Cố nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ: “Tôi vẫn còn… xấu hổ”

arttime| 30/06/2022 12:18

Vâng, đúng thế. Sinh thời, Nguyễn Tài Tuệ (1936-2022) luôn nói như vậy mỗi khi có người hỏi ông về “phi vụ” cho ra đời một bài hát… nổi tiếng Lê Quang Vịnh - người con quang vinh

“Nổi tiếng” không chỉ vì bài hát hay, vừa phát trên làn sóng phát thanh đã nhanh chóng lan truyền khắp bàn dân thiên hạ (hồi năm 1962-1963, bài hát được nhiều người ưa thích); mà còn vì nhạc sĩ đã lầm to, đổ bao công sức nói về một người anh hùng đã ngã xuống, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng trong khi sự thực người ấy vẫn còn sống cho mãi tận hôm nay.

Xóa tan nhiều huyền thoại và truyền thuyết quanh Chopin

Cố nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ: “Tôi vẫn còn… xấu hổ” - 1

Cố nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ (Ảnh: Báo Người lao động)

Đồng chí Lê Quang Vịnh - nguyên Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ - khi ấy là một nhà giáo yêu nước đã lãnh đạo phong trào học sinh đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm, bị bắt và kết án tử hình. Tôi hỏi Nguyễn Tài Tuệ: Đầu đuôi xuôi ngược thế nào mà lại mắc sai lầm… chết người như vậy? Giá bảo trót sáng tác nhầm nhưng bài hát bình thường bị người ta quên lãng, chẳng ai để ý thì không sao. Đằng này thật “chẳng may”, bài hát lại quá hay, nổi tiếng nên mới… phiền! Nguyễn Tài Tuệ cười rũ ra, sảng khoái và thú vị:

- Chuyện là thế này, chắc ông còn nhớ dạo 1962-1963, phong trào học sinh sinh viên Sài Gòn đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm, đòi tự do dân chủ rất mạnh. Giáo sư Lê Quang Vịnh cùng Lê Hồng Tư là những người lãnh đạo phong trào bị chính quyền Việt Nam Cộng hoà bắt rồi kết án tử hình. Sự kiện này hồi đó đăng báo, ai cũng rõ.

Một lần, mình đi sinh hoạt gì đó tại Câu lạc bộ Thống nhất ở Bồ Hồ, gặp Trần Kiết Tường. Anh ấy nói với mình: “Tớ nghe các anh ở ban Thống nhất Trung ương nói Lê Quanh Vịnh bị chúng nó xử bắn ở Côn Đảo rồi”. Trần Kiết Tường khẳng định như đinh đóng cột, nguồn tin lại từ Ban Thống nhất Trung ương, sao có thể nghi ngờ được. Thế là mình về sáng tác ngay bài hát với tất cả tấm lòng mến mộ, cảm phục người trí thức yêu nước cộng với sự cảm thông sâu sắc nỗi thống khổ của đồng bào đang còn sống dưới chế độ thống trị của bè lũ Mỹ - Diệm. Khi ấy, rất chân thành, mình viết: “Bao vinh quang chiến công anh tôi ca, khi tin đau xót xa trong lòng ta…”

- Thế sau đó bao lâu, anh mới biết được sự thật là Lê Quang Vịnh còn sống và rồi thế nào?

- Chỉ một thời gian ngắn, khi bài hát đã được vang lên ở khắp nơi. Hoá ra từ án tử hình, anh Vịnh được giảm xuống chung thân và bị đày ra Côn Đảo thụ án. Sau sự kiện Ngô Đình Diệm bị đảo chính ngày 3/11/1963 và bị giết, nhóm lên thay đã phóng thích các tù nhân để lấy lòng nhân dân. Anh Vịnh được trả tự do. Rất tiếc là khi tôi biết rõ sự thật thì bài hát đã ra đời và “tai hại” là đã lan truyền, được nhiều người thuộc.

Nguyễn Tài Tụê là nhạc sĩ, nghệ sĩ 100%. Nhưng ai mới tiếp xúc với ông sẽ ít thấy phần “nghệ” mà thay vì là chất nhà giáo, chất “ông đồ” nhiều hơn. Phút đầu và ngay cả khi quen biết, nhưng chưa thân thiết, ông thường để cho đối tựơng tiếp xúc có cảm giác lạnh lùng, khô khan, không cởi mở, có phần khó tính, xét nét. Ông chào hỏi, giao đãi luôn vừa đủ, không thừa, không thiếu. Ai hỏi gì, ông trả lời nấy, hiếm khi thấy ông chủ động gợi chuyện.

Cố nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ: “Tôi vẫn còn… xấu hổ” - 2

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ bên cây đàn lúc sinh thời (Ảnh: Vietnam+)

Tôi nhớ lần đầu tiên trong đời tiếp xúc với ông, để cho không khí thêm hào hứng, tôi bày tỏ sự thích thú đặc biệt đối với những bài hát của ông mà tôi cho là bất hủ - trên cả mức xuất sắc: Lời ca gửi noọng, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó; Xa khơi; Xôn xao bến nước. Cứ tưởng ông phải sôi nổi hơn, nhưng chẳng hề giống các tác giả khác, mỗi khi được tán thưởng tác phẩm dễ bốc đồng, ông vẫn giữ vẻ bình thản và đáp chuyện khiến tôi ít nhiều mất hứng: “Có gì đâu anh, xưa, cũ lắm rồi. Đã lâu lắm tôi có gì đáng kể nữa đâu”.

Mãi tới gần đây, khi thực hiện một tuyển tập ca khúc, tôi gọi điện đến Nguyễn Tài Tuệ ngỏ ý muốn in một số bài của ông. Không sẵn sàng đáp ứng, nhiệt tình gửi bài như nhiều người khác, ông nói qua điện thoại: “Xin cảm ơn! Nhưng bài tôi chẳng có gì đặc biệt đâu. Anh nên tìm bài của các nhạc sĩ khác có lẽ hay hơn”. Vậy là ngay câu đầu tiên ông đã từ chối. Bài đã có sẵn, chỉ cần phô-tô gửi in tuyển tập, vừa có chút tiền uống nước, vừa một lần nữa lưu danh, chẳng thấy ai từ chối, chỉ có ông.

Nhưng đó là chưa thân. Còn khi đã thì ông vui tếu, cởi mở, ngồi hàn huyên không tiếc thời gian mặc dù lúc nào ông cũng có vô số việc phải làm, hý hoáy, cặm cụi suốt ngày trên các khuông nhạc. Tôi có may mắn là một trong số rất hiếm người được ông coi là thân thiết, là bạn vong niên (ông hơn tôi 10 tuổi), sau dăm lần lui tới nhau đàm đạo chuyện nhạc, chuyện đời, cùng ngồi vào bàn chén chú chén anh. Chơi với ông rất thú vị vì luôn xôm chuyện, tỏ rõ một người thông thái, hiểu biết nhiều lĩnh vực.

Không giống nhiều người có tính xấu là chỉ thích nói mà không thích nghe, Nguyễn Tài Tuệ rất chịu nghe người khác nói. Ông có thể nói vài lời, rồi ngồi im nghe người khác rất lâu. Và nếu kẻ ấy hấp dẫn được ông - nghĩa là hiểu biết nhiều, đưa đến cho ông nhiều điều thú vị thì ông có cách nghe khiến đối tượng rất hứng thú. Ông lim dim mắt lại, đầu gật gù cứ như là nghe nhạc vậy. Điểm gì tâm đắc thì cười phá lên, nói oang oang khác thường mặc dù ông vốn là người có phong độ từ tốn, nhỏ nhẹ.

Gặp ông rất dễ, hầu như đến với ông bao giờ cũng được ông khoản đãi một thứ ăn uống thú vị nào đó. Ông không phải là người biết uống rượu, nhưng lúc nào trong phòng cũng có rượu Tây rất ngon, loại phải vài triệu một chai. Và thú vị hơn cả là luôn có hai chiếc bình, một đựng bánh đậu xanh Hải Dương, một đựng chè lam. Có khi còn thêm chiếc bình thứ ba đựng lạc rang tẩm húng lìu, vị mặn.

Tôi cứ tò muốn biết bàn tay nào tạo nên ba cái lọ kia, chắc chắn phải là một “cô Tấm” nào đó, chứ không thể do ông tự tạo. Phu nhân, con gái, con dâu hay là… Muốn hỏi ông lắm, nhưng lúc ông đến nhà tôi chơi thì lại quên, còn khi ở nhà ông thì không thể vì nơi đó “tai vách mạch rừng”, ngộ nhỡ một bàn tay tiên ở trên… giời thì “phiền hà” cho ông. Tôi cứ nhìn chằm chằm vào mấy chiếc bình rồi hóm hỉnh nhìn vào mắt ông như thể muốn ông phải bật ra sự thật. Ông chỉ tủm tỉm cười với câu nói lấp lửng: “Cứ xơi đi mà, chỉ biết là hết lại có, vơi lại đầy…”.

Điều khá đặc biệt là Nguyễn Tài Tuệ luôn phủ nhận mình. Tôi cứ tụng ca ông điều gì là ông lại: “Ôi dào, tầm thường lắm, bọn mình ở xứ mù cứ thấy thằng chột là tôn lên thôi.” Nhưng không chỉ nói, mà là làm. Có lần, Hội Nhạc sĩ Việt Nam bỏ tiền làm an-bum ca khúc cho tất cả các hội viên có sáng tác. Tiêu chuẩn mỗi người được làm một băng cát-sét 12 bài kèm in tập nhạc 12 bài ấy. Mỗi bài các tác giả còn được lĩnh một khoản nhuận bút tương đối khá. Vậy mà Nguyễn Tài Tuệ chỉ cho thu băng và in 10 bài. Tự ông “vứt đi” hai bài.

Người ta ngạc nhiên, ông thản nhiên đáp: “Vì chỉ có 10 bài là chấp nhận được, còn hai bài dở chứ sao?”. Thế là đương nhiên ông bị hụt đi một khoản tiền đáng kể. Trong khi đó, không ít tác giả thuộc hàng vô danh sẵn sàng bỏ ra cả chục triệu để in tập nhạc dày cộp toàn những bài lạ hoắc. Hai bài “quẳng đi” kia đâu có xoàng.

Lại một điều thú vị đột xuất khác: Ngay cả tập 10 bài kia, cách đây vài tháng tôi có xin một tập để làm tư liệu, khi cần sẽ đưa vào các tuyển tập theo từng chủ đề. Trước khi trao cho tôi, ông cầm bút gạch bỏ vài bài trong đó và nói: “Bỏ mấy bài này, anh chớ có in ấn lại ở đâu, vì dở lắm, bây giờ xem mới thấy dở”.

Chưa hết, ngay cả bài Tiếng hát giữa rừng Pác Bó rất nhiều người yêu thích, ông cũng sửa lại một chỗ: Cho hát ngắn bớt một phách ở nốt nhạc ứng với tiếng “Tám” trong câu “Đất rung tiếng ca nở hoa tháng Tám”. Bàn dân thiên hạ lâu nay đã quen hát như cũ rồi, bây giờ ông còn sửa lại. Tuy sửa như ông là cực kỳ chí lý nhưng dẫu sao cũng có vẻ… thừa.

Dẫu rất nể phục cái sự khó tính trong lao động nghệ thuật của ông, nhưng tôi vẫn nói: “Vẫn biết sửa lại như vậy là hay hơn rồi, nhưng ai cũng chấp nhận cả, anh đính chính làm chi cho rắc rối”. Không ngờ ông nói luôn - bằng cái giọng xứ Nghệ pha chất Bắc nghe trọ trẹ khá ấn tượng: “Không hiểu sao lúc sáng tác mình lại ngớ ngẩn cho ngân những hai phách rưỡi như thế, nghe rề rà, sốt ruột. Phải sửa! Phải sửa! Sinh con ra dẫu có trưởng thành, nhưng thấy nó còn dở, làm cha mẹ vẫn phải tiếp tục uốn nắn…” .

Nguyễn Tài Tuệ nổi tiếng từ rất sớm. Với Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (1959), ông đã được công chúng cả nước biết tên khi mới 23 tuổi. Tiếp đến là Xa khơi (1962), tài năng của ông càng được khẳng định. Nếu cho tôi được quyền tìm một bài hát hay nhất về biển, tôi sẽ chọn Xa khơi, mặc dù cả trăm bài khác cũng rất đáng nghe. Những Lời ca gửi noọng, Suối Mường Hum còn chảy mãi,  Xôn xao bến nước…đều nổi tiếng, nhắc đến ai cũng nhớ cả. Nhưng chỉ cần 2 bài Tiếng hát giữa rừng Pác Bó và Xa khơi cũng đủ để xếp Nguyễn Tài Tuệ ngồi ở mâm các nhạc sĩ tài danh nhất Việt Nam.

Con người tưởng như nổi tiếng sớm, cả đời luôn được sống trong vầng hào quang của tài năng như ông hẳn là luôn suôn sẻ, xuôi chèo mát mái. Nhưng không, ông cũng nếm trải đủ mọi cay đắng của cuộc đời: Không may có người cha bị quy oan là địa chủ trong cải cách ruộng đất. Từ cái lý lịch tối sầm đó, ông bị “mệt” mất một thời gian, hết lang thang ở vùng Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, lại nhiều năm về làm phong trào ở vùng mỏ Quảng Ninh.

May sao sau nhiều năm gian truân làm việc tốt ở những nơi kia, một vị lãnh đạo có uy tín ở Bộ Văn hoá khi ấy đề nghị cho Nguyễn Tài Tuệ đi học âm nhạc dài hạn ở nước ngoài. Nhưng những năm tháng ấy, sang Liên Xô, Đông Âu thì “xét lại”, sang Trung Quốc thì đang “đại cách mạng văn hoá” hết sức lộn xộn. Chỉ còn Triều Tiên. Thế là ông được sang học chính quy 5 năm ở Nhạc viện Bình Nhưỡng. Tốt nghiệp bằng đỏ (1966-1972), về nước, ông làm việc ở Đoàn Ca múa trung ương cho đến lúc về hưu (1996).

Cả đời công cán của Nguyễn Tài Tuệ chỉ là một nhạc sĩ thuần tuý, trừ mấy năm dưới thời giám đốc Nguyễn Văn Thương, ông được cắt cử làm Trưởng phòng Nghệ thuật. Nhưng rồi giữa những làn bom đạn triền miên của các thế lực - không phải ngoài chiến trường, mà giữa một đoàn ca múa - ông đành “xa chạy cao bay” mà rời khỏi một tí tẹo chức vụ nhỏ nhoi cho yên thân, để sáng tác. Và cái hiện thực của một đời “ngồi phệt xuống đất” của ông đã hiến tặng cho đời một Nguyễn Tài Tuệ thật hiếm hoi.

Tôi hỏi Nguyễn Tài Tuệ:

- Trong đời anh, rủi ro nhất là gì?

- Có thể là không may nhưng cũng không đáng gọi là rủi ro. Nhiều nhưng quên rồi.

- Còn may mắn nhất?

- Được sang Triều Tiên học, vớ được bà vợ đây.

- Có gì phải ân hận, xấu hổ không?

- Ân hận thì không, còn “xấu hổ” thì tôi đã nói rồi: Phi vụ làm ra bài Lê Quang Vịnh- người con quang vinh.

Lại cười rũ rượi, ha hả, khà khà, nói oang oang, rồi cùng hát lại mấy câu trong cái bài “xấu hổ” ấy…

(0) Bình luận
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
  • Nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Một nhà văn đúng nghĩa phải đồng thời là một nhà văn hóa”
    Nhà văn Hoàng Quốc Hải sinh năm 1938 tại Hải Dương là một trong những cây bút tên tuổi của văn học Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử. Trước khi chuyên tâm sáng tác, ông từng là phóng viên báo Vùng mỏ (nay là báo Quảng Ninh), rồi làm biên tập viên tập Sáng tác Hà Nội - tiền thân của tạp chí Người Hà Nội. Với sự nghiệp trải dài hơn nửa thế kỷ, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm qua hai bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Những tác phẩm này không chỉ tái hiện chân thực lịch sử dân tộc mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc của ông đối với Hà Nội - mảnh đất nghìn năm văn hiến. Hãy cùng lắng nghe nhà văn chia sẻ về hành trình sáng tác, những trăn trở về đề tài lịch sử và lời nhắn gửi tâm huyết đến thế hệ trẻ yêu nghề viết.
  • Nhà văn Tô Hoài: Người “thuyền trưởng” tâm huyết và bản lĩnh
    Trong chặng đường 40 năm của Tạp chí Người Hà Nội, dấu ấn của nhà văn Tô Hoài - Tổng Biên tập đầu tiên vẫn luôn hiện hữu sâu đậm. Không chỉ là người đặt nền móng, định hướng phát triển cho tờ báo, ông còn là người truyền cảm hứng về một cách làm báo cẩn trọng, tinh tế, nhân văn và tràn đầy trách nhiệm.
  • Người Hà Nội trong tôi
    Suốt hành trình 40 năm xây dựng và phát triển, Người Hà Nội luôn nhận được sự đồng hành, đóng góp các cây bút thuộc nhiều thế hệ, trong và ngoài nước, từ chuyên nghiệp đến không chuyên. Qua mỗi bài viết, họ đã mang đến những góc nhìn, cảm xúc mới mẻ góp phần gìn giữ bản sắc riêng của tạp chí. Dưới đây là những chia sẻ chân thành của một số cộng tác viên về kỷ niệm và sự gắn bó sâu sắc mà họ dành cho tạp chí Người Hà Nội trong suốt những năm qua.
  • Vài kỉ niệm với tập “Sáng tác Hà Nội”
    Chi hội Văn nghệ Hà Nội (sau là Hội Văn nghệ Hà Nội - tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội) được thành lập vào tháng 10 năm 1966.
  • Người Hà Nội - 40 năm đồng hành với văn nghệ sĩ Thủ đô
    Tạp chí Người Hà Nội tiền thân là ấn phẩm Sáng tác Hà Nội do Chi hội Văn nghệ Hà Nội (nay là Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội) phát hành từ năm 1967. Ngay từ thuở ban đầu, ấn phẩm là một diễn đàn nhỏ nhưng có sức sống mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành nơi quy tụ các sáng tác của văn nghệ sĩ Hà Nội.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026: Góp phần định hình một sản phẩm văn hóa mới của Thủ đô
    Tối 7/8, tại Hoàng thành Thăng Long - Di sản Văn hóa Thế giới, UBND Thành phố Hà Nội tổ chức Lễ khai mạc Festival Võ thuật Quốc tế Hà Nội 2026 với chủ đề "Hào khí Thăng Long - Tinh hoa võ Việt". Lần đầu tiên được tổ chức, Festival đánh dấu bước đi mới của Thủ đô trong việc xây dựng một sự kiện văn hóa - thể thao mang tầm quốc tế, góp phần tôn vinh truyền thống thượng võ dân tộc, quảng bá hình ảnh Hà Nội và thúc đẩy giao lưu văn hóa, thể thao với bạn bè thế giới.
  • Phát triển kinh tế di sản: Thành tựu, động lực tăng trưởng của Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Một trong những điểm mới, thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đó là tiếp tục quan điểm “bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn kết với phát triển kinh tế - xã hội và du lịch”; đồng thời, nâng lên một tầm cao mới: “phát triển kinh tế di sản”.
  • Tự hào lễ thượng cờ và hạ cờ tại Quảng trường Ba Đình lịch sử
    Tôi sinh ra và lớn lên ở miền núi nên từ khi còn là một đứa trẻ cho đến lúc trưởng thành ký ức trong tôi về trái tim của cả nước, về một Thủ đô ngàn năm văn hiến luôn là những kỷ niệm đẹp lấp lánh như những viên ngọc sáng ngời đầy lung linh huyền ảo, để tôi làm hành trang kể cho lớp lớp học trò hay các con của mình với những câu chuyện chưa bao giờ có trang cuối cùng về văn hóa, con người hay bề dày lịch sử của những nhân chứng của một thời bom đạn chiến tranh nơi mảnh đất hoa lệ ấy.
  • “Nâng cấp” quy định thử nghiệm có kiểm soát, Hà Nội gương mẫu thực hiện quyết sách của Trung ương
    Để giải các bài toán lớn của Hà Nội về giao thông, môi trường, y tế, giáo dục, quản trị đô thị, dữ liệu, dịch vụ công, kinh tế số và phát triển thị trường…, thực hiện Luật Thủ đô 2026, HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII đã ban hành Nghị quyết số 26/2026/NQ-HĐND về quy định thử nghiệm có kiểm soát tại thành phố Hà Nội.
Đừng bỏ lỡ
  • “Bến sông Trăng” giành giải Nhất thiết kế cầu Cồn Hến, kiến trúc mang đậm bản sắc Huế
    “Bến sông Trăng” với ý tưởng khai thác hình ảnh thơ mộng của sông Hương, ánh trăng, thuyền và hoa đăng tạo nên chuỗi biểu tượng kiến trúc mang đậm bản sắc Huế đạt giải Nhất thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến.
  • Làng nghề hơn 600 năm tuổi, lưu giữ sản phẩm mây tre đan truyền thống ở Cố đô Huế thu hút du khách
    Không chỉ đa dạng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà làng nghề mây tre đan Bao La (TP Huế) đã tìm ra hướng mới là hình thành địa chỉ tham quan trải nghiệm sản phẩm truyền thống.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
  • Phường Phú Thượng: Sôi nổi hội thi văn nghệ thiếu nhi hè năm 2026
    Tối 7/8, Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao phường Phú Thượng (Hà Nội) tổ chức Hội thi văn nghệ thiếu nhi hè năm 2026, với sự tham gia của các đội văn nghệ đến từ 16 tổ dân phố trên địa bàn.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Đối diện
    Cháu mang bài về, nghiên cứu kĩ rồi đem lại cho chú. Bài viết này chú thấy chưa hợp lí. Nếu như để công an điều tra vào cuộc, chú e… chúng ta phải làm nhiều bước nữa đấy. Sẵn sàng thì tiếp tục nhé! Chú Minh cầm tập bài viết đưa lại cho Thy. Cô ngại ngùng đỡ lấy. Đây là lần thứ ba, loạt bài phóng sự của mình bị Tổng biên tập kêu lên để trả lại...
  • Thực hiện Luật Thủ đô 2026, Hà Nội tăng cường quản lý nhà nước về dịch vụ lữ hành
    Triển khai Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, các quy định của Luật Du lịch và văn bản hướng dẫn liên quan trong hoạt động kinh doanh du dịch; Sở Du lịch Hà Nội đề nghị các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành trên địa bàn thành phố thực hiện một số nội dung quan trọng. Qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
Cố nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ: “Tôi vẫn còn… xấu hổ”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO