Văn hóa – Di sản

Nguyễn Bá Xuyến – người giỏi thơ quốc âm

Lê Thị Dương 22/11/2023 17:34

Nguyễn Bá Xuyến sinh năm Kỷ Mão (1759) tại thôn Đại Hành, xã Hạ Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội).

Ông mồ côi cha từ nhỏ, trải qua những năm tháng tuổi thơ khốn khó, sớm phải gánh vác gánh nặng gia đình. Trước năm 30 tuổi, ông từng “bôn ba” dưới trướng của nhiều tướng, nhưng trướng nào cũng không ấm chỗ. Ông từng có thời gian theo các nhóm chống Tây Sơn song cũng không có kết quả gì. Đến năm 1793, cuộc gặp gỡ với Đặng Trần Thường đã làm thay đổi cuộc đời Nguyễn Bá Xuyến. Ông đã quyết định cùng Đặng Trần Thường vào Gia Định theo chúa Nguyễn Ánh. Từ đây, hoạn lộ của Nguyễn Bá Xuyến khá suôn sẻ. Ông lập nhiều công lao và được ban thưởng, từng giữ chức Án phủ sứ phủ Hoài Đức năm 1802. Trong thời gian giữ chức quan này, Nguyễn Bá Xuyến không chỉ tham gia trấn áp giặc cướp ở vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, mà còn có công lớn trong việc xây dựng, củng cố Bắc thành hưng thịnh và giàu đẹp hơn.

Về cuối đời, ông được phong tước Xuyến Ngọc hầu và có cơ hội mở rộng quan hệ với nhiều bạn bè. Năm 1829, ông lâm trọng bệnh và qua đời, hưởng thọ 70 tuổi.

Về văn nghiệp của Nguyễn Bá Xuyến, tuy không có điều kiện học hành, và tự nhận là người “lỗ mãng” nhưng ông đã để lại một số lượng sáng tác không nhỏ, gồm một tập hồi kí, 19 bài văn tế, 10 bài thơ luật chữ Hán, khoảng 50 bài thơ Đường luật bằng Quốc âm, 26 bài ca, từ khúc, hát nói và có thể cả một bài phú. Văn thơ của ông không thật đặc sắc nhưng ít nhiều vẫn có nét riêng, và có những phần có giá trị đặc biệt, góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX.

Cuốn sách chép tay các sáng tác của Nguyễn Bá Xuyến còn lại đến nay có tên đầy đủ là Hoàng triều Công thần Đa sĩ Nguyễn Án phủ sứ truyện. Bố cục cuốn sách như sau: hai phần đầu là hồi kí, thơ văn do Nguyễn Bá Xuyến viết, và phần cuối - Nguyễn công thần hành trạng tục biên - là do con cháu viết.

Phần hồi kí viết bằng chữ Hán giống như một bản tự thuật về những mốc chính trong cuộc đời Nguyễn Bá Xuyến từ nhỏ đến trước 10 năm cuối đời. Đặc điểm nổi bật nhất của tập kí này là văn phong “giản dị, không trau chuốt, không làm văn, tôn trọng sự kiện mà không lạm dụng tâm lí chuyển tải đạo”, “vẻ đẹp tập hồi kí của ông lại chính ở sự thật thà, thô ráp, có sao nói vậy... tạo được sự gần gũi, tin cậy cho người đọc” (Trần Thị Băng Thanh, Xuyến Ngọc hầu tác phẩm, 2006). Đây cũng có thể xem là một đóng góp của Nguyễn Bá Xuyến đối với sự phát triển của thể loại kí văn học.

Tập kí bắt đầu bằng những dòng ngắn gọn kể về xuất thân của Nguyễn Bá Xuyến: “Tổ tiên ta vốn người thôn Đại Thành (...). Khi ta chưa đến tuổi thành niên thì cha đã mất (...). Từ năm Bính Ngọ (1786) về sau thời thế nhiều biến cố, ta phiêu linh khắp chốn giang hồ”; và kết thúc với sự kiện: “Ngày 4 tháng Giêng vâng mệnh vào hầu trong Xuân Kinh (năm Nhâm Ngọ 1822)”... Những bước thăng trầm trong cuộc đời Nguyễn Bá Xuyến, từ tuổi thơ khốn khó đến những ngày đầu khởi nghiệp và quãng thời gian ông phụng sự chúa Nguyễn Ánh đều được khắc họa lại trong tập kí. Bên cạnh đó, tập kí còn lưu giữ lại khá nhiều chi tiết hiện thực của lịch sử, chẳng hạn về những năm cuối của cuộc giao tranh giữa chúa Nguyễn và Tây Sơn, hay các cuộc nổi dậy của nông dân Bắc Hà đầu thời Nguyễn. Bàn về tập văn hồi ký nói trên, Trần Thị Băng Thanh xác định: “Dù là ở mức sơ giản nhưng những trang ghi chép của Nguyễn Bá Xuyến có thể coi như một hồi kí chiến trận, đó là một điều mới mẻ nữa mà trong văn học trung đại trước Nguyễn Bá Xuyến chưa thấy có” (Xuyến Ngọc Hầu tác phẩm, 2006). Hồi kí của Nguyễn Bá Xuyến, do vậy, ngoài giá trị văn học, còn chứa đựng giá trị tư liệu lịch sử.

Trong sự nghiệp trước tác của Nguyễn Bá Xuyến, bộ phận sáng tác đặc sắc nhất, tiêu biểu nhất là văn tế Nôm và ca khúc. Trước hết, về văn tế, đây là thể loại khá công thức và thường được viết bằng chữ Hán, trong khi, văn tế của Nguyễn Bá Xuyến lại được viết bằng chữ Nôm, số lượng lên tới gần 20 bài, dành cho nhiều loại đối tượng khác nhau. Với những người lính tử trận, Nguyễn Bá Xuyến có bài Văn tế trận vong quân sĩ viết bằng những lời lẽ thiêng liêng, nuối tiếc: “Đạo thày tớ dầu đắng ngọt có nhau; khi vui nên lại nhớ khi thương; thương vì cũng phận truy tùng, cùng ưu hoạn lại chẳng cùng an lạc (...). Công lao cũ bây giờ chưa trả được, kẻ mất cũng xem bằng kẻ tại, tấm lòng đây đà tạc khoán thư riêng; tình nghĩa xưa ai nấy dễ quên ru, thân này thốt thiệt đến thân sau, nghìn năm nữa lai vầy ngư thủy khác” (Xuyến Ngọc Hầu tác phẩm, 2006).

Với thập loại chúng sinh, Nguyễn Bá Xuyến cũng có bài văn tế đầy thương xót: Thương thay mười loại chúng sinh, bãi sương trắng để mưa tan gió sảy; trải biết mấy thu tang hải, che cỏ xanh mà lửa tắt hương tiêu (Tế chúng sinh văn - Văn tế chúng sinh).

Ngay cả với người vú nuôi của vợ thứ quê ở Tây Lĩnh, Nguyễn Bá Xuyến cũng làm văn tế bày tỏ nỗi ngậm ngùi: Bỗng xe hạc vội vàng, chẳng gắng lấy ít nhiều năm nữa, vú từ đây đường vãng phản đã không rồi, mà non tây cách diễn, nào kịp trao mảy chút nhời chi, con từ ấy nỗi ai tư khôn dứt bỏ (Tây Lĩnh thứ thất nhũ mẫu tế văn Văn tế người vú nuôi của vợ thứ quê ở Tây Lĩnh).

Văn tế của Nguyễn Bá Xuyến giàu cảm xúc, ngôn ngữ gần gũi, “thuần Nôm” song không kém phần thiêng liêng, trang trọng, đặc biệt ông rất ít khi sử dụng các từ Hán. Có thể nói như Trần Thị Băng Thanh rằng, “văn tế Nôm của Nguyễn Bá Xuyến cũng góp phần đánh dấu một bước “bình dân hóa” một thể loại văn chương bác học khiến nó được sử dụng rộng rãi hơn trong đời sống cộng đồng và cũng thể hiện sự phát triển của dòng văn học tiếng Việt, làm nền tảng cho văn học Quốc ngữ sau này” (Xuyến Ngọc Hầu tác phẩm, 2006).

Một bộ phận sáng tác nữa của Nguyễn Bá Xuyến rất được chú ý đó là những ca khúc, gồm 29 bài (3 bài trường thiên và 26 bài ca ngắn). Những bài hát nói này không có đầu đề, được chép liền nhau, gần cuối tập sách Công thần Nguyễn Án phủ sứ truyện.Đa phần các bài ca này thể hiện tinh thần phóng khoáng, ưa nhàn, không vướng bận vòng danh lợi. Nguyễn Bá Xuyến cũng có cái khảng khái của Đào Uyên Minh xưa:

Đào ái cúc,

Dư tắc ái liên...

Cúc hoa chi ẩn dật dã, liên hoa chi quân tử dã.

…Liên tối thị nê nhi bất nhiễm,

Tuế nguyệt vô cùng nhàn điểm kiểm,

Công danh hữu phận một thương lường.

(Đào Tiềm yêu cúc,

Ta thì yêu sen...

Cúc là kẻ ẩn dật trong làng hoa, sen là bậc quân tử.

...Sen đặc sắc nhất là ở trong bùn mà không nhiễm bẩn,

Năm tháng vô cùng, cứ thong thả mà đếm,

Công danh có phận chẳng tính toán được)

Có chút cậy tài, khoe tài tựa Nguyễn Công Trứ sau này:

- Ngã tài hữu dụng,

Do địa chung do thiên tướng có bàn chi.

(Trời đất sinh ra ta vốn đã có ý,

Trong cuộc đời có nơi nào là không thể gặp gỡ?)

- Phận nội sự bản ngô chi vũ trụ

(Mọi việc trong vũ trụ đều là phận sự của ta)

Có chút ngông nghênh:

Bất nhiên tuyệt lạp thăng thiên cù,

Bất nhiên minh kha du để độ.

An năng bất phú hựu bất quý,

Không tác ngang tàng nhất trượng phu.

(Nếu không thì bỏ ăn cơm gạo mà lên trên trời,

Nếu không thì đeo ngọc minh kha mà chơi đế độ.

Sao lại có thể không giàu không sang,

Không làm một kẻ trượng phu ngang tàng?)

Có chút phóng túng lãng tử:

Nhân sinh tại thế,

Toán lại danh lợi bất như nhàn.

Cầm kì thi tửu mấy giang san,

Đông phong diện đẳng nhàn thức đắc.

(Người ta ở trên đời,

Tính ra danh lợi chẳng bằng nhàn.

Đàn, cờ, thơ, rượu cùng với sông núi,

Mặt hóng gió xuân biết được là nhàn)

Tri túc tiện túc, đãi túc hà nhật túc,

Thâu nhàn tiện nhàn, hà nhật nhàn.

(Biết đủ tức là đủ, còn đợi cho đủ thì biết bao giờ mới đủ,

Biết nhàn tức là nhàn, còn đợi nhàn chưa biết bao giờ mới nhàn)

Có chút say sưa:

Tửu khát tư thôn hải,

Thi cuồng dục thượng thiên.

(Khát rượu thì nghĩ đến uống cả bể,

Thơ cuồng thì muốn lên trời)

Song dù say sưa, dù ưa hưởng lạc, dù phóng túng, thị tài, ở Nguyễn Bá Xuyến vẫn không mất đi phong thái nghiêm chỉnh của một trang nam nhi tự nhiệm.

Theo nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh, các bài ca của Nguyễn Bá Xuyến có thể xem là thuộc thể hát nói ở giai đoạn “chưa thành thục, chưa thật định hình và còn mang tên là ca” (Xuyến Ngọc Hầu tác phẩm, 2006). Đến đây người ta có thể nối dài lược đồ lịch sử hát nói, từ đỉnh cao Nguyễn Công Trứ lùi về xa hơn có Nguyễn Bá Xuyến. Và nói đến hát nói, không thể không đề cập đến tên tuổi của Nguyễn Bá Xuyến cùng những đóng góp của ông tuy còn “thô sơ” nhưng lại có ý nghĩa khởi nguồn.

Các thể loại sáng tác của Nguyễn Bá Xuyến: Hồi kí, thơ ca và biền văn quốc âm hình thức không cầu kì, ngôn từ giản dị. Dù chỉ là ghi lại những chặng đường đời của mình “để khỏi quên lúc gian nan và để con cháu sau này ghi nhớ”, hay viết tế văn cho những người đã khuất, hoặc làm thơ ca để tỏ chí, vịnh cảnh, gửi tặng bạn bè, Nguyễn Bá Xuyến đều gửi gắm rất nhiều tình cảm. Không cần phải mượn đến những lời lẽ hoa mĩ để diễn đạt mà tình cảm, cảm xúc đó tuôn trào tự nhiên, hồn nhiên. Vì lẽ đó, thơ văn Nguyễn Bá Xuyến là thứ thơ văn dung dị, thành thực, không truy cầu tải đạo hay giáo điều. Chân dung Nguyễn Bá Xuyến qua thơ ca, hồi kí là con người sống trong “thời loạn”, có trách nhiệm với bản thân, với lý tưởng mình theo đuổi, đó cũng là con người có tài, có tình, luôn trăn trở suy nghĩ trước những nỗi hỉ nộ ái ố của cuộc đời, luôn chia sẻ nỗi đau với thập loại chúng sinh.

Điểm tên các danh nhân Hà Nội thế kỉ XVIII - XIX, Nguyễn Bá Xuyến không phải là cái tên được nhiều người biết đến, tài liệu về ông hiện cũng rất ít ỏi. Song với những đóng góp quan trọng của ông cho sự phát triển của thể loại hồi kí, văn tế và hát nói, cần có sự nhìn nhận và đánh giá xác đáng hơn về vị trí của ông trong nền văn học, văn hóa nước nhà./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Nguyễn Hiền – trạng nguyên thần đồng
    Nguyễn Hiền sinh ngày 12 tháng 7 năm Ất Mùi (1235), quê ở làng Vương Miện, huyện Thượng Hiền (sau đổi là Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, lộ Sơn Nam), nay là thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
(0) Bình luận
  • Xã Ô Diên (Hà Nội): Xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí
    Sáng 23/2, Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ xã Ô Diên đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố đối với Đền Chính Khí. Tham dự buổi lễ có Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Phạm Hồng Hoàn; Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam xã Ô Diên Nguyễn Thị Bảy; Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Chủ tịch UBND xã Bùi Thị Thu Hằng.
  • Khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn tri ân Tản Viên Sơn Thánh
    Sáng 23/2 (mùng 7 tháng Giêng năm Bính Ngọ 2026), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Đoài Phương (TP. Hà Nội) long trọng tổ chức khai mạc Lễ hội truyền thống cụm Di tích Quốc gia đền Măng Sơn, đình Sơn Trung và đình Sơn Đông.
  • Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng
    Sự kiện Thánh Gióng đánh giặc Ân và Hội Gióng lâu nay vẫn là hai mảng đề tài đặt ra những câu hỏi không dễ giải đáp. Chẳng hạn, giặc Ân là có thật hay chỉ là truyền thuyết? Nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Hà Văn Tấn cho rằng việc phát hiện một loại nha chương bằng ngọc khuê/đá quý trong quá trình khai quật tại di chỉ văn hóa Phùng Nguyên ở Việt Nam (khoảng thế kỷ XV trước Công nguyên) giống hệt loại nha chương đã tìm được trong một số di chỉ có niên đại Ân - Thượng ở Trung Quốc cho thấy chắc chắn giặc Ân đến từ phương Bắc.
  • Xã Đa Phúc long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà
    Trong không khí linh thiêng, rộn ràng của mùa lễ hội đầu xuân Bính Ngọ 2026, ngày 20/2 (mùng 4 tháng Giêng năm Bính Ngọ) thôn Xuân Lai, xã Đa Phúc đã long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống đền Bà.
  • Quần thể di tích Thổ Hà và Nhà ngục Kon Tum được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt
    Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 266/QĐ-TTg ngày 11/02/2026 xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt (đợt 19) đối với 2 di tích.
  • Tìm về dấu tích Giảng Võ trường ở Thăng Long xưa
    Trong suốt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã anh dũng chống lại nhiều kẻ xâm lược để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc. Để có được thành công như ngày hôm nay, việc đào tạo nhân tài là yếu tố quan trọng, gồm cả về văn và võ. Tuy nhiên, việc đào tạo nhân tài về võ rất ít được ghi chép và rất hạn chế thông tin. Các di tích đào tạo về võ ở Thăng Long như điện Giảng Võ, Giảng Võ trường được ghi nhận từ các thời Lý nhưng đến nay vẫn chưa rõ ràng. Giảng Võ hiện nay là một phường nằm ở phía Tây của Hoàng thành Thăng Long, trước đây khu vực này còn có tên là Thập Tam trại.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Có một xóm văn Thành Công - chuyện bây giờ mới kể
    Phải nói ngay để bạn đọc không phân vân về cách nói/ viết hay gọi thân mật “Xóm văn Thành Công”. Số là, người viết bài báo này từng có một giai đoạn dài (1983-2007) sống tại phòng 303, nhà E9, khu tập thể Thành Công, quận Ba Đình (cũ), Hà Nội. Khu tập thể này hình thành cuối những năm 70, đầu những năm 80 thế kỷ XX. Nó thuộc địa giới làng Thành Công cổ xưa, nơi có đình làng Thành Công - di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố. Chuyện “Xóm văn Thành Công” gắn với quy luật “đất lành chim đậu”.
  • Đồng chí Phạm Văn Đồng - Nhà lãnh đạo kiệt xuất, người học trò gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
    Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (01/3/1906 - 01/3/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thành kính tưởng nhớ, tri ân sâu sắc những công lao, cống hiến to lớn của một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam; người cộng sản kiên trung, mẫu mực, trọn đời tận hiến cho độc lập dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
  • Hà Nội đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam
    Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Hướng dẫn số 23-HD/BTGDVTU ngày 16/02/2026 về tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Hướng dẫn xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, hình thức và tổ chức thực hiện, nhằm tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ và đồng thuận trong Nhân dân, đưa Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Tây Hồ: Tôn vinh người cao tuổi, lan tỏa đạo lý “kính lão trọng thọ”
    Trong không khí phấn khởi, ấm áp của những ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, Đảng ủy – HĐND – UBND – Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Tây Hồ đã trang trọng tổ chức Lễ chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi trên địa bàn.
  • Lãnh đạo xã Đa Phúc xuống ruộng cùng nông dân gieo cấy vụ Xuân năm 2026
    Ngày 23/02, (tức mùng 7 tháng Giêng năm Bính Ngọ), các đồng chí lãnh đạo Thường vụ Đảng ủy, HĐND, UBND xã Đa Phúc đã xuống ruộng thăm tiến độ gieo cấy vụ Xuân năm 2026.
Đừng bỏ lỡ
Nguyễn Bá Xuyến – người giỏi thơ quốc âm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO