Nỗi cô đơn hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật

Lê Nga| 01/12/2022 14:55

Hoàng Vũ Thuật là một nhà thơ có sức viết bền bỉ, hầu hết những tác phẩm của ông đều được lấy chất liệu từ cuộc sống buồn vui của chính mình và những phận đời xung quanh. Với sự trải nghiệm của mình và sự sáng tạo riêng độc đáo, ông đã khắc họa nên những nỗi khổ đau phận người, nỗi cô đơn hiện sinh trong rất nhiều tác phẩm.

Có lần Hoàng Vũ Thuật tự bạch: "Với tôi, hầu như tất cả những sản phẩm sáng tạo đều xuất phát từ một chuyện buồn, một niềm cô đơn, vật vã. Câu thơ vui cũng hình thành từ nước mắt. Cô đơn là một đặc tính của con người. Trong ý niệm tương đối, cô đơn thuộc phạm trù cái đẹp. Tôi coi trọng cái riêng con người, chất cá thể con người, nên có lúc bài thơ bật ra trong trạng thái vô thức. Thơ chính là mảnh tâm trạng, cõi riêng thân phận, một cảnh huống đơn độc của con người". Có lẽ cũng chính vì điều này nên trong thơ của ông thường thấy hình bóng của những con người, những phận đời, số kiếp cô đơn.

  Trên giá đỡ những trang sách mở ra số phận cay đắng hạnh phúc

                                                                      chiến tranh hòa bình

Trên bả hư danh thừa mứa quyền uy hăm hở dối lừa

                                                                    ngông nghênh tăm tối

Trên pháp trường lởn vởn hồn oan xơ xác mong nhìn thấy ánh sáng

Trên sương mù bóng mẹ liêu xiêu sớm khuya đi về quang gánh oằn vai

Trên giường chiếu khổ đau bần hàn lam lũ hết đời này sang đời khác

Trên mâm cơm đầu mùa bung nở ríu rít trẻ con bát đũa lanh canh

Anh đợi

Trên hứng khởi người tìm bóng tối với những ngôi sao cuồng chết

                                                                              bên gốc dứa dại

Trên cánh bay giấc mơ hoang tưởng và hiện thực chồng chéo tan chảy

Trên tuyệt vọng rơi rơi rơi hun hút chín tầng âm u

Anh đợi

Đứa bé ngây ngô đợi bụt hiền hiện ra ban phép lạ

Anh đợi

(Anh đợi)

Trong cuộc sống không ai không mong cho mình được sống hạnh phúc, tự do nhưng ước nguyện ấy không phải ai cũng đạt được. Có những phận đời bị đẩy vào chiến tranh loạn lạc, có những người mẹ sớm khuya đi về quang gánh oằn vai, có những người khổ đau bần hàn lam lũ hết đời này sang đời khác, lại có những người vì tuyệt vọng mà rơi rơi rơi hun hút chín tầng âm u… Bằng trải nghiệm của mình, nhà thơ đưa ra quan điểm về những cuộc chiến tranh tàn khốc, về những trò chơi quyền lực tăm tối. Đồng thời, ông đã nhìn thấy sự bất lực, cô đơn của những phận người bị đẩy vào lửa đạn chiến tranh, những con người yếu thế.

Cái chết được thử nghiệm

I rắc

Giờ thì Li Băng

Máu xoáy sẹo đen lòng biển

Những ngày thảm khốc tôi vùi chân bên dòng Nêva

Chẳng đủ để răn dạy kẻ khác

Cuộn tròn mình lo lấy thân xác hơn chăng

Ngày anh tôi không về

Tôi đứa trẻ chỉ biết hát

(Cái chết)

tac-gia-hoang-vu-thuat.jpg
Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật

Nỗi cô đơn trong thơ Hoàng Vũ Thuật được chắt lọc từ những gì nhà thơ cảm nhận được trong cuộc sống hiện tại, trong quá khứ và cả tương lai với những sự liên tưởng, so sánh:

những cánh tay chọc thủng gạch ngói

những chiếc nón vẫy mưa

những tiếng kêu đứt đoạn

những hốc mắt đói nhìn

mỏi mòn đêm tối

kiệt quệ rạng ngày

...

mẹ thắp hương chờ

những đứa con không trở lại

những đứa con khát sữa gào lên khuya khoắt

sạp giường lạnh tanh

đôi vòng tay trơ rỗng

sách vở trộn bùn đất

rơm rạ trộn thây người

(Lá cứ hồn nhiên)

Lá thì cứ hồn nhiên, nhưng không lẽ mỗi con người trong kiếp đời này lại có thể hồn nhiên như lá? Không, con người có ý thức và sự cô đơn thường sẽ tác động mạnh đến tâm thức của mỗi người. Khi người mẹ mất đi những đứa con sẽ đau đớn, cô đơn, quằn quại và quãng thời gian tương lai của mẹ sẽ là đối diện với sạp giường lạnh tanh/ đôi vòng tay trơ rỗng, cuộc sống của những đứa con khát sữa sẽ ra sao khi thế giới ngoài kia là sách vở trộn bùn đất/ rơm rạ trộn thây người? Bằng lối gợi và liên tưởng, Hoàng Vũ Thuật đã nói lên nỗi đau nhân thế, đây cũng chính là cảm thức hiện sinh sâu sắc trong thơ của ông.

Không chỉ là những phận đời phải trải qua chiến tranh, loạn lạc mà ngay cả những hình ảnh rất đời thường, Hoàng Vũ Thuật cũng nhìn thấy được nỗi cô đơn trong tâm khảm, trong cuộc sống của từng số phận.

mười lăm phút một gương mặt hiện ra

Á Úc Mỹ da đen da trắng

không giống nhau

nhưng không hề khác

trên trang giấy phẳng phiu tuyết trắng

mười lăm phút gương mặt hiện ra

mười lăm phút vòng quanh năm châu lục

Trung Hoa Đan Mạch Thái Bình Dương

thế giới hiền hòa yên ả

mười lăm phút dư thừa đói nghèo khôn dại

chiếc gương phản chiếu hành tinh

trẻ và già gái và trai hiền và dữ

tóc nâu tóc vàng tóc xanh

cuối mùa thu rừng phong trút lá

trơ trọi mình họaH sĩ giữa khung đêm.

(Họa sĩ trong công viên Kultura)

Họa sĩ trong công viên Kultura giống như một khắc họa về cái tôi nhìn đời bằng lăng kính hiện sinh. Họa sĩ cảm nhận được sự tồn tại của những người khác, với những diện mạo, gốc gác, độ tuổi khác nhau. Họ cùng đến trong thế giới này, "không giống nhau/ nhưng không hề khác", vì họ cùng chịu chung một bàn tay run rủi của số phận. Người họa sĩ khắc họa lại những gương mặt ấy. Nhưng sau cùng, mọi sự gặp gỡ với những con người trong thế gian cũng sẽ phai đi. Tha nhân và bản thể vẫn chỉ là những tồn tại riêng biệt. Cuối cùng còn lại chỉ còn "ta với ta" trong khung cảnh tồn tại riêng mình. Một không gian hiện sinh thực sự tinh tế đã được xây dựng bằng lối thơ giản dị của Hoàng Vũ Thuật.

một chiếc ghế bện mây bên chiếc ghế bện mây cũ

hai mái tóc ông chải sáng

rẽ đôi chút khí trời hiếm hoi

bức tranh quê Đông Hồ bày nơi ngưỡng cửa

và nàng như ngày tháng xếp chồng lên nhau

ẩn trong gam lạnh

cứ thế ban mai hay chiều tà ông mở ra cuộn lại

người qua ngắm nghía bỏ đi

không mặc cả hỏi han

ông hiểu chẳng ai nhìn thấy vẻ đẹp nàng sau làn vải mộc

lẽ nào rao bán hoặc đem biếu không

hay treo giá tận chót cùng đi nữa

ông đưa về làm của quý riêng mình

vì ông biết những đêm dài nàng bay ra cùng khói sương buốt giá

ánh sáng

hơi thở

tiếng đàn

bởi nàng là bức tranh Đông Hồ ấm áp khắc họa cuộc đời ông

(Bức tranh mùa đông)

Nhìn rộng ra, thân phận cô đơn của người họa sĩ trong đêm thu hay sự cô đơn vì không có người hiểu để chia sẻ, thưởng thức nét đẹp văn hóa, nét đẹp của tranh Đông Hồ như ông già cũng chính là nỗi cô đơn thường thấy của con người trên thế gian. Con người, ai cũng muốn được quan tâm, chia sẻ nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng có thể nhận được tình cảm của những người xung quanh để rồi chúng ta tự mình lạc lõng, cô đơn trong nhân thế. Đây chính là một hiện thực được Hoàng Vũ Thuật nhìn nhận và khai thác rất tinh tế.

tac-pham-cua-hoang-vu-thuat(1).jpg
Một số tác phẩm của Hoàng Vũ Thuật

Lạc lõng trong cuộc sống đã là một sự cô đơn đáng sợ. Nhưng còn đáng sợ hơn khi cuộc sống làm cho con người ta cảm thấy chán ngán, thấy mất niềm tin vào nó, để rồi mỗi người tự sống với cuộc sống riêng của mình, bất lực hoặc thờ ơ trước những đắng cay, hạnh phúc, xảo trá, lọc lừa, tội ác… thờ ơ trước tất cả những gì xảy ra xung quanh mình và sau đó lại tự hỏi mình: Ta là ai?:

chán ngán chuyện ô uế hàng ngày diễn ra trên tờ báo to

đứa trẻ vừa bị kẻ hãm hiếp nơi ngã ba thành phố

muốn đi tìm lại cái bản mặt thật mình

cho ngày mai kịp đến với cõi thiền ngôi chùa cổ

những viên ngói mở mắt nhìn

cái thẻ bài nhà tu hành nói với tôi

anh là anh không là ai khác

chính anh đã làm nên cuộc sống của mình

còn bạn thì sao

hỡi người bên kia nửa trái đất

bạn học được gì khi sự xảo trá đang ngự trị

lên mỗi sợi tóc trắng chúng ta

(Sự xảo trá đang ngự trị lên mỗi sợi tóc trắng)

Vâng, ta chính là ta không là ai khác, chính chúng ta đã làm nên cuộc sống của chính mình. Nhưng cuộc sống của mỗi người có do họ toàn quyền quyết định? Nếu như có thì cũng biết phải làm thế nào cho đúng, cho xứng với kiếp người? Biết về đâu khi dòng sông ngang qua đời/ ta/ không bọt/ về đâu những con sóng vỗ chân cầu/ đừng nói nữa/ chiếc hộp trà đêm đêm/ đối diện/ dấu đi/ thi thể ngàn năm/ trôi / sóng truyền kiếp/ chiều nay/ dạt phía chân cầu (Trà đạo). Những câu hỏi đầy trăn trở: về đâu, về đâu cứ liên tục xuất hiện, liên tục vang lên mà tìm được ở đâu, ở ai một lời đáp, một câu trả lời? Để rồi ta cô đơn đối diện với chính mình với hàng trăm ngàn câu hỏi. Có người tìm ra đáp án, tìm ra lối đi, tìm được chính mình đó là những người may mắn. Tuy nhiên, điều may mắn ấy không phải sẽ đến với tất cả mọi người, bởi có những người đi trọn một năm vẫn không/ ra khỏi vùng ám tượng để rồi lưỡi hái thần chết/ đốn ngã linh hồn/ đố kỵ mờ xa gương mặt/ chữ nghĩa đánh bóng mạ kền… /đi trọn một đời vẫn không/ ra khỏi cuộc tranh giật/ nghìn cánh tay giơ cao/ biểu quyết/ không biết nữa cái gì xảy ra… (Ý nghĩ vụt hiện).

Dường như tất cả những bài thơ của Hoàng Vũ Thuật đều mang lại cảm giác buồn, cô đơn. Có khi là nỗi cô đơn chung của nhân loại, có khi lại là những nỗi niềm riêng, những cô đơn của một con người lạc lõng trong cuộc đời. Nó được ông diễn tả bằng nhiều hình ảnh, tứ thơ độc đáo. Đọc thơ ông người đọc như thấy rằng nỗi cô đơn đó là của chính bản thân mình, là nỗi buồn của chính mình. Ví dụ như trong Bài thơ ban mai ông viết:

mùa đông đến bất ngờ

không báo trước

tôi không kịp mặc áo ấm quàng khăn đi tất

như sự lạnh lùng của em

không báo trước

tôi đi qua những hoàng hôn

những trận mưa đêm đột biến

những lối phố rộng rênh

những quảng trường quá hẹp

những chiếc quán lẻ loi

tôi đi như một lời độc thọai

….

Tôi đã qua một mùa đông lạnh nhạt

một mùa đông không báo trước

như dáng em ngồi đan áo trong khuya

tôi cần sự bù đắp

sự bắt đầu

nhưng không bao giờ là sự cuối

(Bài thơ ban mai)

Ở đây, người đọc có thể cảm nhận, thấm thía khi tôi đi qua những hoàng hôn - những trận mưa đêm đột biến rồi những hình ảnh lối phố rộng tênh, những chiếc quán lẻ loi càng làm cho con người trở nên nhỏ bé trong không gian và còn nỗi buồn nào buồn hơn khi trong mùa đông lạnh giá lại thấy mình, lại phát hiện ra mình đang đi như một lời độc thọai. Cũng từ đó, con người cô đơn ấy cảm thấy cần một cái gì đó để làm cho lòng mình ấm lên, đó có thể là sự bù đắp, sự bắt đầu nhưng không bao giờ là sự cuối.

Là một con người tinh tế, nhạy cảm, Hoàng Vũ Thuật đã lắng nghe con tim mình, lắng nghe tiếng nói của mình qua những trải nghiệm cá nhân. Đồng thời, với nhãn quan tinh tường nhìn nhận quy luật cuộc sống thông qua các sự kiện, nét văn hóa, các biến động lịch sử, ông đã khắc họa nên những nỗi cô đơn hiện sinh của con người và chính mình.

Bài liên quan
  • Góp phần làm sáng tỏ  tiểu sử và thành tựu thơ  Hồ Xuân Hương
    PGS. TS Vũ Nho là chủ nhân của 116 đầu sách gồm cả sách dịch, viết chung và riêng về văn chương và giáo dục. Ở tuổi 75, cây bút dồi dào năng lượng này vẫn không ngừng làm việc để có thêm những tác phẩm trình công chúng... Cuốn sách mới nhất của ông “Hồ Xuân Hương đời và thơ” vừa ra mắt như một minh chứng cho niềm say mê của “lão nông tri điền” trên cánh đồng chữ. Cùng Người Hà Nội lắng nghe những chia sẻ của ông để hiểu sâu hơn về tập sách này.
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Văn Miếu - Quốc Tử Giám: "Đánh thức" nguồn lực di sản trong dòng chảy sáng tạo
    Từ trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nơi đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước qua hàng thế kỷ, ngày nay, Văn Miếu - Quốc Tử Giám (TP Hà Nội) trở thành không gian văn hóa sáng tạo hấp dẫn, là nguồn lực quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô. Tại Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026, nguồn lực ấy tiếp tục được đánh thức bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, để di sản bước vào đời sống đương đại bằng nghệ thuật, công nghệ và những trải nghiệm văn hóa đa dạng.
  • Bát Tràng khơi dòng di sản, kiến tạo giá trị công nghiệp văn hóa
    Trong dòng chảy phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô, Bát Tràng đang chuyển mình từ một làng nghề gốm truyền thống thành không gian sáng tạo đa giá trị, nơi di sản được kết nối với nghệ thuật, công nghệ, du lịch và kinh tế đêm. Việc trở thành điểm nhấn của Festival Thăng Long – Hà Nội năm 2026 không chỉ mở ra cách thức mới để kể câu chuyện về đất, lửa và nghề gốm, mà còn khẳng định sức sống của di sản trong đời sống đương đại, góp phần hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam; Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội .
  • Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” (từ 11 - 20/9) mở rộng cả về nội dung, không gian và phương thức tổ chức, là sự khẳng định tầm nhìn, hành động thiết thực thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Người dân hồ hởi góp ý kiến điều chỉnh Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Việc lấy ý kiến Nhân dân về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000 (đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở) đang nhận được sự quan tâm của người dân tại các địa bàn trong vùng quy hoạch.
  • Vở diễn “Bed time story” của Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội dự Liên hoan quốc tế tại Hàn Quốc
    Vào ngày 13/9, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội sẽ mang vở diễn “Bed time story” tham dự Liên hoan Văn hóa sân khấu đa ngôn ngữ Incheon, Hàn Quốc.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Lê Hồng Thiện
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Lê Hồng Thiện.
  • Hứa hẹn “quả ngọt” từ việc điều chỉnh cục bộ Quy hoạch khu vực hồ Gươm và vùng phụ cận
    UBND phường Hoàn Kiếm và UBND phường Cửa Nam (TP Hà Nội) đang phối hợp tổ chức lấy ý kiến cộng đồng dân cư đối với phương án điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu đô thị H1-1B, H1-1C, kết hợp giải pháp quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 nhằm cải tạo, chỉnh trang, tái thiết, tái cấu trúc không gian khu vực hồ Gươm và vùng phụ cận.
  • Phường Hồng Hà lấy ý kiến Nhân dân về Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    UBND phường Hồng Hà (TP Hà Nội) tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, tỷ lệ 1/5000 (đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở), thông qua hình thức trực tuyến và trực tiếp tại 5 điểm niêm yết trên địa bàn phường. Thời gian phường Hồng Hà lấy ý kiến Nhân dân từ ngày 7/9 – 26/9/2026.
  • Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đẩy mạnh cải cách hành chính qua cuộc thi tìm hiểu Nghị quyết 76/NQ-CP
    Nhằm tăng cường công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng cùng chính sách, pháp luật của Nhà nước về cải cách hành chính đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành văn hóa, thông tin, thể thao và du lịch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chính thức phát động Cuộc thi tìm hiểu về cải cách hành chính.
  • Hà Nội: Khi văn hóa trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 28/8/2026 về chỉ đạo triển khai “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Không chỉ là một hoạt động văn hóa thường niên, Kế hoạch đặt “Ngày Văn hóa Việt Nam” trong một tầm nhìn rộng hơn: trở thành điểm hội tụ để tôn vinh, lan tỏa các giá trị văn hóa, khơi dậy sức sáng tạo và từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của Thủ đô.
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
Nỗi cô đơn hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO