Văn hóa – Di sản

Hoàng Đôn Hòa – một thầy thuốc lớn đời Lê

Lê Văn Đức 06/11/2023 14:33

Hoàng Đôn Hòa ở thôn Huyền Khê, xã Thanh Oai trung, tổng Thanh Oai thượng, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, thi đậu Giám sinh, ẩn cư dạy học, rất tinh thông nghề y.

Theo Nam Việt thần kỳ hội lục, làng Đa Sĩ, xã Kiến Hưng, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) có đền thờ Lương y Linh Thông đại vương và Phương Dung Từ thục phu nhân.

0758_2783_le_hoi_xuan_truyen_thong_lang_da_sy.jpg
Di tích miếu làng Đa Sỹ, phường Kiến Hưng, Hà Đông, Hà Nội.

Thần tích đền làng ghi:

“Hoàng Đôn Hòa ở thôn Huyền Khê, xã Thanh Oai trung, tổng Thanh Oai thượng, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, thi đậu Giám sinh, ẩn cư dạy học, rất tinh thông nghề y. Dưới đời vua Lê Trang Tông Dụ hoàng đế, năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533), bệnh dịch lan rộng, ông đã phát thuốc và chu cấp tiền gạo cho nhân dân, cứu sống được rất nhiều người, nên ở địa phương ai cũng coi là vị phúc tinh. Do đó, thanh danh của ông ngày càng vang lừng khắp nơi. Đến đời vua Lê Thế Tông Nghị hoàng đế, năm Gia Thái thứ 2 (1574), quân họ Mạc chiếm đóng Thái Nguyên, triều đình cất đại binh đi đánh. Hoàng Đôn Hòa được cử làm Điều hộ lục quân (quân y). Sau khi thành công về ông được thăng chức Thị nội thái y viện phủ thiên (đứng đầu coi việc chữa bệnh trong cung ở Thái y viện) và được phong tước “Lương dược hầu” nhưng ông xin về nghỉ.

Sau khi mất, nhân dân lập đền thờ ông. Các triều đại sau đã truy phong ông là phúc thần “Lương dược Đại vương” và phu nhân.

Trước kia, hàng năm cứ ngày 12 tháng Giêng (âm lịch) có khâm sai quan phủ huyện đến tế trọng thể để hậu báo công ơn của ông”...

Theo truyền thuyết ở địa phương, nhất là dựa vào các tài liệu, thần tích, ngọc phả thì Hoàng Đôn Hòa đã có nhiều công trạng. Sinh thời Hoàng Đôn Hòa được phong tước Lương Dược hầu và sau khi mất được phong sắc Lương Dược Linh thông cư sĩ. Ông là một sĩ phu đi ở ẩn, chuyên nghiên cứu các vị thuốc để chữa bệnh giúp dân. Ông sớm nổi tiếng là thầy thuốc giỏi. Có trường hợp bệnh của một công nương tôn thất rất nặng, nhiều người chữa không khỏi, đã được Hoàng Đôn Hòa cứu lành mau chóng. Vua Thế Tông mến tài của ông, chọn ông làm phò mã, gả con gái là Phương Anh công chúa cho ông. Công chúa lại là người có đức hạnh và học thức, càng thêm ý hợp tâm đầu. Phương Anh (đổi tên là Phương Dung) phục tài năng chữa bệnh và mến đạo đức giúp dân của chồng, nên rất đồng tình phát huy sự nghiệp cao quý của chồng ở nơi thôn dã.

hoang-don-hoa.jpg
Tượng danh y Hoàng Đôn Hòa.

Hoàng Đôn Hòa và phu nhân Phương Dung công chúa tự trồng kiếm lấy thuốc để chữa bệnh cho dân một cách rộng rãi. Bà lại quyên góp tiền gạo để phát chẩn khi đói kém. Trong những năm dịch lệ, nhân dân đã được cứu chữa tận tình, và chu cấp cả thuốc men tiền gạo. Khi Hoàng Đôn Hòa đi làm quân y, ông cũng đã trồng kiếm thuốc tại chỗ, dùng thuốc hoàn tán chế sẵn, cứu chữa cho quân đội và nhân dân địa phương được qua khỏi các bệnh dịch tả và dịch sốt rét ác liệt. Vì vậy nhân dân địa phương rất quý mến ông. Ông đã giúp quân đội triều Lê về mặt bảo vệ sức khỏe, tạo thêm điều kiện cho việc chiến thắng quân Mạc. Ở nhà, bà Phương Dung cùng những người giúp việc vẫn tiếp tục cấp phát thuốc men, liên tục chữa bệnh, cứu giúp nhân dân, không quản ngại gì công của.

Hoàng Đôn Hòa, nhờ có môn thuốc chữa sốt rét lam chướng và dịch tả rất công hiệu (phương thuốc Tam hoàng hoàn, đã giúp quân đội vượt qua bệnh tật, như câu: “Kim đan viên hộ nhung hành sơn tiêu chướng khí (Thuốc quý đã giúp việc hành quân vượt núi và tiêu tan khí độc lam chướng) ở đền Đa Sĩ đã ghi lại thành tích ấy.

Hoàng Đôn Hòa đã lưu truyền các phương thuốc hiệu nghiệm trong quyển Hoạt nhân toát yếu. Nhân dân đã khắc câu đối tặng thờ ông, hiện còn:

- Tung nhạc giáng thần, hộ quốc chuân cần lưu uyển diệm

(Thần Tung nhạc giáng sinh, giúp nước ân cần lưu phương châu ngọc)

- Dược Vương xuất thế, hoạt nhân công đức mãn hoàn doanh

(Phật Dược Vương xuất thế, cứu người công đức khắp cõi bao la)

Đến thế kỷ thứ XVIII, Trịnh Đôn Phác, người làng Đa Sĩ, làm thủ phiên ở Thái y viện, đã thừa kế các môn thuốc của Hoàng Đôn Hòa được hiệu quả và biên soạn lại quyển Hoạt nhân toát yếu lưu truyền đến nay. Tương truyền Trịnh Đôn Phác sau khi đi sứ sang Trung Quốc đã có dịp chữa cho vua nhà Thanh khỏi bệnh với phương thuốc của Hoàng Đôn Hòa, nên đã được phong là “Lịch thế y” (Thầy thuốc trải nhiều đời). Và khi trở về nước, vua nhà Thanh đã gửi sang tặng đền thờ Hoàng Đôn Hòa một cái chóe bằng sứ, một cây đèn nến để dẫn rượu tế và một cái áo thờ bằng gấm tím (áo vương). Có đôi câu đối hiện còn ghi lại sự tích ấy:

- Lục nghệ trân tàng, nội ngoại nho thư y điển

(Sáu nghề được tôn sùng, trong sách nho, ngoài sách thuốc)

- Lưỡng quốc hạo tặng, hầu thiên hậu thụy vương chương

(Hai nước đều phong tặng, trước tước hầu, sau tước vương)

Từ sau khi Trịnh Đôn Phác phát huy tác dụng của Hoạt nhân tác yếu, các triều đại Hậu Lê và Nguyễn mới đổi sắc, phong cho Hoàng Đôn Hòa là Lương dược Đại vương và Phương Dung là từ thục trinh ý kỵ nương.

Sự nghiệp y học của Hoàng Đôn Hòa đã có ảnh hưởng lúc đương thời và cả đời sau đối với việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Công ơn đó đã được nhân dân địa phương đời đời ghi tạc và thể hiện bằng ba bức hoành phi ở đền thờ ông lưu truyền đến nay:

Âm dương hợp đức (Hợp đức của âm dương)

Lương y quốc (Thầy thuốc giỏi giúp nước)

Thọ tư dân (Thêm thọ cho dân)

Dưới đây xin giới thiệu sơ lược nội dung trước tác Hoạt nhân toát yếu để chúng ta thấy được phần nào những cống hiến của Hoàng Đôn Hòa cho nền y dược dân tộc.

Trước tác Hoạt nhân toát yếu của Hoàng Đôn Hòa gồm phần chính 208 phương thuốc đơn giản và kinh nghiệm ứng dị các loại bệnh về nội khoa, ngoại khoa, thương khoa, phụ khoa, nhi khoa và các bệnh về gia súc, thú vật, ngoài ra có kèm thêm một thiên Tính mệnh khuê chỉ tăng bổ chỉ dẫn cách giữ gìn sức khỏe.

Như thể hiện nhan đề Hoạt nhân toát yếu (Nắm phép cốt yếu cứu người), quyển sách chỉ trình bầy một số vấn đề chủ yếu để phòng bệnh và trị bệnh cần thiết cho sự sống của người ta, nên những phương thuốc này nhằm chữa bệnh theo chứng dễ áp dụng và mang nhiều tính chất thực tiễn như một cuốn sổ tay dùng thuốc. Trước tác không nói đến lý luận cơ sở hay nguyên nhân bệnh lý, tuy nhiên phần dược lý và tác dụng của các phương thuốc này thì thấy được ít nhiều tính chất của nó. Hơn nữa qua nội dung hướng dẫn việc dùng thuốc thì chúng ta càng thấy được rõ nét một kho tàng kinh nghiệm quý báu. Đặc sắc là trước tác này có sự chọn lọc thực tiễn nên số phương thuốc ít mà tinh, không rườm rà như trong các sách phương tễ học hay bệnh học khác, thường làm cho người đọc thêm loạn mắt, khó nắm.

Nhằm mục đích cứu người (Hoạt nhân), với một ý nghĩa rộng rãi, trước tác gồm cả các phép dưỡng sinh, hít thở vận động để trị bệnh, tăng sức khỏe và lời dạy thanh tâm tiết dục, giữ gìn trong sinh hoạt để sống lâu, gắn liền việc chữa bệnh với phòng bệnh. Nó còn có thêm mục Thủ y phục vụ chăn nuôi trâu bò để lấy thực phẩm và có lực lượng sản xuất lương thực cung ứng cho đời sống nhân dân và quân đội, cùng việc chữa bệnh cho voi ngựa để vận tải quân lương quân dụng và chiến đấu quốc phòng. Hoạt nhân toát yếu cung ứng một cách toàn diện những phương pháp chữa bệnh có hiệu quả cho người thầy thuốc nhân dân ở nông thôn, cũng như cho người quân y trong quân đội phong kiến với điều kiện chiến đấu du kích, vũ khí, phương tiện thô sơ, theo hoàn cảnh lịch sử đương thời.

Ngoài việc phục vụ nhân dân và quân đội triều Lê, sự nghiệp của Hoàng Đôn Hòa đã phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh (danh y Việt Nam ở thế kỷ XVI), góp phần xây dựng nền y dược học nước ta.

Về mặt dược học, qua sự tổng hợp các vị thuốc và những kinh nghiệm dùng thuốc trong sách Hoạt nhân toát yếu, tác giả đã đúc kết trên 300 vị, trong đó 265 vị thuốc Nam để bổ sung vào nền dược học dân tộc.

Một số vị thuốc mới được phát hiện, như lá dầu sơn, dây gắm, cúc mắn, bồ cu vẽ, dây rung rúc, huyết gác, gối hạc... Nhiều vị thuốc được bổ sung công dụng, như lá chỉ thiên, vỏ dưa chuột chữa phạm phòng, huyết dụ chữa bạch đới, lậu đái giắt, gỗ vang chữa ỉa chảy, lá thanh táo, cỏ răng cưa... đắp vết thương chảy máu.

Đặc biệt Hoàng Đôn Hòa đã trọng dụng thuốc cao đơn hoàn tán chế sẵn để đáp ứng kịp thời yêu cầu trị bệnh hàng loạt cho nhiều người trong một lúc, như khi chống dịch bệnh nhân gần như tập trung, hay trong quân đội với hoàn cảnh lưu động, thiếu điều kiện và phương tiện sắc thuốc. Thuốc hoàn toàn chế sẵn rất tiện dụng để phục vụ đại chúng, giúp cho nhà lương y được phát huy tài năng, làm tròn nghĩa vụ của mình, và mở rộng phạm vi tác dụng của nền y dược dân tộc.

Về mặt nghiệm phương, một số phương thuốc trong Hoạt nhân toát yếu có tác dụng tốt, được nhân dân tín nhiệm lâu đời. Ở đây, chúng tôi không đi sâu vào các phương thuốc chỉ nêu một thí dụ về việc điều trị vết thương.

Về điều trị vết thương, tác giả đã trọng dụng đại hoàng và vôi, trầu. Đại hoàng có tác dụng làm tan máu ứ, bớt sưng tấy, với sát trùng, cầm máu lành vết thương. Theo khoa học ngày nay, đại hoàng còn chống độc do tụ cầu trùng ngoài da, nước vôi là một chất dễ kiếm cũng được dùng chữa bỏng trong Tây y, trầu không có tác dụng sát trùng rất mạnh và chống nhiễm trùng ngoài da. Điều này cũng nói lên giá trị sáng tạo của tổ tiên ta trong y dược học dân tộc.

Tính dân tộc đại chúng cũng được biểu hiện rất rõ nét trong thuốc của Hoàng Đôn Hòa, cụ thể qua mấy bài thuốc chữa súc vật sau đây:

- Chữa voi ngựa trâu bò bị dịch mùa hè truyền nhiễm mắt đỏ, họng đau không nuốt được, dùng lá cây cốt khí tím (Sơn thanh), cỏ chi thiên, sắn dây, gừng gió, liều lượng bằng nhau, giã thật nhỏ, hòa với nước cho uống.

- Chữa trâu bò nghẹt tắc họng bột bồ kết thổi vào lỗ mũi thì khỏi,

- Chữa trâu bò bị đau bụng, đi ngoài, dùng củ nâu, lá đậu ván, lá duối, liều lượng bằng nhau, giã nhỏ hòa vào nước cho uống v.V...

Những phương thuốc này toàn là những cỏ cây sẵn có. Mọi người nông dân hay quân sĩ đều có thể tìm thấy để chữa cho gia súc, thú vật tiện lợi, giúp cho việc chăn nuôi phát triển.

Về phương pháp dưỡng sinh, Hoạt nhân toát yếu lại đặc biệt chú trọng việc giữ gìn sức khỏe để sống lâu. Hoàng Đôn Hòa đã áp dụng các phép khí công. Ông đã đưa ra thuyết Thanh tâm tiết dục, kèm theo phương pháp tĩnh công hô hấp và ông hướng dẫn phương pháp dưỡng sinh gồm 4 điều chính sau đây:

Một là luyện khí, hít thở sâu và đều, để đưa thêm nguồn sống vào cơ thể, thay đổi khí đục, tiếp thu khí mới, và làm cho mạch máu chạy đều, với quan niệm sự sống của người ta lấy khí làm gốc, lấy hơi thở làm đầu. Khí là cơ sở của mệnh.

Hai là giữ cho tinh thần được yên lặng. Vậy cần tập trung tinh thần, không nghĩ ngợi gì, dẹp hết mọi mối tâm tư suy nghĩ trong khi luyện thở. Đồng thời cần bảo đảm cho giấc ngủ được đầy đủ và điều hòa, để lấy lại sức và làm cho tinh thần được yên định.

Ba là cần vận động thân thể cho khí huyết lưu thông điều hòa, nếu ngưng trệ thì sinh bệnh, ví như “nước chảy thì không bẩn, ngõng cửa quay thì không mọt”. Do đó, thân thể phải làm việc để giúp cho sự phân hóa bên trong được điều hòa, và tinh thần khoan khoái, gân xương vững chắc.

Bốn là cần giữ cho trong lòng thanh tĩnh, hạn chế các dục vọng ham muốn thái quá về tiền tài, danh lợi, nữ sắc làm xúc động tinh thần, và đặc biệt chú trọng việc tiết dục để cho tinh khí khỏi hao tán, thì tinh thần được vững mạnh, tránh được bệnh tật và có thể kéo dài tuổi thọ.

Bình sinh, Hoàng Đôn Hòa không màng danh lợi. Ông đã suốt đời cùng phu nhân là Phương Dung công chúa, làm thuốc chữa bệnh, cứu giúp nhân dân. Ông đã phục vụ nhân dân trên 40 năm, chưa kể thời gian trước đó và sau khi ông về hưu cho đến khi mất. Việc ông xin về nghỉ, không ở lại phục vụ trong cung, có lẽ là ông không thích làm thầy thuốc của nhà vua, mà chỉ muốn dành cả đời mình cho việc phục vụ nhân dân lao động.

Quan điểm y học của Hoàng Đôn Hòa là phục vụ đại chúng với dược liệu sẵn có và thuốc hoàn tán đơn giản tiện dùng. Ông rất coi trọng và đã bổ sung cho nền dược học dân tộc một số vị thuốc Nam dễ kiếm và có nhiều công hiệu. Ông còn chỉ dẫn cụ thể phương pháp dưỡng sinh gồm các phép khí công vận động và thuyết thanh tâm tiết dục để tăng sức khỏe, phòng bệnh và sống lâu.

Nhờ tác dụng độc đáo và cách dùng giản tiện, một số phương thuốc hiệu nghiệm đã được cải tiến gia giảm qua nhiều đời và trở thành những phương thuốc hay của dân tộc.

Sự nghiệp của Hoàng Đôn Hòa đã có tác dụng trọng đại trong việc góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân ta từ bao đời nay. Trước tác Hoạt nhân toát yếu của ông là một cống hiến to lớn cho nền y dược học lâu đời của nước ta./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Tô Hiến Thành – nhà chính trị tài năng
    Chính sử chép rằng Tô Hiến Thành sinh ngày 22 tháng giêng và mất năm Kỷ Hợi 1179, đời vua Lý Cao Tông, nhưng không ghi rõ năm sinh. Lịch sử có điều khiếm khuyết như vậy (Tháng 7 năm 1997 tại cuộc hội thảo lớn về thân thế, sự nghiệp của Tô Hiến Thành, có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, đại diện các nơi thờ cúng cụ Tô, đại diện các chi hệ dòng họ cụ Tô tham dự. Hội nghị đã tham khảo nhiều bản thần tích, tộc phả và đã tìm ra ngày tháng năm sinh Tô Hiến Thành là ngày 22 tháng giêng năm Nhâm Ngọ 1102, triều Lý Th
(0) Bình luận
  • Đền Kim Liên - Trấn Nam: “Đóa sen vàng” của Thăng Long Tứ Trấn
    Sáng 02/5 (ngày 16/3 năm Bính Ngọ), trong không khí trang nghiêm và thành kính, Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống di tích Quốc gia đặc biệt đền Kim Liên. Đây không chỉ là một nghi lễ tâm linh, mà còn là minh chứng của lòng tri ân, là gạch nối giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại rạng rỡ.
  • Đền Kim Liên - Nơi linh khí hội tụ và hồn cốt Thăng Long tỏa sáng
    Trong cái nắng đầu hạ dịu ngọt của những ngày đầu tháng Năm năm 2026, khi dòng người tấp nập đổ về những di tích cổ kính của Thủ đô, có một khoảng trời bình yên nhưng rộn rã đang mở ra tại phía Nam kinh thành xưa. Đó là đền Kim Liên – một trong “Thăng Long Tứ Trấn” lừng lẫy, nơi đang diễn ra ngày hội văn hóa nghệ thuật đặc sắc vào ngày 01/5 (tức ngày15/3 âm lịch), khởi đầu cho chuỗi hành trình tâm linh tôn vinh Đức Cao Sơn Đại Vương.
  • Triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số”
    Qua ứng dụng công nghệ số, triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số” đã mang đến cho công chúng một cách tiếp cận di sản trực quan, sinh động và gần gũi hơn.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
  • Lễ hội Bình Đà 2026: Trang nghiêm nghi lễ Quốc Tổ, lan tỏa hào khí cội nguồn dân tộc
    Sáng 22/4 (tức ngày mùng 6 tháng 3 năm Bính Ngọ), tại Đền Nội, Bình Đà, xã Bình Minh, thành phố Hà Nội, Lễ rước, tế và dâng hương Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đã được tổ chức trang nghiêm trong khuôn khổ Lễ hội Bình Đà 2026, thu hút đông đảo nhân dân địa phương, du khách thập phương cùng cộng đồng người Việt hướng về cội nguồn.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Những ngày tháng Tư, khi tiết trời Hà Nội bước vào thời khắc đẹp nhất của mùa xuân muộn, vùng đất Bình Đà lại rộn ràng cờ hội, đón người dân và du khách thập phương về dự Lễ hội Bình Đà 2026. Diễn ra từ ngày 19 đến 22/4 tại xã Bình Minh, đây là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của Thủ đô, gắn với tín ngưỡng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân - vị thủy tổ trong huyền sử dân tộc Việt Nam.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tái hiện chân dung phi công Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử
    Nhân kỉ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026), Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc ấn phẩm mới “Vũ Xuân Thiều và chuyến bay bất tử”. Cuốn sách nằm trong bộ “Người lính phi công kể chuyện” của Đại tá Nguyễn Công Huy, gồm ba cuốn, tái hiện những câu chuyện lịch sử về Không quân Nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
  • Vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển văn hóa Việt Nam
    TS. Phan Thành Nhâm – Khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học kiến trúc Hà Nội chia sẻ, tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, vai trò kiến tạo của Nhà nước được xác định lại như năng lực tạo lập thể chế, kiến tạo tầm nhìn, dẫn dắt đầu tư, điều phối đa chủ thể, mở rộng năng lực văn hóa của con người và tích hợp văn hóa vào toàn bộ tiến trình phát triển quốc gia.
  • Triển lãm ảnh tư liệu “Âm vang ngày mới” tại Hoàng Thành Thăng Long
    Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội tổ chức triển lãm ảnh tư liệu với chủ đề “Âm vang ngày mới”.
  • Hơn 1 triệu lượt khách du lịch tham quan di sản Huế dịp nghỉ lễ
    Trong kỳ nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4 - 1/5, lượng khách đến TP Huế tiếp tục tăng mạnh với “Biển người” đổ về tham quan các di tích, trải nghiệm văn hóa và nghỉ dưỡng đã tạo nên không khí sôi động hiếm thấy. Trong đó, khách tham quan di sản Huế tăng cao và lập kỷ lục mới về doanh thu bán vé.
  • Thủ đô Hà Nội đã đón khoảng 1,35 triệu lượt khách trong dịp lễ 30/4, 1/5
    Trong dịp lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 - Ngày Quốc tế Lao động 1/5 (từ ngày 25/4/2026 đến hết ngày 03/5/2026), hoạt động du lịch tại Hà Nội đã diễn ra hết sức sôi động, với nhiều sản phẩm và dịch vụ được tổ chức tại các điểm đến cả nội và ngoại thành, thu hút đông đảo người dân và du khách.
Đừng bỏ lỡ
  • Điểm hẹn âm nhạc giữa lòng Hà Nội vào ngày 3/5
    Trong những ngày nghỉ lễ 30/4 – 1/5, khi nhịp sống tạm chậm lại, nhu cầu tìm kiếm những không gian thư giãn, giải trí lành mạnh của người dân và du khách tại Thủ đô tăng lên rõ rệt. Giữa nhiều lựa chọn, “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục là một điểm hẹn lý tưởng, mang đến một không gian văn hóa nhẹ nhàng nhưng không kém phần hấp dẫn.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hành trình bất ngờ
    Tôi có cuốn sổ được mua từ hồi sinh viên và vẫn đem theo bên mình. Cuốn sổ có bìa màu da đã cũ, tuy không dày lắm nhưng tôi ghi mãi vẫn không hết. Nó cứ thế lăn lóc theo tôi từ lúc đi thực tập, thử việc cho đến khi ra trường đi làm. Tôi chỉ có thói quen ghi chứ chẳng xem lại bao giờ.
  • Vang khúc ca khải hoàn: Nghệ thuật kết nối lịch sử
    Hòa trong không khí thiêng liêng của những ngày lễ lớn của dân tộc, tối 30/4, Nhà hát Cải lương Hà Nội đã giới thiệu đến bà con Nhân dân xã Nam Phù một chương trình ca múa nhạc đặc biệt.
  • Góp phần định hình tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam
    PGS. TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đánh giá, Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết của Quốc hội, ngày 24/4/2026) là một bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết của Quốc hội góp phần định hình một tư duy phát triển mới đối với văn hóa Việt Nam.
  • Du khách ngược dòng thời gian, trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung”
    Nhiều du khách vào Đại nội Huế trải nghiệm yến tiệc vàng son “Dạ yến Hoàng cung” tại Nhà hát Duyệt Thị Đường.
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
Hoàng Đôn Hòa – một thầy thuốc lớn đời Lê
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO