy cầu ao

Giữ lấy gốc chanh

Giữ lấy giàn trầu

Giữ xanh mái tóc…

Chuyện tình không mang chất bi tráng như trong Màu tím hoa sim, Núi đôi, Quê hương,… nhưng đầy chất lãng mạng, lạc quan, dù một chân anh đã mât, nhưng quê hương tất cả vẫn còn. Kết thúc “có hậu” của bài thơ là hợp với thực tiễn của chiến tranh hàng chục năm ở các làng quê, bởi ở đó vẫn còn: đám cưới mùa xuân, trầu hái vườn nhà, thắm môi hai họ, bài thơ kết thúc bằng biểu tượng của văn hóa ứng xử- một biểu tượng đẹp, tình làng nghĩa xóm, làm ta liên tưởng tới truyện Trầu cau trong kho tang văn nghệ dân gian.

2. Đất nước và con người là tư tưởng tiềm ẩn trong thơ, là phù sa văn hóa của vườn thơ:

Địa chỉ cuối cùng của thơ là con người, tất cả ở trong con người , chứ không phải là một “nhân vật bí ẩn” như Dostoievski hay một “siêu nhân” như Nieche đã từng nói. Con người sáng tạo ra văn hóa theo nghĩa rộng nhất. M.Gorki coi con người sáng tạo ra những bông hoa bất tử của thơ ca…

Phù sa văn hóa là gốc của cây thơ - 1
Ảnh minh họa 

Con người sáng tạo ra tất cả, tất cả ở trong con người (Xem bài thơ viết bằng văn xuôi Con người, năm 1902). Các nhà văn hóa coi thơ ca, các vật phẩm văn hóa lớn hơn của cải và quyền lực. Viết về đề tài đất nước, con người, người mẹ Việt Nam, các nhà thơ hiện đại đều để lại những vần thơ mang cảm xúc dạt dào vừa đạt tầm triết lý: Nước non nghìn dặm, Người đi tìm hình của nước, mặt đường khát vọng, Nguyễn Văn Trỗi, Trường ca Sư đoàn, Đường tới thành phố, bài ca chim Ch’rao….

Tôi đứng lại để nói đôi điều về trường ca trữ tình: Có người nói thơ ca triết luận hơn lịch sử, còn lịch sử khách quan hơn thơ, mặc dầu cả hai đều có yếu tố này hoặc yếu tố kia của nhau. Khi nghiên cứu thơ văn của Nguyễn Trãi, Jacques Gaucheron viết: Đối với Nguyễn Trãi thơ và lịch sử là một… hay nói một cách khác, đã đến lúc lịch sử trở thành động lực của thơ, và thơ trở thành động lực lớn của đời sống.

Văn chương, Đất nước (Trong trường ca Mặt đường khátvọng(1974)), Nguyễn Khoa Điềm đã có mấy chỗ dựa đáng tin cậy làm chất phù sa văn hóa cho thơ: Đó là tư liệu chính sử của dân tộc; thi liệu văn nghệ dân gian (folklore); triết lý nhân bản được khái quát hóa và cả thơ hóa sự việc lịch sử; tài năng và vốn sống của nhà thơ. Khởi uy cầm dáng hình đất nước được khái quát hóa: Đất nước là nơi chim về, nước là nơi rồng ở, Lạc Long Quân và Âu Cơ, Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng. Từ đó, lịch sử đúc kết lại thành con Rồng cháu Tiên. Vì được viết dưới dạng thi pháp trữ tình, nên chúng ta đọc những câu thơ được cá thể hóa: 

Đất là nơi anh đến trường

Nước là nơi em tắm

Đất nước là nơi ta hò hẹn

Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm….

Em ơi em, đất nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất nước muôn đời….

Triết lý nhân văn trong đoạn kết của bài thơ thật biện chứng: 

Đất đai cỗi cằn thì người nở hoa

Hoa của đất người trồng cây dựng cửa

Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật

Nhằm chứng minh luận đề: Phù sa trong văn hóa là tất yếu của cây thơ, người đọc có thể tìm thấy trong nhiều bài thơ nổi tiếng, sống mãi với thời gian. Bài viết này xin dừng lại ở bài thơ Tiếng Việt của nhà thơ tài năng Lưu Quang Vũ. Đây là tứ thơ vừa lạ vừa quen: Nói quen, bởi vì ngày nào, người nào, nơi nào người ta cũng bắt gặp trong văn hóa giao tiếp của quá khứ và hiện tại, ở trong nước và ở ngoài nước, nhưng lại lạ, bởi tiếng Việt trong nhiều thế kỷ cho đến thế kỉ XIX vẫn có ý nghĩa, trước khi nền văn học quốc ngữ ra đời, tiếp xúc với nền văn minh phương Tây. Một trong những đặc điểm của Tiếng Việt là tính súc tích, gợi cảm, dễ hiểu, giàu tính nhạc, tính thơ được thể hiện qua ca dao, đồng dao, tục ngữ, cách ngôn,… Mặc dầu tiếng Hán, chữ Hán vẫn thống trị trên chính đàn và văn đàn, tiếng Việt vẫn tồn tại. Như một qui luật tự tại của tự nhiên, của tự cường dân tộc, nhân dân ta đã biến cái không thể trở thành cái có thể, tạo nên bản lĩnh giao tiếp với văn hóa nước ngoài. Thế là chữ Nôm ra đời. Từ thế kỉ XVI về sau, văn chương chữ Nôm phát triển. Ngoài những tác phẩm nổi tiếng như Lâm Tuyền Kỳ ngộ, Chinh phụ ngâm, , Cung oán ngâm khúc được lưu truyền trong công chúng, truyện nôm khuyết danh chứa đựng nhiều giá trị đạo đức, luân lý gia phong, phong tục dân tộc, đều là những áng văn hay phản ánh cuộc sống bằng vẻ đẹp của tiếng Việt. Cảm hứng chủ đạo trong bài thơ Tiếng Việt bắt nguồn từ những cứ liệu lịch sử, còn cảm hứng phản xạ của nhà thơ bắt nguồn từ thi pháp: thủ tượng-đàm huyền (lấy cái cụ thể để nói cái huyền diệu), nên mới có những câu thơ hay. Bài thơ bắt đầu bằng tiếng mẹ gọi, tiếng cha khuyên, tiếng gọi đò, tiếng lụa xé, tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê…. Đến những điều trừu tượng lặn vào nhịp đập của con tim:

Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió, nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Ý thức tự cường dân tộc, bản lĩnh, bản sắc văn hóa Việt, dù ở đâu, trong hoàn cảnh lịch sử cam go nào, dù kẻ thù có trăm nghìn kế để vẽ lại bản đồ Tổ quốc, thì tiếng Việt, văn minh Việt vẫn trường tồn, dù chưa có chữ viết, đã vẹn tròn tiếng nói:

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng

Vẫn tiếng làng, tiếng nước của riêng ta

Tiếng chẳng mất, khi Loa Thành đã mất 

Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già….

Thiên nhiên, đất nước, con người là những vỉa quặng của núi thơ khai thác không bao giờ cạn, nếu như nhà thơ đứng trên nền tảng văn hóa. Con người là sinh vật biết sử dụng công cụ lao động chưa đủ, con người phải là con người sáng tạo ra mọi nền văn minh. Nhờ sự phát triển của ngôn ngữ, con người sáng tạo mọi thuật ngữ, tri thức để diễn đạt những phát minh được phổ cập trong mọi lĩnh vực khoa học trong đó có thơ ca. Chân lý đối với thơ không chỉ là chỗ dựa của trí tuệ và còn là nhớ tâm thơ, trực giác, tâm giác. Các nhà thần kinh học hiện đại phát hiện ra rằng, não bộ của con người chiếm 80% là thuộc về cảm xúc. Thơ ca có khả năng cải tạo con người, là hành động của con người (refaire l’homme), thơ là nghệ thuật tiên tri (L’art de predire). Thơ không có quốc gia, nhưng nhà thơ vẫn có quê hương, mang đậm bản sắc, hồn cốt của dân tộc mình. Thiên chức và mục đích chừng ấy của thơ ca cần được coi là phù sa văn hóa, làm nền, làm gốc cho vườn thơ.

(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội trên hành trình trở thành trung tâm du lịch vươn tầm khu vực
    Hà Nội đang bứt phá để trở thành trung tâm du lịch hàng đầu cả nước và vươn tầm khu vực theo hướng thông minh, xanh, bền vững. Thủ đô hướng tới mục tiêu đón hơn 50 triệu lượt khách mỗi năm, mang về nguồn thu hàng trăm nghìn tỷ đồng và bổ sung ít nhất 10.000 phòng khách sạn cao cấp để đáp ứng nhu cầu tăng cao.
  • Định vị thương hiệu di sản văn hóa Hà Nội từ mô hình kinh tế đêm
    Trong bối cảnh cạnh tranh đô thị ngày càng gia tăng, kinh tế đêm trở thành một động lực tăng trưởng mới tại nhiều quốc gia và thành phố lớn. Đối với Hà Nội, phát triển kinh tế đêm không chỉ mở rộng không gian và thời gian hoạt động kinh tế mà còn tạo điều kiện khai thác chiều sâu văn hóa, gia tăng trải nghiệm du lịch và xây dựng bản sắc đô thị. Từ các sản phẩm du lịch đêm gắn với di sản đến định hướng phát triển sáng tạo, Hà Nội đang từng bước hướng tới thương hiệu “thành phố trải nghiệm văn hóa về đêm”, q
  • Cải lương trong không gian nghệ thuật cộng đồng bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 18/10, tại sân khấu Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện mang đến một không gian nghệ thuật giàu màu sắc với các tiết mục tân cổ, ca cổ, hát xẩm và múa. Từ những giai điệu về quê hương, Hà Nội đến những câu chuyện lịch sử được kể bằng ngôn ngữ sân khấu, chương trình góp phần đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng trong không gian mở.
  • 5 Gợi ý cách chọn giày đá bóng sân cỏ nhân tạo từ Đồng Sport
    Giữa nhiều mẫu giày với kiểu dáng và mức giá khác nhau, chọn được đôi phù hợp với bàn chân và mặt sân là điều người chơi cần quan tâm. Cùng Đồng Sport tìm hiểu ngay 5 gợi ý cách chọn giày đá bóng sân cỏ nhân tạo để có thêm cơ sở lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu tập luyện và thi đấu.
  • Tái thiết đô thị Vĩnh Hưng: Khơi thông ngõ xóm chật hẹp, xây đại lộ 10 làn xe
    Từng bị giới hạn bởi mạng lưới ngõ nhỏ, hạ tầng manh mún, Vĩnh Hưng đang đứng trước cơ hội tái cấu trúc không gian đô thị nhờ các trục giao thông quy mô lớn. Đại lộ 60m và cầu Cự Khối được kỳ vọng không chỉ cải thiện khả năng kết nối, mà còn tạo nền tảng phát triển đô thị đồng bộ, gắn giao thông công cộng với chất lượng sống của người dân.
Đừng bỏ lỡ
  • Cơ hội nhận vé miễn phí Concert quốc gia “Tự hào là người Việt Nam” năm 2026
    Concert quốc gia “Tự hào là người Việt Nam” năm 2026 diễn ra tại sân vận động Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên dự kiến thu hút 30.000 khán giả. Theo Ban tổ chức, toàn bộ vé tham dự chương trình được phát miễn phí. Số lượng vé và phương thức nhận vé sẽ được công bố vào lúc 20h ngày 22/10 trên Fanpage Concert quốc gia “Tự hào là người Việt Nam”.
  • Công nghiệp văn hoá nhìn từ mô hình giáo dục di sản cho thế hệ trẻ tại đền Hát Môn
    Tại đền Hát Môn - Di tích quốc gia đặc biệt (xã Hát Môn, TP Hà Nội) gần đây đón nhiều học sinh đến tham quan, tìm hiểu. Hoạt động này đã, đang góp phần cụ thể hóa định hướng trong Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Hà Nội tổ chức Lễ hội Con đường văn hóa Hàn Quốc năm 2026
    Lễ hội Con đường văn hóa Hàn Quốc 2026 sẽ diễn ra trong hai ngày 24-25/10 tại Khu Ngoại giao đoàn, phường Xuân Đỉnh, Hà Nội với 39 gian hàng trải nghiệm văn hóa, ẩm thực và các chương trình biểu diễn âm nhạc Việt Nam - Hàn Quốc.
  • Hà Nội triển khai 10 mô hình xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh
    Sáng 21/10, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) Hà Nội tổ chức Hội nghị phát động hưởng ứng thực hiện Quy tắc ứng xử, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh năm 2026 và phát động Cuộc thi trực tuyến “Văn hóa từ mỗi hành động”.
  • Chiếu miễn phí 6 bộ phim Italia tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia
    Nhằm thúc đẩy giao lưu văn hóa và thắt chặt tình hữu nghị, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, Đại sứ quán Italia tại Hà Nội phối hợp cùng Liên hoan Phim Châu Á tại Rome tổ chức "Tuần phim Italia tại Việt Nam 2026". Sự kiện diễn ra từ ngày 27/10 đến ngày 01/11/2026 tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia, số 87 Láng Hạ, Ô Chợ Dừa, Hà Nội, mang đến cho công chúng Thủ đô cơ hội thưởng thức sáu tác phẩm điện ảnh đương đại xuất sắc.
  • [Video] Độc đáo kỹ thuật xếp đá, điều phối nước ở hệ thống giếng cổ của người Chăm Pa
    Hệ thống giếng cổ Gio An (xã Cồn Tiên, tỉnh Quảng Trị) là công trình dẫn thủy duy nhất ở Việt Nam với kỹ thuật xếp kè đá, khéo léo điều phối mạch nước ngầm của người Chăm Pa để phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.
  • Xây dựng hồ sơ khoa học di sản Ca Huế trình UNESCO
    UBND TP Huế ban hành kế hoạch xây dựng hồ sơ di sản “Ca Huế” đệ trình UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • Phát động thực hiện quy tắc ứng xử, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh
    Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW và Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị phát động hưởng ứng thực hiện Quy tắc ứng xử, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh năm 2026.
  • “Dấu thiêng Hà Nội”: Gợi nhớ ký ức về Thủ đô hào hùng trong kháng chiến
    Trong khuôn khổ Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026, vở tuồng “Dấu thiêng Hà Nội” (với thông điệp “Cho những gì còn mãi”) do Nhà hát Sân khấu Truyền thống Quốc gia Việt Nam thực hiện, diễn ra ngày 19/10 đã đưa khán giả trở về những ngày tháng chiến đấu hào hùng của quân và dân Thủ đô trong 60 ngày đêm khói lửa cuối năm 1946, đầu năm 1947.
  • Tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc 2026: Bước chuyển trong tư duy và phương thức thực hành văn hóa
    Hội nghị trực tuyến toàn quốc do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chủ trì đã quán triệt Kế hoạch tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026. Sự kiện hướng tới việc lấy Nhân dân làm chủ thể sáng tạo, đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống cơ sở nhằm khơi dậy lòng yêu nước và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Các bộ, ngành, địa phương được giao nhiệm vụ cụ thể nhằm đảm bảo chuỗi hoạt động diễn ra thiết thực, an toàn và tạo dấu ấn lan tỏa rộng khắp.
Phù sa văn hóa là gốc của cây thơ
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO