Văn hóa – Di sản

Trần Nguyên Hãn – người anh hùng tài đức

Lưu Minh Trị - Nguyễn Hữu Sơn 04/12/2023 10:29

Trần Nguyên Hãn (?-1429) sinh ra ở làng Sơn Đông, phủ Vĩnh Tường, nay là xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; là con ông Trần Án và bà Lê Thị Hoàn, là cháu nội của Tư đồ Trần Nguyên Đán - nhà thơ, nhà thiên văn và lịch pháp nổi tiếng cuối thời Trần.

Thuở nhỏ, Trần Nguyên Hãn rất thông minh, học đâu nhớ đấy và ngày càng tỏ rõ là người có chí lớn. Sinh ra trong hoàn cảnh rất khó khăn, Trần Nguyên Hãn được mẹ nuôi nấng và dạy dỗ nên người. Bà đã rau cháo nuôi con ăn học, mua binh thư cho con nghiền ngẫm; bà khuyên con chịu khó học hành, rèn văn, luyện tập võ nghệ để giúp ích cho đời.

tran-nguyen-han.jpg
Tượng đài danh tướng Trần Nguyên Hãn.

Trần Nguyên Hãn lớn lên trong cảnh quân Minh đã chiếm được nước ta, chúng thi nhau cướp bóc, giết hại dân lành. Thấy con trưởng thành và có ý chí, bà Lê Thị Hoàn đã trao cho con thanh kiếm gia truyền của cụ bảy đời là Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải.

Trần Nguyên Hãn đã bí mật chiêu tập trai tráng trong vùng Sơn Đông, lấy Rừng Thần làm nơi luyện tập để chờ thời cơ đánh giặc, cứu nước. Trong bối cảnh nhà Trần suy tàn, Trần Nguyên Hãn đã suy nghĩ kỹ rằng, con đường ông chọn không phải là con đường theo nhà Hậu Trần xướng nghĩa, mà là con đường chống giặc vì dân vì nước, vì phúc lành của muôn họ. Trần Nguyên Hãn được dân chúng che chở, đêm đêm chong đèn đọc binh thư, ngày quẩy dầu đi khắp vùng dò xét nội tình giặc, khích lệ lòng ái quốc trong dân chúng, ngấm ngầm thu phục nhân tâm, mưu việc lớn.

Năm 1415, Trần Nguyên Hãn đã dẫn đầu một đội quân, hạ được thành Tam Giang, làm cho quân Minh phải kinh hồn bạt vía. Nghĩa quân Trần Nguyên Hãn đã làm chủ cả vùng Bạch Hạc (Vĩnh Phúc).

Gần tết năm Mậu Tuất (1418), trong lúc Lê Lợi, Nguyễn Trãi và trên ra chục võ tướng - khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, Lê Lợi có dưới trứng 35 võ quan và một số quan văn - đang dốc sức cho ngày khởi sự, thì một tin vui chợt đến: danh tướng Trần Nguyên Hãn, người đã từng làm cho quân Minh nghe oai danh kinh hồn, vừa đem gần hai trăm quân cùng cả trăm ngựa chiến từ vùng Bạch Hạc về tụ nghĩa. Lê Lợi và các tướng quân ra đón Trần Nguyên Hãn và nghĩa quân Rừng Thần. Ngày hôm sau, Lê Lợi đón nhận thanh kiếm quý gia truyền của Trần Nguyên Hãn dâng lên tưởng như được đón nhận kiếm từ tay Tướng quốc Thái úy Trần Quang Khải. Tin vui và câu chuyện cảm động đầy ý nghĩa ấy như mở cờ cho lòng nao nức xuất trận của nghĩa quân Lam Sơn.

Ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (7-2-1418), trong cảnh tết tung bừng mùa xuân mới, Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương, truyền hịch đi các nơi kêu gọi dân chúng nổi dậy hưởng ứng. Trần Nguyên Hãn, con người nặng lòng yêu nước thương dân, có chí lớn, có tầm nhìn xa trông rộng, viên dũng tướng giỏi thao lược và táo tợn, được Lê Lợi phong làm Tư đồ, đứng đầu hàng quan võ. Gặp được người minh chủ có chí lớn trùm thiên hạ, có được bên cạnh những người đồng sự văn võ kiêm toàn, có tài kinh bang tế thế như Nguyễn Trãi, tài năng của Trần Nguyên Hãn như được nhân lên gấp bội. Ở cương vị của mình, kể từ ngày dấy binh, Trần Nguyên Hãn đã dốc lòng giúp Lê Lợi bàn định mưu lược. Và nơi nào gặp khó khăn, chỗ nào giặc tập trung liều chết chống lại, đặc biệt là những trận lớn phải giành cho kỳ thắng, Lê Lợi đều phái Trần Nguyên Hãn đích thân đem quân đi đánh.

Tháng 7 năm Ất Tỵ (1425), vâng lệnh Bình Định vương, Trần Nguyên Hãn cùng Thượng tướng Lê Lỗ, Chấp lệnh Lê Đa Bồ đem hơn một ngàn quân, theo hướng núi tiến vào Tân Bình, Thuận Hóa để mở rộng địa bàn hoạt động và để nghĩa quân tránh thế bị đánh cả hai đầu. Quân của Trần Nguyễn Hãn vừa vượt qua sông Cố Chính (tức sông Gianh) thì gặp đại binh của giặc do bổ tướng Nhậm Năng đốc xuất đi chặn nghĩa quân. Tình thế trở nên rất phức tạp. Song, do mưu trí và tài chỉ huy tuyệt vời của mình, Trần Nguyên Hãn đã đưa quân Minh vào thế trận của nghĩa quân Lam Sơn. Trận chiến diễn ra rất quyết liệt và nhanh chóng. Tướng giặc Nhậm Năng bị chém chết, hơn một nghìn tên giặc bị giết. Ngay chiều hôm ấy 70 chiến thuyền chở đầy nghĩa quân do Lê Ngân đốc suất cũng đã tới. Trần Nguyên Hãn liền thống suất toàn quân thủy bộ không nghỉ ngơi, tiếp tục lên đường. Quân đi đến đâu, dân chúng nô nức ra đón chào hưởng ứng. Nghĩa quân khí thế tưng bừng, lại có tướng giỏi chỉ huy nên chỉ có ít ngày, toàn bộ vùng đất Tân Bình, Thuận Hóa (trừ hai thành Tân Bình, Thuận Hóa) đã được khôi phục. Theo lệnh của Trần Nguyên Hãn, nghĩa quân mở kho lương của giặc cấp phát cho dân những nơi có nạn đói. Nhân dân trong vùng vô cùng cảm ơn cứu mệnh của nghĩa quân Lam Sơn, hâm mộ tài đức của Trần Nguyên Hãn, hai vạn trai tráng các nơi lũ lượt kéo đến xin theo nghĩa quân. Thành Tân Bình, Thuận Hóa của giặc bị quân dân chen vai thích cánh bủa vây, bức đầu hàng.

Người đời sau làm thơ ca ngợi chiến công của Trần Nguyên Hãn ở Tân Bình, Thuận Hóa và vùng sông Gianh như sau:

Đàn giao Bắc Lỗ tàn vô địa,

Tiện thị Đông A hiệt hữu thiên.

Nguyệt ánh Lam Sơn, thiên tử kiếm,

Triền thanh Linh thủy tướng quân thuyền.

Bản dịch thơ:

Giặc Minh hết đất dụng thân.

Trời riêng còn để họ Trần tiếng thơm.

Tráng Lam lấp lánh bóng gươm,

Sông Linh sóng nhạc xuôi buồm tướng quân.

Trong đợt phản công đánh quân Minh, Trần Nguyên Hãn được cử thống lĩnh các lực lượng thủy binh, từ cửa sông Hát tiến lên Đông Bộ Đầu (nay thuộc khu vực dốc Hàng Than, đầu cầu Long Biên, Hà Nội) để phối hợp với hai đạo quân khác, tấn công ồ ạt vào lực lượng của Vương Thông. Trận này, cánh quân do ông chỉ huy đã thu được hơn một trăm chiến thuyền của giặc cùng vô số vũ khí và các thứ quân trang. Bởi chiến công này, mùa thu năm 1427, ông được Bình Định vương Lê Lợi phong hàm Thiếu úy.

Tháng Giêng năm 1427, nhà Minh huy động 15 vạn quân, chia làm hai đạo kéo vào nước ta chi viện cho quân Vương Thông nhằm giành lại thế chủ động để tiêu diệt nghĩa quân. Đạo thứ nhất do An Viễn hầu Liễu Thăng và Lương Minh, Thôi Tụ chỉ huy theo đường Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn. Đạo thứ hai do Kiều Quốc công Mộc Thạnh và Từ Hạnh, Đàm Trung chỉ huy theo đường Vân Nam tiến vào.

Lê Lợi cho triệu các tướng lĩnh đến bản doanh, rồi theo kế của quân sư Nguyễn Trãi đã nhận định: “Viện binh bị phá thì thành tất phải hàng, làm một việc mà được cả hai, đó mới là kế vẹn toàn” (Đại Việt sử ký toàn thư). Và Lê Lợi quyết định phải hạ thành Xương Giang trước khi viện binh của Liễu Thăng đến.

Lại một lần nữa, Trần Nguyên Hãn vâng lệnh Lê Lợi đem quân đến một mặt trận khó khăn và quan trọng. Vừa đến Xương Giang, Trần Nguyên Hãn đã ra sức khích lệ quân dân quyết hạ thành bằng được. Là người tinh thông binh pháp và có dụng binh, sau khi đi xem xét địa thế, Trần Nguyên Hãn đã có một kế sách đánh thành táo bạo.

Ngày 8 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), trận đánh thần diệu đặt dưới quyền thống lĩnh của Trần Nguyên Hãn đã diễn ra quyết liệt và nhanh chóng. Lòng dũng cảm của nghĩa quân Lam Sơn và dân chúng đã buộc quân giặc phải quỳ gối đầu hàng, tướng giặc là bọn Lý Nhậm và Kim Dận đều phải tự sát. Chiến trận diễn ra chưa đầy một giờ. Các tướng giặc đều bị bắt sống và bị giết trong đám loạn quân (Đại Việt thông sử – Chư thần truyện).

Theo lệnh của Lê Lợi, Trần Nguyễn Hãn lại một lần nữa thể hiện tài cầm quân xuất chúng của mình. Ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi (10-101427), Liễu Thăng kiêu ngạo tự đốc xuất quân tiên phong từ ải Pha Lũy tràn xuống Chi Lăng. Lập tức Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Trần Lựu... nhử Liễu Thăng sa vào trận địa mai phục, tướng Trần Lựu đã chém được đầu Liễu Thăng ở núi Mã Yên. Các trận đánh ác liệt diệt viện binh diễn ra suốt tuyến đường từ Chi Lăng về Xương Giang. Nghĩa quân Lam Sơn dưới sự chỉ huy của viên dũng tướng tài giỏi, dày dạn kinh nghiệm, chỉ trong 25 ngày đã đánh bại 10 vạn binh hùng tướng mạnh của nhà Minh, chém chết và bắt sống hầu hết tướng giặc. Trong các chiến công ấy, Trần Nguyên Hãn nổi lên như một ngôi sao sáng.

Mười vạn binh của Liễu Thăng bị đại bại, đạo quân của Mộc Thạnh không đánh mà tan. Vương Thông cùng kế phải “xin hòa”.

Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi (15-12-1427), ở ngoài cửa thành Đông Quan, bọn Vương Thông mở cửa thành chui ra làm lễ tuyên thệ trước mặt Lê Lợi và các tướng nghĩa quân, xin nộp thành để bảo toàn tính mạng rút về nước. Trong tờ hòa ước kể tên những người đầu mục cả nước, thì Trần Nguyễn Hãn đứng hàng thứ nhì, liền với tên vua (Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí)...

Tháng 11 năm Mậu Thân (1428), Lê lợi mở đại hội các văn võ luận công ban thưởng, đã phong cho Trần Nguyên Hãn chức Tả tướng quân, chức quan võ cao nhất lúc đó và được ban họ vua.

Nhưng, trong triều đình nhà Lê, trước sự tranh quyền vị của nhiều thế lực và thái độ nghi ngờ của vua Lê Thái Tổ, Trần Nguyên Hãn xin về hưu ở vùng Lập Thạch. Nhà vua chấp nhận và bảo mỗi năm phải về kinh chầu hai lần. Ông về làng làm nhà cửa và đóng thuyền. Đầu năm Kỷ Dậu (1429), ông bị tâu lên vua là mưu phản và bị bắt về triều hỏi tội. Trên đường đến kinh thành, ông nhảy xuống sông tự vẫn. Tất cả ruộng đất, tài sản của ông đều bị tịch thu.

Cuộc vận hành tiến hóa của lịch sử vừa hoàn tất những trang thắm đỏ về công cuộc giải phóng dân tộc thì buộc phải ghi thêm những dòng bi thảm, những nỗi oan khuất, nghịch cảnh trớ trêu. Có thể coi Trần Nguyên Hãn là người lâm nạn đầu tiên mà tiếp sau đó là cảnh ngộ bi kịch của những Phạm Văn Xảo, Lê Sát, Lê Ngân, Nguyễn Trãi... Tất nhiên, hành trạng, hoàn cảnh và nhân cách mỗi con người trong mỗi tấn bi kịch là khác nhau, thậm chí khác xa nhau.

Đối với Trần Nguyên Hãn, vừa mới đầu năm trước ông được tuyên dương công trạng thì ngay năm sau có chiếu chỉ bắt về triều. Vậy tội trạng của ông là gì? Sử sách đã chép, đại thể: có kẻ tố cáo ông mưu phản, bảo rằng ông liên kết với các nghịch đảng như bọn Nông Đắc Thái ở châu Thượng Lang, bọn Bế Khắc Thiệu ở châu Thạch Lâm (Thái Nguyên). Sự thật về tấn bi kịch trên đây, chính sử cũng hé mở cho hậu thế thấy rõ nguyên cớ. Xét riêng trên phương diện này, nhân cách Lê Thái Tổ quả có phần đáng chê trách. Bởi lẽ, dù bọn cơ hội nịnh thần có tác oai tác quái đến đâu thì nhà vua vẫn là người có quyền quyết định cao nhất, trực tiếp nhất. Thực chất của mọi hành động mù quáng sát hại công thần tuy không thể nào bào chữa được về ý thức nhằm tới tác dụng trước mắt cũng như hệ quả di hại lâu dài, song có thể cắt nghĩa, giải thích được tâm trạng, tính mục đích và lô gic tất yếu trong mối lo toan vị kỷ của nhà vua. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Trước kia Thái Tổ tuổi già nhiều bệnh, lại thêm quận vương Tư Tề ngông cuồng bậy bạ, vua thì còn trẻ thơ mà Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo đều có công giúp nước, rất được người đương thời trọng vọng. Nguyên Hãn lại là con cháu nhà Trần, mà Văn Xảo cũng là người kinh lộ, lo rằng sau này có chí khác, ngoài mặt tuy lấy lễ tôn sùng, nhưng trong lòng vẫn ngờ”... Xét lẽ, mối lo trên càng tăng lên ám ảnh tâm trí nhà vua khi chúng ta biết rằng nhà Minh liên tục dụng chiêu bài “con cháu nhà Trần” làm áp lực đe dọa. Chẳng hạn, liên tục trong hai năm 14281429, nhà Minh sai bọn La Nhữ Kính, bọn Lễ Bộ thị lang Lý Kỳ, Hồng lô tự khanh Từ Vĩnh Dật... mang sắc thư hiểu dụ tìm kiếm con cháu nhà Trần. Để đối phó lại, nhà Lê phải giải trình với sứ nhà Minh, phải cử Hộ Bộ lang trung Lê Quốc Khí, Lê Thiếu Dĩnh, Hà Lật, Đỗ Như Hùng sang trần tình với nhà Minh về vấn đề trên. Sự kiện càng trở thành ấn tượng nặng nề sau cái chết của ông vua hờ Trần Cảo, mà nếu không thì nội tình triều chính đã ở vào thế lưỡng phân theo lối “vua Lê chúa Trịnh” ở giai đoạn sau này. Với Trần Nguyên Hãn, ông đã cảm nhận được mối hậu họa đúng như tâm trạng Trần Cảo, chỉ có khác một bên không công mà làm vua hờ, một bên chính là bậc khai quốc công thần của tân triều Lê. Hiểu được điều đó, ông đã xin nhà vua cho lui về nghỉ ở quê nhà, chủ ý đoạn tuyệt con đường công danh. Sự lựa chọn này càng thể hiện sáng tỏ nhân cách của Trần Nguyên Hãn, một sự nhận thức đúng đắn, một bản lĩnh cao cả, biết “dũng tiến” mà cũng biết “dũng thoái”. Bởi lẽ, nếu cần ở lại triều đình, ông có thể khoanh tay rủ áo trong tư thế “tự trói mình”, một điều vâng dạ và bỏ qua mọi lẽ thị phi; hoặc nữa, ông có thể bám víu vào lời hiểu dụ của giặc Minh tìm lập con cháu nhà Trần mà hiệu triệu cuộc ứng nghĩa mới. Nhưng chắc chắn ông cũng thấy rõ tâm thế dân tộc đã hướng về nhà Lê và căm thù giặc Minh đến như thế nào! Điều quan trọng hơn, ông không thể làm kẻ nối giáo cho giặc. Nhân cách và bản chất ông không cho phép ông phiêu lưu vào con đường chống lại vương triều mà mình vừa góp công tạo lập, cho dù vạn nhất ông có thể giành thắng lợi. Có lẽ chính vì lẽ đó mà cho đến phút cuối, khi có chỉ dụ của nhà vua, ông vẫn không thực hiện một cuộc “nổi loạn” bất đắc dĩ cuối cùng. Lựa chọn cái chết bằng việc tự sát, chứ không phải sự phản kháng đến cùng - chắc chắn là một hành động có cân nhắc, có suy tính. Cảm nhận được cái chết là không tránh khỏi nhưng ông vẫn cam chịu đón chờ: Cam chịu sau khi đã dành trọn tâm huyết phục vụ vương triều mới; cam chịu sau khi đã hoàn tất công cuộc giải phóng dân tộc và bước đầu đi vào quĩ đạo bình trị. Nhân cách ông càng trở nên lớn lao, sáng trong bởi ý thức “cam chịu” vì nước vì dân ấy.

Viết về những vụ án công thần thời Lê, các sử thần thời Lê trong Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Nguyên là khi Thái Tổ tuổi già nhiều bệnh tật. Con trưởng là Quận vương Tư Tề thì điên cuồng bậy bạ, còn thái tử Nguyên Long thì còn nhỏ mà Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo đều là các bề tôi mở nước, có công đầu rất được người đương thời trọng vọng. Nguyên Hãn lại là con cháu tông tộc nhà Trần mà Phạm Văn Xảo cũng là người kinh lộ. Vua Thái Tổ lo rằng sau này chúa nhỏ cầm quyền, những người này sẽ có chí khác. Nên bề ngoài thì lấy lễ ý tôn sùng trọng vọng, nhưng trong lòng vẫn nghi ngờ. Bọn Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoàng Bá, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư đoán biết ý vua, tranh nhau dâng mật sớ khuyên vua nên sớm quyết ý trừ đi. Người mà bọn Lê Quốc Khí không bằng lòng đều bị vu là bè đảng của hai nhà ấy, bị án xử tử và tù giam rất nhiều. Các quan đều sợ miệng chúng”. Sau này vua Thái Tổ hối hận, thương hai người bị oan, lại biết bọn Quốc Khí đều là dạng tiểu nhân xảo quyệt. Đến khi bọn chúng bị tội, vua xuống chiếu bảo các quan rằng: “Bọn Lê Quốc Khí, Trình Hoàng Bá, Lê Đức Dư dầu có tài năng cũng không dùng được nữa, mà trong thần hạ có kẻ mưu phản, cần phải tố cáo cũng không cho bọn ấy được tố cáo. Dư luận không ai là không thỏa lòng”...

Sau khi ông mất, nhân dân thương tiếc lập đền thờ ở quê nhà. Đến năm 1455, vua Lê Nhân Tông thương ông vô tội, mới xuống chiếu trả lại ruộng đất để minh oan cho người có công lao. Đến đời vua Lê Thánh Tông đã làm lễ đại xá, truy phong ông là Thái Bảo Thắng Quận công và trả lại điền sản cho con cháu.

Sự nghiệp anh hùng và tài đức của danh tướng Trần Nguyên Hãn sống mãi với non sông đất nước./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Lê Phụng Hiểu – trung thần dẹp loạn tam vương
    Có phần đột ngột chăng khi người ta chỉ thấy Lê Phụng Hiểu lần đầu tiên cũng là lần duy nhất xuất hiện giữa kinh thành Thăng Long - dĩ nhiên là qua những trang dòng biên niên của sử cũ - vào ngày mồng ba, tháng ba, năm Mậu Thìn (1028).
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Phượng tím vắt ngang trời thương nhớ
    Đến Đà Lạt vào ngày nắng chói, đôi mắt chị dõi tìm loài hoa gieo thương nhớ, phượng tím. Đà Lạt mùa nào sắc đó, đều là những loài đặc trưng của xứ sở ngàn hoa. Mùa dã quỳ vàng hoang hoải, mùa cỏ hồng bềnh bồng như mây, mùa hoa ban trắng tinh khôi, mùa anh đào ngọt ngào trong trẻo. Với chị, lưu luyến nhất vẫn là mùa phượng tím. Mùa này phượng rải sắc tím ngăn ngắt khắp đất cùng trời, gợi lên trong lòng xiết bao lưu luyến.
  • Mưa mùa hạ
    Khác với mưa phùn gió bấc hay những ngày “mưa thối đất thối cát” lê thê, mưa mùa hè luôn đem đến cảm giác hứng khởi. Nó đến bất ngờ, ào ạt rồi đi rất nhanh, trả lại bầu không khí dịu mát và bầu trời trong veo. Tôi vẫn nghĩ mưa mùa hè là cơn mưa đẹp nhất, trẻ trung và hào phóng như tuổi thanh xuân. Đang nắng như úp chảo lửa, bỗng mây đen ùn ùn kéo đến.
  • Khám phá vẻ đẹp Văn Miếu-Quốc Tử Giám qua 120 tác phẩm nghệ thuật
    Chiều 8/8, tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu- Quốc Tử Giám, triển lãm tranh “Ngàn năm di sản” chính thức khai mạc. Đây là hoạt động văn hóa nghệ thuật do Câu lạc bộ Tôi Vẽ phối hợp cùng Trung tâm hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức, chào mừng 950 năm Quốc Tử Giám (1076-2026) và hướng tới kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Điều chưa biết về làng cổ Bình Vọng cận kề thành Thăng
    Làng cổ này ngày xưa rất nổi tiếng nhưng thời nay ít người biết đến, đó là làng cổ Bình Vọng, cận kề với kinh thành Thăng Long. Thượng tá Công an Trần Đình Hưng là anh trai làng Bình Vọng, về thăm quê hương đúng vào ngày làng có việc: ngày mồng bảy tháng giêng hàng năm.
  • Lai Xá – Một địa chỉ du lịch văn hóa – lịch sử hấp hẫn
    Lai Xá là một làng cổ ngoại vi kinh thành Thăng Long. Làng Lai Xá nằm cạnh con đường quốc lộ 23. Đến năm sau đổi mới, dân làng Lai Xá, một số gia đình di chuyển sang xây dựng hai bên đường quốc lộ 23 trở thành phố Lai Xá. Như vậy Lai Xá vừa là làng vừa là phố, ta quen gọi là Phố làng Lai Xá hiện nay.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Đặng Minh Kính.
  • Chè lam Thạch Xá - thức quà quê dân dã của xứ Đoài
    Nhắc đến ẩm thực xứ Đoài, nhiều người nhớ ngay đến chè lam, đặc sản thơm dẻo của làng Thạch Xá, huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Tây Phương, TP Hà Nội). Trải qua thời gian, chè lam Thạch Xá vẫn giữ nguyên hương vị truyền thống, trở thành thức quà quen thuộc với người dân và du khách gần xa.
  • Từ cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026, Hà Nội gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trọng điểm
    Tại kỳ họp thứ 6 diễn ra ngày 10/8, HĐND thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc gia hạn thực hiện 6 dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
  • “Bến sông Trăng” giành giải Nhất thiết kế cầu Cồn Hến, kiến trúc mang đậm bản sắc Huế
    “Bến sông Trăng” với ý tưởng khai thác hình ảnh thơ mộng của sông Hương, ánh trăng, thuyền và hoa đăng tạo nên chuỗi biểu tượng kiến trúc mang đậm bản sắc Huế đạt giải Nhất thiết kế kiến trúc cầu qua Cồn Hến.
  • Làng nghề hơn 600 năm tuổi, lưu giữ sản phẩm mây tre đan truyền thống ở Cố đô Huế thu hút du khách
    Không chỉ đa dạng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà làng nghề mây tre đan Bao La (TP Huế) đã tìm ra hướng mới là hình thành địa chỉ tham quan trải nghiệm sản phẩm truyền thống.
  • Để âm nhạc trở thành một phần của nhịp sống đô thị
    Dựa trên chất liệu ả đào và âm thanh phóng khoáng của jazz, “Vũ điệu Thăng Long” mang trong mình một cuộc gặp gỡ giữa truyền thống và hiện đại. Lần đầu vang lên tại Nhà Bát Giác trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần”, tác phẩm của NSƯT Quyền Văn Minh không chỉ gợi nhắc về một Hà Nội giàu trầm tích văn hóa, mà còn cho thấy những giá trị truyền thống ấy đang được tiếp thêm sức sống mới trong nhịp sống hôm nay.
  • Hà Nội phê duyệt Đề án Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa
    Đề án thực hiện nhận diện chi tiết 11 ngành công nghiệp văn hóa trọng điểm của Hà Nội bao gồm Điện ảnh, Mỹ thuật - nhiếp ảnh - triển lãm, Nghệ thuật biểu diễn, Phần mềm và trò chơi giải trí, Quảng cáo, Thủ công mỹ nghệ, Du lịch văn hóa, Thiết kế sáng tạo, Truyền hình và phát thanh, Xuất bản, cùng lĩnh vực Ẩm thực mang nét đặc thù của Thủ đô.
  • Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những định hướng trọng tâm được Thành ủy Hà Nội xác định khi triển khai các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị về giáo dục - đào tạo, y tế và văn hóa. Theo kết luận của đồng chí Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy, nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ đã được đặt ra nhằm phát huy nguồn lực con người, khơi dậy sức mạnh văn hóa và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thủ đô.
  • Khi âm nhạc chạm vào trái tim “đánh thức” những miền ký ức
    Có những giai điệu chỉ cần cất lên đã gợi về một miền ký ức. Đó có thể là một con phố sau cơn mưa, là hàng cây lặng gió hay một khoảng trời mang theo nỗi nhớ của nhiều thế hệ. Chiều 9/8, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” sẽ mở ra một không gian như thế, nơi mỗi tác phẩm trở thành một lát cắt tinh tế về vẻ đẹp của con người và đời sống.
  • Dự án 7 cây cầu bắc qua sông Hồng: Định hình tương lai Hà Nội phát triển nhanh, bền vững
    Thành phố Hà Nội đã, đang triển khai cùng nhiều dự án hạ tầng giao thông, trong đó có 7 cây cầu mới bắc qua sông Hồng, gồm cầu: Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Hồng Hà, Mễ Sở và Vân Phúc. 7 cây cầu này vừa giải bài toán hạ tầng giao thông Thủ đô, vừa thể hiện tầm nhìn chiến lược và cuộc cách mạng không gian để định hình tương lai phát triển bền vững Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Trần Nguyên Hãn – người anh hùng tài đức
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO