Tác giả - tác phẩm

Huế trong thơ Lê Vĩnh Thái

Yến Thanh 08/12/2024 17:16

Thơ Lê Vĩnh Thái ở bất kỳ chặng nào, tập nào cũng khó đọc, khó hiểu, không thể nhớ. Tôi quen biết anh gần hai chục năm nay, gần như tập thơ nào cũng đọc, song đều để riêng một góc… và suy ngẫm.

z6109375713797_375daae40bab0e2cd512b6f68d704c2d.jpg
Khúc rời những con chim quên tổ - một bước tiến mới trong hành trình thi ca không ngừng nghỉ của Lê Vĩnh Thái

Có cảm giác muốn nhập được vào nguồn mạch của sáng tạo và ý tưởng Lê Vĩnh Thái, ta cần sống trải cuộc đời to toan, bộn bề của anh. Thơ Lê Vĩnh Thái là một thanh âm lạ, đáng ghi nhận trong tiến trình thơ Huế đương đại, bên cạnh những người đã xác lập được tiếng nói riêng, theo những ngả rẽ riêng như Phạm Nguyên Tường, Nguyễn Lãm Thắng, Lê Tấn Quỳnh, Đông Hà, Hồ Đăng Thanh Ngọc, Fan Tuấn Anh, Bạch Diệp, Nguyễn Hoàng Anh Thư…

Mới đây, Lê Vĩnh Thái lại cho xuất bản một tập thi phẩm mới có tựa đề… khá lạ là Khúc rời những con chim quên tổ (Nxb Thuận Hoá, 2024). Và theo tôi, đây là một bước tiến mới trong hành trình thi ca không ngừng nghỉ của anh.

Thơ Lê Vĩnh Thái khó đọc bởi tư duy thơ của anh là tư duy hiện đại điển hình, với chủ ý phá vỡ cấu trúc và dòng chảy của thơ vần điệu truyền thống. Những bạn đọc nào quen với mỹ học Thơ mới sẽ khó cảm thụ thơ Lê Vĩnh Thái. Vì cơ bản, anh bỏ đi vần điệu, lại làm đứt gãy mạch tư duy tuyến tính thường thấy: “Con cúi đầu lạy sông - lạy ngọn nguồn Trường Sơn hùng vỹ - lạy tự thuở hồng hoang triệu triệu năm ư dư bộn bề ánh sáng - tả hữu từng đồi mênh mếng nhùng nhằng rung” [Con cúi đầu lạy sông].

Thơ của anh là sự giao hoà của thơ văn xuôi với thơ truyền thống, song dẫu như thế nào, bạn đọc đều đối diện với một thế giới nghệ thuật phi vần điệu, số lượng câu từ ở từng câu thơ dài ngắn bất thường. Đó là chưa kể trong thi phẩm của anh, bạn đọc đôi khi sẽ khó hiểu một số từ nhất định.

Một số từ hiếm gặp trong tiếng Việt, song cũng có nhiều từ là do chính anh bịa ra. Tôi mạnh dạn nghĩ vậy, vì “ư dư” hay “mênh mếnh” là những từ như thế nào, chúng ta chỉ có thể hiểu bằng cảm giác. Nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng, thiên chức của nhà thơ không phải như người thợ cần cù hay là người thư ký trung thành của thời đại. Nhà thơ là kẻ thám hiểm, thậm chí mạo hiểm trong ngôn ngữ. Thiên chức của thi sĩ là thể nghiệm, là khám phá ngôn ngữ và đổi mới ngôn từ tiếng Việt.

z6109375713012_5ee1e6d93eab5a52d67e91fc57f1a4e6.jpg

Cái mạnh nhất trong thơ Lê Vĩnh Thái là ý tưởng, chính ý tưởng và sự triết lý trong thơ Lê Vĩnh Thái tạo ra sự liên kết ý tưởng và kiến tạo dòng chảy cảm xúc trong thơ anh: “con dập đầu thắp nén linh hương - lạy tứ phương ngọn nguồn thủy tổ - u u anh anh minh minh cho con màu da hình hài đượm hương đất mạ Huế mình…” [Con cúi đầu lạy sông].

Cái tôi ấn tượng với Lê Vĩnh Thái, đó là thơ anh dày đặc biểu tượng, địa danh ở Huế, nên đây là một dạng thức thơ Huế trong bối cảnh hiện đại và hậu hiện đại. Dẫu hình thức tân kỳ, tư duy thơ mới mẻ, thì bản sắc Huế chứng minh Lê Vĩnh Thái là một người Huế đích thực, và trái tim anh yêu Huế theo cách của mình: “bây giờ - Thanh Tân chỉ là đêm huyễn hoặc - bước chân - anh trở về như nhúm than tàn… - giờ em đã ở xa sau mấy vòng nhìn không nhau - chiều Huế - ủ ê mấy vòng mưa nhớ - như từng đêm nhớ em” [Và em như chim bay qua tháng ngày anh]; “ngoài kia bạn bè rất đông đến gọi con chơi mỗi ngày, tuổi thơ của con hiền hòa - như dòng Bạch Yến qua An Hòa rẽ về sông Hương xanh ngát lời ru mặn môi của mẹ - tuổi thơ của ba có nắng mai và bầy sáo lên lưng trâu ra đồng, quê nội” [Những giấc mơ sông].

Tập thơ Khúc rời những con chim quên tổ có thể nói rất nhiều kỷ niệm riêng tư của Lê Vĩnh Thái về cha mẹ, về ký ức quê hương của mình... Lê Vĩnh Thái sinh ra lớn lên trong môi trường sông nước ở Huế. Sông ở Huế ngắn, nhỏ, song dốc và rất hay bão lũ. Người Huế bám vào sông mà sống, và sông cũng nuôi dưỡng tâm hồn của con người xứ sở thần kinh. Chính vì vậy, hình tượng sông xuất hiện nhiều, có ý nghĩa như một cổ mẫu trong thơ Lê Vĩnh Thái. Sông thường gắn với em, với mẹ, với những mối tình đã mất, do đó, sông mang tính nữ vĩnh hằng trong thơ của anh.

Hình tượng đồi núi cũng xuất hiện nhiều trong thi phẩm Khúc rời những con chim quên tổ của Lê Vĩnh Thái, bởi quê anh là một vùng bán sơn địa, vừa có đồi lại vừa có sông chảy qua. “lên đồi - lô nhô người - quẩn quanh cánh rừng xanh hun hút mắt - sâu thăm thẳm - đàn cá đói mồi đen đặc - hoa lềnh bềnh trôi” [Đồi]. “tôi về - đêm nay - trên ngọn đồi cả gió - trăng vẫn tròn đầy như thuở tuổi em xưa - dưới tán phượng già râm ran câu chuyện - mơ hồ lần đi” [Đêm trên đồi phấn].“em hứa đưa tôi lên ngọn đồi - nơi có căn nhà gỗ và đàn chim từng chiều bay nhảy - có gã di gan bóc từng viên sỏi thả vào ngày - em nói - con sói đã rời bầy đi khỏi ngọn đồi - chiều tiếng hú dội lên vách núi - nó sẽ cô độc - tiếng dội chẳng bao giờ cầm được” [Khi hoa vàng nở rực triền đồi].

Huế của Lê Vĩnh Thái là một Huế lạ lẫm so với những cung vàng điện ngọc, lăng tẩm đền đài vàng son. Tôi luôn thấy một Huế vùng ven, Huế ngoại biên trong thơ của anh. Cũng cần chú ý đến biểu tượng “đồi” trong thơ Lê Vĩnh Thái như một ẩn dụ về cha, và nam tính. Cha anh đã vĩnh viễn rời xa quê hương và những đứa con yêu thương của mình trong năm tháng vừa qua: “Ba đi - trời hẹp lại - trong anh em chúng con - đường thênh thang mà chật - con về qua lối mòn...” [Nhớ ba].

Thơ Lê Vĩnh Thái chính vì vậy, có khi tân kỳ, ra sức đổi mới, làm khác, song có khi mộc mạc chân thành, nhất là khi anh đối diện với chính mình trong thơ. Thật ra tôi vẫn nghĩ thơ Lê Vĩnh Thái không bao giờ cố ý làm dáng cầu kỳ, hay cố chạy theo những trào lưu tân thời, đương đại.

Trong thi phẩm mới xuất bản của Lê Vĩnh Thái, trong nhiều bài cho thấy hành trình thơ Lê Vĩnh Thái là liên tục, và quả nhiên anh đã đi được một con đường dài: “chúng ta đã ở lại trong xó xỉnh rách nát - những khuôn mặt rách nát - vá vào nhau - chúng ta đã bỏ nhau trong nhiều ngày - chúng ta thiếu vắng - cha mẹ bỏ chúng ta mà đi như ông bà rời xa cha mẹ - thời gian như chiến tranh xâm lăng tuổi trẻ chúng mình - vun cây gia phả cao xanh” [Điệu hát cũ]. Đây là những câu thơ rất hay, chí ít ra là đối với sự đọc của bản thân tôi. Tôi nghĩ, thơ Lê Vĩnh Thái có thể được xem như (một trong những) thành tựu của thơ ca Cố đô Huế đương đại.

Lê Vĩnh Thái là một người khiêm tốn. Anh ít khi phô phang, khoa trương để nói về mình. Muốn tìm hiểu về tâm hồn anh, có lẽ chân thực và đơn giản nhất, đó là tìm về những văn bản thơ mà anh đã viết như những khúc rồi. Tôi hy vọng Lê Vĩnh Thái sẽ có được những bạn đọc tri âm như thế./.

Bài liên quan
  • Sáng tỏ những đóng góp của Phật giáo với dân tộc từ thời Lý đến nay
    Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách "Phật giáo với dân tộc: Từ thời nhà Lý đến nay". Không chỉ khái quát vai trò của Phật giáo thời Lý, phác họa bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội thời kỳ này cuốn sách còn góp phần khẳng định những giá trị của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay, đồng thời đề cập tới những cơ hội, thách thức và các giải pháp phát huy những giá trị tư tưởng, văn hóa tốt đẹp của Phật giáo trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
(0) Bình luận
  • "Từ đường làng ra đại lộ" - Tập tản văn dung dị mà sâu lắng
    Tri Thức Trẻ Books phối hợp cùng NXB Văn học vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Từ đường làng ra đại lộ". Đây là tập tản văn đầu tay của tác giả Tèo - một người viết nặng lòng với quê hương và tin vào những giá trị sống giản dị.
  • Những cuốn sách Tết đặc sắc dành cho thiếu nhi
    Chào đón Xuân Bính Ngọ 2026, NXB Kim Đồng giới thiệu tới bạn đọc nhỏ tuổi nhiều ấn phẩm sách Tết đặc sắc, phong phú về thể loại như tuyển tập thơ văn, tranh truyện, sách tương tác… Các cuốn sách không chỉ mang không khí vui tươi của ngày Tết mà còn giúp thiếu nhi hiểu thêm về phong tục đón xuân trên khắp mọi miền đất nước, từ đó nuôi dưỡng tình yêu với Tết cổ truyền của dân tộc.
  • “Nhông cát Tráng Sĩ” - Chuyện đồng thoại nuôi dưỡng tình yêu thiên nhiên và lòng nhân ái
    NXB Kim Đồng vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Nhông cát Tráng Sĩ” của tác giả Xuân Huy. Tác phẩm như một câu chuyện phiêu lưu giàu chất thơ, kể hành trình trưởng thành của một sinh linh bé nhỏ giữa vùng đất cát khô cằn mà tràn đầy sức sống.
  • Cuốn sách chạm đến trái tim từ sự yêu thương và thấu cảm
    Sau dấu ấn của “Câu chuyện từ trái tim” ra mắt năm 2021, PGS. TS, bác sĩ Nguyễn Lân Hiếu vừa trở lại với độc giả bằng cuốn sách thứ hai mang tên “Thương - Câu chuyện tiếp tục từ trái tim”. Nếu cuốn sách đầu tay đã chạm đến người đọc bởi sự chân thành, ấm áp của những câu chuyện nghề y thì “Thương - Câu chuyện tiếp tục từ trái tim” như một hành trình nối dài những giá trị nhân văn mà tác giả kiên trì theo đuổi.
  • Ra mắt sách của Đại tướng Phan Văn Giang về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại
    Cuốn sách gồm 38 bài viết và một số hình ảnh hoạt động của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được sắp xếp theo nhóm chủ đề phù hợp với trình tự thời gian đã công bố.
  • Khi con hỏi, bố kể chuyện tuổi thơ
    Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam vừa ra mắt bạn đọc cuốn sách “Ngày xưa bố thế nào?” của tác giả Nguyễn Quốc Vương. Cuốn sách dày 356 trang ghi lại những câu chuyện dung dị, ấm áp về tuổi thơ của người bố, được kể bằng giọng văn chân thành, gần gũi, giàu sự thấu hiểu.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Ngựa trong đời sống Thăng Long - Hà Nội
    Hà Nội có 5 địa danh gắn với chữ Mã là phố Kim Mã, hồ Mã Cảnh, phố Hòa Mã, phố Hàng Mã và đền Bạch Mã. Tuy nhiên, chữ Mã với nghĩa là ngựa thì chỉ có Kim Mã, Mã Cảnh và Bạch Mã. Tuy nhiên Bạch Mã với nghĩa ngựa trắng chỉ là truyền thuyết, còn chữ Mã trong Hàng Mã và Hòa Mã là chữ Nôm chỉ đồ cúng tế, quần áo mặc khi làm lễ.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Căn phòng mùa xuân
    Từ xa xôi xuân sải cánh, rồi bước gần và thong dong trở lại. Xếp 4 mùa ấm lạnh đã qua để đón mùa xuân, đón Tết thật bâng khuâng, có khi là nuối tiếc, lại có khi là mong xuân ùa ập vào khuôn cửa...
  • Đền Bạch Mã: Từ huyền tích vó ngựa đến di sản Thăng Long
    Trong lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đền Bạch Mã (trấn Đông) cùng với đền Voi Phục (trấn Tây), đền Kim Liên (trấn Nam) và đền Quán Thánh (trấn Bắc) được biết đến là “Thăng Long tứ trấn”, biểu tượng cho đời sống tâm linh chốn Kinh kỳ. Là ngôi đền trấn giữ phía Đông của kinh thành Thăng Long xưa, đền Bạch Mã được định vị ở phía Nam sông Tô Lịch trên bản đồ Hồng Đức thế kỷ XV, gần cửa sông Tô đổ ra sông Nhị (sông Hồng), thuộc phường Giang Khẩu. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, là vị thần Thành hoàng của thành Thăng Long, nay tọa lạc ở địa chỉ số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  • [Infographic] Làng nghề Hà Nội: Điểm đến hấp dẫn dịp Tết Nguyên đán
    Mỗi dịp Tết đến, xuân về, bên cạnh các điểm du lịch quen thuộc trong nội đô, nhiều làng nghề truyền thống của Hà Nội trở thành lựa chọn được đông đảo người dân và du khách tìm đến. Không chỉ đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, các làng nghề còn mang đến không gian trải nghiệm văn hóa, góp phần quảng bá giá trị di sản của Thủ đô.
  • Hà Nội treo cờ Tổ quốc chào mừng Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026
    Chào mừng Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, UBND Thành phố đề nghị các cơ quan, đơn vị, bệnh viện, trường học và Nhân dân treo cờ Tổ quốc từ ngày 14/02/2026 đến hết ngày 21/02/2026.
Đừng bỏ lỡ
Huế trong thơ Lê Vĩnh Thái
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO