Tác giả - tác phẩm

Nhà thơ Thu Bồn: Sức vóc trường ca và nét thơ xao xuyến

Nhà thơ Vũ Quần Phương 13/07/2023 08:01

Vóc hình cao lớn, nói năng hồn nhiên, ứng xử phóng khoáng. Viết nhanh, viết nhiều, vừa tiểu thuyết vừa thơ. Định là làm. Làm cật lực và chơi cũng cật lực. Vào Nam ra Bắc, nồng nhiệt những bạn bè, văn chương, nghệ thuật. Tôi có cảm giác Thu Bồn luôn luôn dư thừa sức lực, sức lực thể chất và sức lực tâm hồn. Cũng phải thân xác ấy mới đủ sức để chạy theo được những ý tưởng những cảm xúc luôn bề bộn trong lòng ông.

nha-tho-thu-bon.jpg

Tôi đã nghe ông kể về việc địu con bằng ba lô, vượt bom đạn Trường Sơn ra Bắc. Đứa bé thò chân qua hai lỗ khoét ở hai góc ba lô. Và ông thì đi bộ, đi xe quân sự, nhiều tháng đường rừng. Hà Nội một năm nào đó, khi trả lời một bạn văn trách ông vắng mặt buổi nhậu đêm Trung thu, ông nói: mình ngồi với cháu ở nghĩa trang. Gương mặt ông lúc ấy rất buồn và tôi cứ mãi hình dung bóng ông bất động bên mộ con trong cái nghĩa trang rộng bạt ngàn phần mộ dưới trăng đêm ấy. Cách đây, cũng đã nhiều năm, khi đi tìm những câu thơ hay cho ngày thơ Nguyên tiêu, bạn thơ Hữu Thỉnh nhắc tôi hai câu của Thu Bồn, mà với tôi là rất lạ: “Lấy khăn mà gói bơ vơ/ Tay cầm nước mắt bao giờ sang sông”.

Lạ, trong chất hồn dân tộc đắm đuối xót thương. Cả lời, cả cảnh, cả tình, cả ý rưng rưng nỗi niềm một thuở xa xưa, thân gái dặm trường, đò sông bến nước. Lạ, khi ốp thơ ấy vào vóc dạc và cá tính Thu Bồn, khi chiếu thơ ấy vào dòng cuồn cuộn ào ạt và cũng hơi xô bồ của các trường ca đậm hương vị Tây Nguyên, từ “Bài ca chim Chơ Rao” đến “Ba dan khát”. Cái hay tiêu tao của câu thơ ấy như một nhắc nhở tôi lưu tâm tìm một khía cạnh khác. Lắng hơn, trầm hơn, rất sâu nặng tình đời trong thơ Thu Bồn.

Thu Bồn (1935-2003) có tên khai sinh là Hà Đức Trọng, người làng Điện Thắng, huyện Điện Bàn Quảng Nam. Bạn đọc miền Bắc biết Thu Bồn khi trường ca “Bài ca chim Chơ Rao” lần đầu được in trọn vẹn trong một số của tuần báo Văn Nghệ Hà Nội năm 1965. Đầu trường ca tác giả đề: Kính tặng miền Bắc, cuối trường ca là ngày hoàn thành: tháng 5/1963. Những năm ấy các tác phẩm văn chương từ miền Nam gửi ra còn hiếm và rất được trân trọng đọc như đọc thư người thân. Về thơ, bà con miền Bắc khi ấy mới biết Giang Nam, Thanh Hải, Văn Công. Bấy giờ biết thêm Thu Bồn, và sau đó nữa là Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Dương Hương Ly... “Bài ca chim Chơ Rao”, ngót một ngàn câu thơ, được xếp trang khá đặc biệt trên mặt báo Văn Nghệ để bạn đọc có thể tách ra, gấp lại, đóng thành tập thơ 32 trang khổ 13x19, lưu hành độc lập với tờ báo. Bạn đọc, bạn viết miền Bắc nồng nhiệt đón nhận tác phẩm và Thu Bồn nhanh chóng thành một tên tuổi tiêu biểu của thơ ca cách mạng miền Nam. Ưu điểm trước tiên của Thu Bồn thuộc về bút lực. Sức cảm xúc mạnh, hơi thơ liền mạch. Câu chuyện đấu tranh phi thường của hai chiến sỹ Kinh và Thượng trong nhà tù Mỹ Diệm được kể bằng bút pháp biểu tượng, thấm đẫm cảm hứng lãng mạn, siêu thực. Vũ khí của nhân vật chính diện là tiếng hát. Các anh chiến thắng cực hình bằng tiếng hát. Làm rã hàng ngũ nghìn quân địch cũng bằng tiếng hát. Thu Bồn tạo được không gian thơ kỳ ảo cho tiếng hát cất cánh. Câu thơ chắc gọn và biến hóa, đặc biệt chất thơ rất nhiều hư ảo. Có thể thấy trong cách làm câu cho “Bài ca chim Chơ Rao”, Thu Bồn đã tiếp nhận được thành tựu của “Bài thơ Hắc Hải” của Nguyễn Đình Thi, xuất bản năm 1959 ở Hà Nội. Thu Bồn năm ấy chưa đầy ba mươi tuổi. Bút pháp mới mẻ và đang hăm hở đi tới. Ông vận dụng những sáng tạo của cổ tích, của anh hùng ca cổ xưa. Hình ảnh hai vòng tay lửa ôm nhau của hai chiến sỹ phút hy sinh phi thực, phi thường, đầy bi tráng, như trong bi kịch Hy Lạp cổ xưa. Khi hai sợi dây trói đã cháy, hai người con Kinh - Thượng ấy: “Hai ngọn lửa đuốc rùng rùng tiến lại/ Hai vòng tay lửa gán vào nhau”.

Thu Bồn có sức bút mạnh mẽ. Ông viết nhanh, viết nhiều và chất lượng khá đều. Ông hay trở lại với đề tài Tây Nguyên, vùng đất đánh thức trí tưởng tượng ông từ tuổi bé thơ, khi bỏ cả ngày xuống chợ Thanh Quýt để xem người Thượng cưỡi voi về mua bán. Trong kháng chiến chống Pháp, ông sống với đồng bào Tây Nguyên, xúc động trước bao tấm gương hy sinh cao cả thầm lặng của đồng bào. Ông sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu Tây Nguyên. Hơn thế, ông biết cách kỳ ảo hóa, tạo thêm sức mê đắm hoang dại và thần kỳ. Những cuộc săn thú, săn người trong “Ba dan khát” kỳ lạ và lôi cuốn. Đất nước Campuchia hiền hòa tương phản gay gắt với hành động diệt chủng man rợ, quái đản của bọn Pôn-pốt. Chỗ xung đột gay gắt là chỗ Thu Bồn thường cất lên những cảm xúc mạnh mẽ, xây dựng các hình tượng có tầm vóc. Ông lựa chi tiết đặc tả rất có thần. Thủ đô Phnôm Pênh trong nạn diệt chủng (Campuchia hy vọng): “Những con chuột ăn gót chân người sống/ Những con mèo hoang bị chuột tha đi”.

Nét hùng vĩ của cảnh và người Tây Nguyên được hình tượng hóa: “Quê hương lạnh đắp chăn bàng lửa/ Con đại bàng nhám mát ngủ trong mây”.

Cảnh chủ làng săn đuổi đôi trai gái (Ba dan khát): “dòng sông quặn lại/ Mặt trời đau mờ mịt dưới lòng sâu”. Cảnh bà mẹ Chàm có đứa con bị giết đi tìm mẹ tên giết người. Những hành động bất ngờ của những tính cách mạnh mẽ giàu chất lãng mạn và giàu chất thơ mang tính nhân đạo nhân dân sâu sắc.

Thơ Thu Bồn mạnh ở những mảng cảm hứng lớn, ôm trùm hiện thực rộng, chất liệu đời sống lạ, cho phép một ngôn ngữ phóng khoáng, một cảm xúc tung hoành, đắm vào lãng mạn, lấy bút pháp khoa trương làm rường cột cho cốt truyện và tạo nên không khí trữ tình cho không gian tự sự. Cái ấn tượng lực lưỡng trong hồn thơ Thu Bồn phát sinh từ đặc điểm đó. Đặc điểm làm nảy sinh một loạt trường ca đề tài phong phú, phong vị rất Thu Bồn (“Bài ca chim Chơ rao” - 1963, “Vách đá Hồ Chí Minh” - 1970,”Quê hương mặt trời vàng” - 1975, “Chim vàng chốt lửa” - 1975, “Ba dan khát” - 1976, “Campuchia hy vọng” 1978, “Người vắt sữa bầu trời” - 1985, “Thông điệp mùa xuân” - 1985...). Và chính nó, cái đặc điểm ấy, cũng làm mờ một khía cạnh khác trong cảm hứng thơ của Thu Bồn. Ấy là cái chất lặng và thấm, giàu phong vị truyền thống và nảy sinh từ hiện thực của đời. Nó là cái chất đã kéo con người Thu Bồn, vốn phóng túng như ngọn gió rừng hoang dại, ngồi lặng trầm tư bên mộ con gần trọn một đêm trăng Trung thu năm ấy.

Ở những bài thơ ngắn, Thu Bồn cũng viết bằng hơi trường ca nên thường dài và ít quan tâm đến việc chăm sóc ngôn ngữ. Ông chú trọng nhiều đến hơi thơ, giọng thơ “đại tự sự” hơn là mạch nội tâm cá thể hóa trầm lặng. Phải đến những năm ngót bảy mươi, cái con người tráng kiện của sử thi ấy, mới có dịp quay về chiêm nghiệm lại tháng ngày ông đã sống. Ông nhớ một miền quê thơ ấu - làng Phú Thạch, thị xã Tuy Hòa, với những lam lũ vất vả một thời xưa. Ông nhớ Hà Nội, “Nơi không xa cách được mà mình xa cách rồi”. Ông nhớ mùa đông xứ Bắc những năm tập kết áo bông rộng thênh thang. Ông nhớ “Những con người đi qua đời tôi chẳng bao giờ gặp lại”. Ông phát hiện những lẽ đời sâu nặng trong những việc thường ngày. Đôi lúc thoáng qua cảm giác chua chát trước biến động của cuộc sống. Ông chia sẻ và cảm thông sâu sắc với người nông dân sương nắng tự bao đời mà hôm nay vẫn còn sương nắng: “Ngày úp mặt xuống cánh đồng/ Đêm úp mặt lên hai cánh tay”. Thơ ông thâm trầm hơn nhưng thời gian của riêng ông không còn đủ cho ông khai thác cái vỉa ngầm tiềm lực đặc sắc ấy. Đặc sắc trong sự tinh tế và thấm đượm. Xin lọc ra từ một số bài thơ ngắn và từ những đoạn trữ tình xen trong trường ca: “Chim vàng vẫn kêu trong một vùng dĩ vãng của rừng cây”. Vùng dĩ vãng của rừng cây. Đang đọc trôi chữ, tôi bỗng sững lại trước khóm từ này. Nó là một hình tượng. Con chim hôm nay thì hót trong rừng hôm nay, vùng dĩ vãng của rừng nằm ở hoài niệm của người: con chim hôm nay bỗng về hót trong thời gian cũ. Trên phương nằm ngang của trục thời gian quá khứ - hiện tại - tương lai, bỗng nhiên võng xuống một chiều sâu của hoài niệm, của trải nghiệm, của nông nỗi đời người. Phía trên tôi nói lọc ra vì câu thơ ông thích bay trên đầu sự kiện - cao, đẹp, phóng khoáng - hơn là chìm sâu vào lòng nó - thâm trầm, sâu lặng. Chỉ đôi khi, như tình thế tạo nên, một lần trú trong hầm bí mật dưới đất sâu: “Đầu cành cây có ra hoa/ Chắc là nở với lòng ta dưới này/ Ta nghe trâu giục luống cày/ Có con chim sẻ đang bay ngang trời”.

Một lần khác, trong bài thơ “Cho tôi về lại”: “Cho tôi về lại với hàng tre râm mát/ Nằm trên cỏ xanh trâu gặm ướt chiều hôm/ Cho tôi về với cánh đồng vàng gốc rạ/ Những người thợ gặt đi rồi… Còn nỗi nhớ mênh mông”.

Trâu gặm ướt chiều hôm, gợi cảm nhưng cũng là câu dễ viết. Cái chất thơ nhìn gốc rạ sau vụ gặt mà nhớ mênh mông đáng quý hơn. Nó có nhiều nỗi niềm từng trải lặn chìm trong đó.

Vào chặng cuối của đời, Thu Bồn, như mọi nhà văn vào tuổi ấy, thường hướng về hoài niệm nên dễ đụng vào những vùng cảm xúc ấy. Câu thơ ông vẫn bước đều chân nhưng người đọc thì sửng sốt và âm thầm dừng lại. Dừng lại với câu thơ để gặp chính hồn ông, để lắng nghe trong ấp úng ngôn từ cái phần đời mà ông chưa nói hết.

Khoảng thập niên cuối thế kỷ trước, một trưa, ông hẹn mươi người bạn đến căn nhà nhỏ dưới chân đê Hoàng Hoa Thám gần Chợ Bưởi, mừng cuộc sống gia đình mới của ông. Ông kể rằng hôm trước ông thuê xích lô dọn nhà cho cô dâu từ nam chợ Mơ về đây. Lúc xe rẽ từ đê Hoàng Hoa Thám xuống xóm thì lại lao xuống ao. Đường dốc, lúc ấy mới biết ông xích lô lại là thương binh, có một bàn chân gỗ, không ghì được xe. Rõ khổ, đồ đạc rổ rá đã cạp lại cứ trôi lềnh bềnh dưới ao. Ông đương kim chú rể phải lội xuống vớt lên. Vớt của hồi môn, vớt cả ông lái xe, rồi mời ông ấy uống rượu với mình. Chuyện vậy nhưng Thu Bồn kể vui lắm, giọng hồn nhiên như nói chuyện người ta. Mọi người cười, cô dâu cười hăng hái nhất. Bữa ấy vui mà cũng thoáng ngậm ngùi.

Không biết có gì liên quan giữa cách kể chuyện mình thản nhiên như thế với những câu thơ lấp lánh nội tâm mà thơ ông cứ lướt qua?

Phải chăng ông muốn ghi cho nhanh những nét thời cuộc hay muốn đáp ứng một chức năng xã hội khẩn thiết của thơ ca mà chưa có lúc mình chuyện với mình về chính cuộc đời mình? “Bài ca chim Chơ Rao” thành công đầu đời chói lọi, làm nên tên tuổi ông, ở đấy cái Đẹp, cái Cao cả như chất men thúc đẩy con người nhập cơn say lý tưởng, cơn say chiến đấu. Thành tựu ấy là rất quý, Nhưng say gì rồi cũng có lúc tỉnh. Chính “khi tỉnh rượu, lúc tàn canh” là lúc con người cần tìm vào sự sâu sắc của nội tâm. Tìm vào sâu sắc mà nhận ra “Đường trên mặt đất”“Sức đi của lòng mình”. Thu Bồn ở chặng “Tay cầm nước mắt bao giờ sang sông” là lúc ông đang nhập vào cõi sâu sắc của lòng mình mà chiêm nghiệm nhân gian./.

Bài liên quan
  • Tiểu sử tự thuật viết ở Đông Berlin, tháng 9/1961
    Tháng 6/2023 là kỷ niệm đúng 60 năm ngày mất (3/6/1963) của nhà thơ lớn Thổ Nhĩ Kỳ Nazim Hikmet (1902 – 1963). Ông cũng là một chiến sĩ dũng cảm suốt đời đấu tranh cho hòa bình và công lý trên trái đất, đã được tặng Giải thưởng Hòa bình quốc tế do Hội đồng Hòa bình thế giới trao tặng năm 1950. Sau khi trải qua 17 năm tù đày dưới chế độ độc tài, khi ra tù, ông phải sống lưu vong đến hết đời ở nhiều nước, làm văn, làm thơ, viết báo, đồng thời là diễn giả sôi nổi trên các diễn đàn đấu tranh cho quyền tự do, d
(0) Bình luận
  • Ra mắt sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”
    Chiều 4/7, tại VNU Bookstore (Đại học Quốc gia Hà Nội), Công ty Cổ phần Xuất bản và Giáo dục Quảng Văn tổ chức ra mắt cuốn sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”. Thông qua hành trình của một chú voi nhỏ, cuốn sách gửi gắm những thông điệp ý nghĩa về tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm với thế giới xung quanh.
  • Nhà thơ Hữu Thỉnh ra mắt tiểu thuyết “Thép dưới cỏ”
    Nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt độc giả tiểu thuyết đầu tay có tên "Thép dưới cỏ". Đây là cuốn sách viết về sự kiện Tà Mây - Làng Vây của binh chủng Tăng thiết giáp. Cuốn tiểu thuyết ra mắt đầu tháng 7, như món quà tri ân không chỉ độc giả, mà còn dành tặng cho những người lính đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, cùng những cựu chiến binh, những thương bệnh binh đã có một thời thanh xuân “hoa lửa” đáng tự hào của mình.
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • Lan tỏa những điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Ban Chuyên đề - Báo Nhân Dân phối hợp Ban sách Lý luận, Kinh điển - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Hoa vườn Bác” (Những điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh). Cuốn sách tuyển chọn 70 bài viết về những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác Hồ, tích cực lao động, sản xuất, học tập, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến trên nhiều lĩnh vực của đời
  • Thế giới tuổi thơ và hình tượng người mẹ trong tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” của Trương Anh Tú
    Tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” (NXB Kim Đồng, 2024) của tác giả Trương Anh Tú viết về thế giới trẻ thơ, song lại chứa đựng bề sâu cảm xúc mà cả người lớn lẫn trẻ nhỏ đều có thể cảm nhận. Với 24 bài thơ, được sắp xếp theo nhịp thời gian bốn mùa và những khoảnh khắc đời thường, tập thơ đã dệt nên một thế giới trong trẻo. Xuyên suốt tập thơ, bóng dáng người mẹ hiện lên với sự yêu thương, che chở.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Văn học với sứ mệnh bồi đắp hệ giá trị văn hóa và con người Hà Nội
    Văn học không chỉ phản ánh hiện thực mà còn góp phần lưu giữ ký ức dân tộc, kiến tạo hệ giá trị văn hóa và bồi đắp nhân cách con người. Trong bối cảnh đất nước và Thủ đô Hà Nội bước vào giai đoạn phát triển mới, sứ mệnh ấy càng trở nên quan trọng, đòi hỏi văn học tiếp tục đồng hành cùng đời sống, phát huy sức mạnh mềm của văn hóa và góp phần xây dựng hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh trên nền tảng truyền thống và tinh thần sáng tạo.
  • Chương trình “Khúc quân hành” 2026: Hành trình một thập kỷ nghĩa tình tri ân
    Sáng 18/7, đoàn công tác Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X - năm 2026 do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026) đã đến viếng, dâng hoa, dâng hương tri ân các anh hùng, liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Đông Khê (Cao Bằng). Mở đầu chuỗi hoạt động, tại xã Đông Khê đoàn đã trao 150 suất quà tặng các thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Phía sau bước chân người lên đường
    Sinh trưởng ở xứ Đoài mây trắng, từng làm việc ở Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, (nay là Hà Nội), Phan Quế - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đến với thơ từ buổi đầu sáng tác và ông cũng được bạn đọc biết đến khá sớm. Tuy nhiều năm qua Phan Quế dành thời gian và tâm sức nhiều cho tiểu thuyết, nhưng thơ đối với ông vẫn là nỗi niềm canh cánh trong lòng.
  • Phường Tây Hồ dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hà Nội
    Sáng 21/7, đoàn đại biểu Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Tây Hồ do đồng chí Nguyễn Đình Khuyến – Thành ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường làm trưởng đoàn đã đến đặt hoa, dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hà Nội.
  • Cảnh báo mạo danh Trung tâm Phục vụ hành chính công Hà Nội lừa đảo người hưởng lương hưu
    Khi nghi ngờ có dấu hiệu giả mạo hoặc phát hiện hành vi lợi dụng danh nghĩa Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội để lừa đảo, người dân cần phản ánh ngay qua Tổng đài 024 1022 (nhánh phím 7) hoặc thông báo cho cơ quan Công an nơi gần nhất để được hướng dẫn, xử lý theo quy định của pháp luật...
Đừng bỏ lỡ
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
  • Khởi động Cuộc thi sáng tác Ca khúc và Logo về phường Mường Thanh năm 2026
    Ban tổ chức mong muốn thu hút, khuyến khích đội ngũ nhạc sĩ, họa sĩ chuyên nghiệp lẫn không chuyên trên toàn quốc đóng góp tài năng, trí tuệ. Từ đó, địa phương sẽ lựa chọn được một biểu trưng chính thức cùng những ca khúc tiêu biểu mang tính khái quát cao, phản ánh chân thực bản sắc độc đáo và dòng chảy phát triển của phường.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Vì sao The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa chọn để chinh phục IELTS?
    The IELTS Workshop được hàng ngàn học viên lựa để chinh phục IELTS là bởi đội ngũ giảng viên sở hữu khả năng ngoại ngữ xuất sắc, kỹ năng sư phạm giỏi.
  • Bệnh viện Tim Hà Nội: Dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), mới đây, trong khuôn khổ chuyến công tác khám bệnh, tư vấn sức khỏe và trao quà cho các cựu chiến binh, người có công với cách mạng tại tỉnh Tuyên Quang, PGS.TS.BS Nguyễn Sinh Hiền - Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội cùng đoàn công tác của Bệnh viện đã đến dâng hương, tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang).
  • Mùa thu Hà Nội trong tôi đầy nhung nhớ
    Mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận để các nhà thơ họa nên trước mắt người đọc một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp thông qua ngôn ngữ của thơ ca. Nếu như với nhà thơ Hữu Thỉnh khoảnh khắc "sang thu" đến với thi sĩ thật bất ngờ thông qua mùi thơm nồng nàn của hương ổi: "Bỗng nhận ra hương ổi,...". Thì với Anh Thơ, mùa thu của tác giả lại là: "Gió heo may nổi bờ tre buồn xao xác...", mùa thu của tác giả bắt đầu từ cái se lạnh đặc trưng của làng quê Bắc bộ giản dị, và đầy hấp dẫn.
  • Đổi pin một phút, chạy cả trăm cây số: VinFast Viper đúng chất xe điện cho dân phượt
    Hình ảnh xe máy điện lướt đi nhẹ nhàng trên phố đã trở nên quen thuộc. Với VinFast Viper, xe máy điện còn cho thấy khả năng vận hành mạnh mẽ, đáp ứng những chuyến đi xa hàng trăm kilômet qua nhiều dạng địa hình.
Nhà thơ Thu Bồn: Sức vóc trường ca và nét thơ xao xuyến
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO