Tôi trở về phố cũ vào một chiều thu se se lạnh. Bước chân tôi chầm chậm dừng nơi ngõ nhỏ xao xác gió, lác đác lá vàng rơi phủ đầy lên ký ức. Thấp thoáng trong chiều, bóng ai hao gầy sao giống dáng mẹ tôi đến thế. Thỉnh thoảng trên đường đời tấp nập, tôi lại bắt gặp vài bóng hình mảnh mai giống mẹ khiến lòng tôi không khỏi bâng khuâng. Bao nhiêu mùa thu đã trôi qua, tôi vẫn thẫn thờ tìm hình dáng mẹ giữa dòng đời hối hả.
Mẹ tôi - người con gái xứ đồng chiêm trũng Hà Nam có đôi mắt đẹp mà buồn thăm thẳm. Bà mang theo những câu ca dao đồng bằng Bắc Bộ đi lấy chồng bộ đội, làm dâu xứ Mường. Những năm tháng cha tôi xa nhà biền biệt một mình mẹ thân cò lặn lội, lo toan gánh gồng, nuôi đàn con thơ để cha tôi yên tâm công tác. Anh em tôi lần lượt lớn lên bằng những giọt mồ hôi mặn mòi, bằng lời ru ngọt ngào nhưng buồn da diết. Lời ru ấy mang theo cả nỗi cô đơn của mẹ. Khi hoàng hôn dần buông, từ trường trở về, hình ảnh mà tôi nhớ nhất là cái dáng nhỏ bé của mẹ hằn in bên bếp lửa chờn vờn. Chiều nào cũng vậy, mẹ luôn ngồi đó, thơm cùng những sợi khói mỏng tang vương vấn bay lên từ nắm rơm nếp, từ nồi cơm vừa chín tới để đợi các con trở về. Cái dáng nhỏ nhoi ấy luôn là điểm tựa ấm áp nhất của anh em tôi mỗi khi chiều buông.
Tôi nhớ dáng mẹ những chiều xuân mưa phùn lất phất bay. Cái dáng nhỏ nhoi in vào khoảng không trước hiên nhà. Bà vừa dõi ánh mắt về phương trời xa xăm vừa rủ rỉ kể chuyện. Câu chuyện của mẹ tôi xoay quanh ngôi làng nhỏ bên đình Tường Thụy cổ kính, trầm mặc, nghiêng nghiêng soi mình xuống làn nước trong veo của ao sen ngát hương. Nơi đó có những tháng ngày thơ ấu mẹ hạnh phúc lon ton theo bà ra đồng bới đất tìm khoai. Quê hương qua lời kể của mẹ hiện lên lung linh, êm đềm, dịu ngọt biết bao. Sau này lớn lên tôi mới hiểu đó là nỗi nhớ thương quê âm thầm, da diết của mẹ sau bao tháng năm dài xa nhà biền biệt. Là nỗi khắc khoải của những người con xa xứ mỗi khi nhắc về nơi chôn rau cắt rốn của mình.
Tôi nhớ dáng người gầy gầy của mẹ cắm cúi ngồi đan bên bậu cửa mỗi chiều đông. Ngày xưa, quê tôi nghèo lắm. Những tấm áo mỏng tang, bạc phếch, ngắn cũn cỡn được truyền từ anh sang em không che nổi thịt da con trẻ trong những ngày giá rét. Nhìn đám trẻ con trong xóm đứa chân trần, đứa phong phanh manh áo cộc, da thịt tím tái phơi ra trong gió rét mẹ tôi lại xót xa. Trời càng rét, mẹ càng thức khuya hơn. Đêm đêm, bà cặm cụi, cần mẫn bên ngọn đèn dầu tù mù, leo lét. Những cuộn len đủ màu và đôi que đan bố tôi vót từ cây tre đực già được bà nâng niu gìn giữ như báu vật. Mỗi lần ngồi đan, đôi bàn tay của bà thoăn thoắt như múa lượn trên đôi que đan bằng tre màu nâu đã lên nước bóng loáng. Từ đôi bàn tay ấy nào áo, nào tất, nào khăn choàng… chiếc màu xanh, chiếc màu đỏ, chiếc màu tím… cứ lần lượt hiện ra. Để hôm sau, những khăn, những áo đó lại ủ ấp, mang hơi ấm đến cho đám trẻ quê nghèo, xua đi buốt giá, giúp chúng tôi vượt qua những ngày đông lạnh lẽo.
Tôi nhớ da diết dáng mẹ tôi lui cui bên bếp lửa trong những ngày mưa dầm để làm món ngô bung cho anh em tôi. Mẹ tôi, người đàn bà chịu thương, chịu khó không chỉ giỏi đan lát mà bà còn nấu ăn rất ngon. Bà mang cả nỗi nhớ thương quê hương vào các món ăn của mình với đủ đầy màu sắc: Canh cá ngọt lịm thấp thoáng vài lát dọc mùng xanh nhạt, giòn sật sật, thơm mùi rau thìa là; canh cua mồng tơi xanh thẫm, mát lịm trưa hè; canh măng miến đậm đà hương vị núi rừng… Nhưng đi theo tôi suốt cuộc đời lại là món ngô bung của mẹ. Món ăn dân dã mà chứa chan tình thương yêu của bà đối với đàn con thơ dại. Món ăn mang đậm hương vị thôn quê nhưng cũng không kém phần cầu kỳ. Không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để làm được món ngô bung vừa ngon, vừa dẻo vừa đậm đà hương vị như mẹ tôi. Món ngô bung thập cẩm của mẹ có những hạt ngô nếp trắng ngần, dẻo quánh. Điểm xuyết trong màu trắng đó là đậu đen tím thẫm và màu vàng ươm của đậu xanh. Không chỉ vậy, mẹ còn nuông chiều chúng tôi bằng cách phi một chút mỡ hành, rang chút muối lạc thơm lừng rồi rưới lên trên miệng bát. Vừa ngồi đếm những hạt mưa tí tách rơi bên hiên nhà, vừa nhẩn nha ăn ngô bung của mẹ là kỷ niệm không phai mờ trong ký ức thời thơ bé của tôi. Những hạt ngô béo ngậy, quyện với vị bùi bùi, thơm thơm của đậu xanh, đậu đen và muối lạc thấm vào ký ức, quyện vào thời gian. Dù xa mẹ bao năm rồi tôi cũng không thể nào quên được.
Bao năm tha hương nhưng tôi vẫn mang theo bóng dáng mẹ những chiều thu vàng ươm nắng. Hình bóng thân quen, mảnh mai mà vững chãi để tôi được tựa hồn mình vào mỗi khi lòng chênh chao, mỗi khi thấy cô đơn nơi xứ người. Nhớ những chiều thu đã rất xa, tôi ngồi bên mẹ lần nhổ những sợi tóc bạc phôi phai màu thời gian. Nhìn những sợi tóc bạc ngày một nhiều trên tay, lòng lại gợn lên nỗi lo lắng không nguôi. Lòng thầm mong thời gian trôi thật chậm để được bên mẹ nhiều hơn. Dẫu biết rằng sinh, ly, tử biệt là quy luật muôn đời, ai rồi cũng trải qua nhưng lòng cứ mong dù biết rằng không thể.
Rồi mẹ hóa mây trắng bay về hư không vào một chiều nắng vàng rời rợi bỏ lại bố con tôi bơ vơ, bỏ lại căn nhà quạnh quẽ, buồn hiu hắt. Bước chân tôi khi trở về chốn cũ bỗng thấy chông chênh. Còn đâu nụ cười của mẹ ấm như nắng chiều để mà sà vào dựa dẫm, để rì rầm kể muôn chuyện đời, chuyện người. Để rồi khi lòng vơi bớt chênh chao lại nhoẻn miệng cười chào mẹ trở về với nếp nhà nhỏ ven núi, trở về với đám học trò nghèo nơi điểm trường quanh năm mây mù bao phủ.
Mỗi lần trở về thăm quê ngoại, tôi lặng lẽ bước dọc triền đê nơi có hàng nhãn già trầm mặc, nghiêng mình soi bóng bên dòng sông chỉ để tìm lại bóng dáng thân thương của mẹ tôi thuở nào. Lặng lẽ ngồi bên hồ sen đình Tường Thụy, đẫm mình trong hương thơm ngạt ngào loang trong gió mà thả nỗi nhớ thương trôi theo nắng chiều. Bên kia sông, tiếng hát ru con ngọt ngào của người mẹ trẻ la đà giữa thinh không sao giống tiếng ru của mẹ tôi thuở nào.
“Ầu ơ…
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu
chưa về…”
(Ca dao)
Cảnh vật vẫn còn đây, vẫn êm đềm, xinh đẹp mà người đã đi về tận nơi cuối trời. Để mỗi mùa thu về ngồi lặng ngắm những sợi nẳng vàng như tơ, lòng tôi lại hoang hoải nhớ mẹ da diết. Nỗi nhớ cứ khắc khoải, cứ cháy âm ỉ trong lòng. Đâu đây, hình bóng mẹ tôi vẫn như thấp thoáng trong khói sương để tôi mãi đi tìm.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.
Có lẽ trong đời mình, tôi đã không thể nhớ nổi bao nhiêu lần qua sông Hồng. Thuở thơ bé, đó là những chuyến đò khua nước, sóng lăn tăn dưới ánh chiều. Lớn hơn một chút là những chuyến phà chở cả nhịp sống hai bờ sang nhau.
Một cảm xúc lan nhẹ trong lòng tôi. Ôi cái mùi khói đống rấm lâu lắm rồi tôi không còn được thấy. Đã gần bốn chục năm rồi, kể từ khi mẹ tôi theo mấy chị em chúng tôi ra thành phố sống, rồi bệnh già mà khuất núi, tôi không được ăn Tết ở quê.
Tựa như một cuốn album màu sepia, 43 tản văn trong “Xứ của Hiền” không chứa đựng những xung đột gay gắt hay triết lý cao siêu. Ở đó chỉ có những rung động khẽ khàng, những nỗi buồn đẹp đẽ và lòng biết ơn sâu sắc với quá khứ. Đọc văn Diệu Hiền, tôi ngỡ mình đang ngồi bên tách trà nóng, nghe người bạn cũ thủ thỉ chuyện đời bằng chất giọng xứ Quảng ân tình và giàu nhạc điệu.
Ấu thơ tôi đã bao lần cuộn tròn say giấc bên chiếc chiếu cói in hoa trải giữa sân nhà vằng vặc màu trăng chín. Khoảnh khắc êm đềm ấy mang theo lời cha kể về muôn chuyện huyền bí của nhân gian, có lời giải mã vô tận, mênh mang cho câu thách hỏi tôi vẫn thường háo hức: “Con đố cha đoán được, mặt trăng có tự bao giờ!”. Nhiều năm ròng, tôi vẫn thổn thức khi nhớ về những giấc mơ, về những ngả rừng đêm thâm u, những miền biển miền sông thắt lại rồi phình ra một màu đen sẫm, những vùng đất đá lởm chởm và hỗn độn buổi sơ khai…
Để hiện thực hóa khát vọng trở thành trung tâm giáo dục và đào tạo hàng đầu cả nước và châu lục, Điều 16 về “Phát triển giáo dục, đào tạo” trong Dự thảo Luật Thủ đô 2024 (sửa đổi) khẳng định sự đổi mới mới tư duy, trao quyền tự chủ và tạo bệ phóng để giáo dục, đào tạo Hà Nội thực sự vươn tầm.
Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới” có thể xem là “kim chỉ nam” thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng để mở đường cho ngành xuất bản Việt Nam bứt phá, trở thành một ngành công nghiệp văn hóa - công nghệ mũi nhọn trong kỷ nguyên số, vươn tầm khu vực và thế giới.
Những ngày cuối tháng Ba, khi Hà Nội bước vào mùa loa kèn, Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ lại trở thành một điểm hẹn đặc biệt của công chúng. Không gian ấy trong khuôn khổ chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 29/3 không chỉ có âm nhạc, mà còn được bao phủ bởi sắc trắng tinh khôi của hàng nghìn bông hoa loa kèn, tạo nên một trải nghiệm văn hóa giàu cảm xúc – nơi thính giác và thị giác cùng thăng hoa. Mỗi mùa hoa Hà Nội chỉ kéo dài một đến hai tháng, nhưng cũng đủ để đánh thức hoài niệm trong mỗi người
Từ niềm đam mê nghiên cứu về sinh học và di truyền khi còn là thiếu niên, Tiến sĩ Đặng Trần Hoàng đã trải qua hành trình nghiên cứu khoa học đầy thử thách nhưng cũng vô cùng ý nghĩa. Hiện nay, Tiến sĩ Đặng Trần Hoàng là Tổng Giám đốc công ty TNHH Công nghệ Di truyền NOVAGEN, anh đã chứng tỏ bản thân không chỉ là một nhà nghiên cứu về công nghệ sinh học xuất sắc mà còn là người “mang ánh sáng của sự thật và sức khỏe đến với mọi mái nhà Việt Nam”.
Quý I/2026, du lịch Thủ đô Hà Nội tiếp tục ghi nhận những tín hiệu khởi sắc với lượng khách và doanh thu tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước. Theo ước tính, Hà Nội ước đón 8,82 triệu lượt khách, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Tối 29/3, tại Nhà hát Hồ Gươm, Hà Nội, vở ballet đương đại “Dó” đã được trình diễn, mang đến cho khán giả một không gian nghệ thuật giàu cảm xúc, kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ múa đương đại và chất liệu văn hóa truyền thống Việt Nam.
Lễ hội diễn ra trong hai ngày 30 và 31/3/2026 (tức ngày 12 và 13 tháng Hai năm Bính Ngọ) tại Đền Bạch Mã - di tích được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt, một trong những không gian tâm linh tiêu biểu và lâu đời bậc nhất của Thăng Long - Hà Nội.
Tối 29/3, tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” tiếp tục diễn ra với một đêm nghệ thuật đậm sắc màu truyền thống do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện. Không chỉ mang đến những tiết mục giàu giá trị nghệ thuật, chương trình còn cho thấy nỗ lực của thành phố trong việc đưa các loại hình nghệ thuật truyền thống hiện diện thường xuyên trong đời sống đương đại, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh giữa không gian đô thị.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển văn hóa nước ta đến năm 2030. Trong đó có việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026, bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP...
Ban Bí thư Trung ương Đảng vừa ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới.
Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 314/QĐ-TTPVHCC ngày 15/3/2026 về việc phê duyệt quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực Văn hóa, Báo chí xuất bản, Quảng cáo, Thể dục thể thao thuộc phạm vi, chức năng quản lý nhà nước của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội.
Từ ngày 25/3/2026, chùa Thầy chính thức đưa vào sử dụng hệ thống mã QR phục vụ tra cứu thông tin di tích, từng bước thay thế hình thức thuyết minh truyền thống.