Di vật khảo cổ học: Những giải mã ý nghĩa cho lịch sử và bảo tồn di sản

Nguyễn Văn Hảo| 14/11/2022 10:49

Song hành với công cuộc xây dựng đất nước, các di vật khảo cổ học được phát hiện ngày một nhiều. Việc xác định tộc thuộc của các di vật đó - điều cơ bản trong quá trình nghiên cứu và bảo tồn di vật khảo cổ học, càng trở nên cấp thiết bởi nó gắn liền với những giải mã lịch sử, cũng như việc bảo tồn di tích, di sản Việt.

Tuy nhiên, xác định tộc thuộc của một loại di vật không phải là công việc “một sớm một chiều”, có những hành trình kéo dài tới hàng chục năm, như việc xác định tộc thuộc của trống đồng Đông Sơn, của Nha Chương. Song đó là “động tác” đầy ý nghĩa đối với lịch sử và việc bảo tồn di sản văn hóa Việt.

hinh-dang-trong-dong-lang-vac-1(1).jpg
Hình dáng trống đồng Làng Vạc 1.

Thêm nhận diện cho di sản trống đồng Đông Sơn
Trong những năm 50 của thế kỷ trước, các nhà khảo cổ học Trung Quốc khai quật khu mộ táng người Điền ở Thạch Trại Sơn (huyện Tấn Ninh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), phát hiện gần 100 ngôi mộ của người Điền. Trong số 100 ngôi mộ đó có 10 ngôi mộ thuộc tầng lớp quý tộc nước Điền, và trong đồ tùy táng của họ có 19 chiếc trống đồng cùng gần 40 đồ vật liên quan đến trống đồng. Ngay lập tức, giới khảo cổ học Trung Quốc lên tiếng nhận di sản trống đồng là của dân tộc mình. Minh chứng là trong tác phẩm “Trống đồng cổ của Trung Quốc”, Hội nghiên cứu trống đồng cổ Trung Quốc nhận định: Sưu tập trống đồng đó là sản phẩm của người Điền, do người Điền chế tạo và sử dụng, nó là di vật của văn hóa Điền, bởi vì chúng được phát hiện trong mộ người Điền. Thêm vào đó, khi bàn về tộc thuộc của trống Đông Sơn (trống Thạch Trại Sơn), các nhà khảo cổ học Trung Quốc còn cho rằng, phạm vi phân bố của loại trống này khá rộng, 6 dân tộc cư trú trong phạm vi đó đều là dân tộc chế tạo và sử dụng loại trống này.

hoa-van-trang-tri-tren-mat-trong-dong-ngoc-lu-anh-bao-tang-lich-su-quoc-gia..jpg
Hoa văn trang trí trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia.


Luận điểm đó của giới khảo cổ học Trung Quốc không khỏi tạo ra những tranh cãi về chuyên môn cho giới khảo cổ học Việt Nam. Ta có thể đặt câu hỏi cho một số vấn đề: Nếu coi sưu tập trống Đông Sơn chôn trong mộ người Điền là sản phẩm của người Điền, do người Điền chế tạo, thì tại sao các đồ vật bằng đồng khác của văn hóa Điền lại không trang trí hoa văn người lông chim như trên trống đồng? Ngược lại, hoa văn người lông chim không chỉ trang trí trên trống đồng Đông Sơn mà còn trang trí trên một số đồ đồng của văn hóa Đông Sơn như thạp, thố, chậu, rìu, hộ tâm phiến… tất cả đều là di vật của văn hóa Đông Sơn.
Các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng 6 dân tộc sinh sống trong phạm vi phân bố của trống Đông Sơn (trống Thạch Trại Sơn) đều là tác giả đã chế tạo và sử dụng trống Đông Sơn. Chúng ta đều biết, đến nay, trong 6 dân tộc ngụ cư tại đó, chỉ có người Lạc Việt và người Điền là có một nền văn hóa đồ đồng phát triển, 4 dân tộc còn lại chưa phát hiện được bất kỳ thứ đồ đồng nào thuộc về họ. Vậy làm sao họ có thể chế tạo ra một loại nhạc cụ - trống đồng - có kích thước lớn và hoa văn trang trí đẹp như vậy?
Hơn thế nữa, trong khu vực cư trú của một vài dân tộc ở khu vực Tây Nam Quảng Tây và khu vực Bắc Việt Nam, ngoài trống đồng Đông Sơn, còn phát hiện một loại trống khác là trống Vạn Gia Bá. Vậy ngoài dân tộc chế tạo trống đồng Đông Sơn, dân tộc nào đã chế tạo ra loại trống Vạn Gia Bá đang tồn tại ở đây?

nha-chuong-tim-thay-tai-phu-tho.jpg
Một số Nha chương được tìm thấy tại tỉnh Phú Thọ (Ảnh do PGS.TS. Đặng Hồng Sơn cung cấp)


Một điều đáng chú ý, trong sưu tập trống chôn trong mộ người Điền ở Thạch Trại Sơn, có một số trống Đông Sơn bị người Điền cạo sạch hoa văn người lông chim, khắc đè lên đó hoa văn người mặc áo dài - hình ảnh của người Điền, biến trống Đông Sơn thành trống của người Điền. Vì sao người Điền lại làm như vậy? Có gì khác ngoài nguyên nhân: vì trống Đông Sơn - trống có trang trí hoa văn người lông chim, không phải là trống thuộc văn hóa Điền. Điều đó ngược với luận điểm của các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng trống chôn trong mộ người Điền đều là trống của người Điền, do người Điền chế tạo.


Trong sưu tập trống chôn trong mộ người Điền chủ yếu là trống Đông Sơn - trống do người Lạc Việt chế tạo và trống của người Điền do người Điền mô phỏng trống Đông Sơn hoặc cải tạo trống Đông Sơn thành trống người Điền. Vậy, một sưu tập trống Đông Sơn - trống do người Lạc Việt chế tạo, đã tồn tại ở đây bằng cách nào?


Tóm lại, xác định tộc thuộc của trống đồng nói riêng và các loại di vật khảo cổ học nói chung, không đơn giản chỉ dựa vào tiêu chí địa điểm, hoặc di tích đã phát hiện ra chúng. Đồng nghĩa, khi chiếc trống đồng (trước nay vẫn thuộc về văn hóa Đông Sơn, do người Lạc Việt chế tác) được phát hiện tại khu Thạch Trại Sơn (Trung Quốc), các nhà khảo cổ học Trung Quốc lại đặt ra vấn đề: Trống Đông Sơn (mà các nhà khảo cổ học Trung Quốc gọi là trống Thạch Trại Sơn) là sản phẩm của các dân tộc sinh sống trên đất nước Trung Quốc ngày nay là hoàn toàn không có căn cứ. Chính những nghiên cứu để xác định đúng tộc thuộc của trống đồng Đông Sơn đã cho ta thêm những nhận định về một di sản quý giá của người Việt cổ này.

Chứng tích của cuộc đấu tranh chống giặc Ân

Từ năm 1976, trong quá trình lao động và sản xuất, người dân Phú Thọ đã tìm thấy một sưu tập đồ đá có hình dáng kỳ lạ. Chúng được làm bằng loại đá có độ hạt mịn, độ cứng cao (Nephơrít), mài nhẵn toàn thân, trên thân không còn dấu vết ban đầu. Các di vật đá đó có thân hình mỏng, rộng hẹp, dài ngắn khác nhau gồm: chuôi, thân, lưỡi và 2 mấu nhỏ ở phần tiếp giáp giữa chuôi và thân. Mô tả bộ sưu tập đồ đá, các nhà khảo cổ học ghi nhận: Chuôi thường có hình chữ nhật, ngắn gần vuông, trên chuôi thường có từ một đến hai lỗ khoan nhỏ, có thể dùng trong lúc táp thêm một cán, chuôi bằng gỗ; thân mỏng dài, lưỡi ở đầu thân, có loại lưỡi tương tự như đuôi cá, có loại cong lõm vào. Thoáng nhìn nó giống như một chiếc răng, có chân răng, thân răng. Nhìn chung di vật mảnh mai, không phù hợp với một công cụ dùng trong lao động sản xuất hoặc một công việc đòi hỏi sức mạnh. Hơn nữa, tại nơi được gọi là lưỡi, chưa phát hiện thấy dấu vết sử dụng… Bước đầu, giới làm khảo cổ đoán định, nó có thể là một biểu tượng cho một ý tưởng nào đó của triều đại.


Tuy nhiên, loại di vật này đã từng được tìm thấy ở Trung Quốc, các nhà khảo cổ học Trung Quốc gọi nó là Nha chương. Nhiều nhất là những chiếc Nha chương của triều đại nhà Thương, được coi là những Nha chương có niên đại sớm nhất. Chúng có hình dáng phong phú, biến đổi theo thời gian và địa điểm phát hiện. Cho đến nay, các nhà khảo cổ học Trung Quốc cũng chưa có câu trả lời thống nhất cho câu hỏi “Nha chương được chế tạo để làm gì?”. Song, đáng chú ý trong số các ý kiến đưa ra đó có quan điểm cho rằng loại di vật này liên quan đến quân sự, dùng để điều binh khiển tướng. Đây là chiều suy luận thuyết phục, bởi di vật được phát hiện trong di chỉ của triều đại xã hội phát triển. Nhà Thương lúc đó đã bước vào xã hội nô lệ, mọi mặt đều phát triển, đã phát minh ra chữ viết…, lại thường xuyên đem quân đi xâm lược các dân tộc khác để cướp của, bắt người làm nô lệ. Do vậy, việc điều binh, khiển tướng trở thành nhu cầu của tầng lớp quý tộc lúc đó.


Trở lại với bộ sưu tập đồ đá ở Phú Thọ, tính đến nay đã phát hiện được 8 thanh Nha chương, trong đó 3 chiếc trong di chỉ Phùng Nguyên, 5 chiếc trong di chỉ xóm Rền, đều là di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên. Chúng tồn tại trong mộ táng, trong hố đất đen, trong tầng văn hóa của di chỉ đó. Nhưng cũng cần nói thêm, không phải mộ táng, hố đất đen của di chỉ khác thuộc văn hóa Phùng Nguyên cũng phát hiện di vật này. Ví dụ như ở di chỉ Nghĩa Lập gần đó - cũng là một di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên, nhưng trong mộ táng, hố đất đen, tầng văn hóa… chưa phát hiện một thanh Nha chương nào.


Không ít câu hỏi đã được đưa ra cho Nha chương ở Phú Thọ: Thứ nhất, nếu chúng là di vật của văn hóa Phùng Nguyên, vì sao chỉ tập trung trong một hai di chỉ? Thứ hai, nếu chúng là di vật của văn hóa Phùng Nguyên, thì nhu cầu của người Phùng Nguyên đối với di vật này như thế nào? Thứ ba, những chiếc Nha chương phát hiện ở Phú Thọ lại rất giống với những chiếc Nha chương của nhà Thương. Do vậy rất khó nhận định, những chiếc Nha chương phát hiện ở Phú Thọ là sản phẩm của người Phùng Nguyên chế tạo... Trong một lần trao đổi với cố Giáo sư Hà Văn Tấn, tác giả bài viết này đã từng bày tỏ quan điểm và nhận được sự đồng tình của ông khi nhận định, loại di vật này không phải là của văn hóa Phùng Nguyên. Sự có mặt của chúng ở Phú Thọ hẳn liên quan đến cuộc xâm lược của nhà Thương đối với nước ta.


Người Việt không ai không biết câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, nhưng không phải ai cũng giải mã được giặc Ân từ nước nào, thuộc thời đại nào ở phương Bắc đến xâm lược nước ta. Theo lịch sử Trung Quốc, sau khi nhà Hạ bị lật đổ, nhà Thương ra đời, vào giai đoạn cuối, nhà Thương chuyển đến khu vực Ân Khư, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam ngày nay, và cũng từ đó nhà Thương được gọi là nhà Ân. Nhà Ân chính là tên gọi khác của nhà Thương, giặc Ân mà nhân dân ta gọi chính là giặc nhà Thương. Chuyện Thánh Gióng còn cho biết lúc đó nhân dân ta đã biết dùng vũ khí bằng sắt như kiếm sắt, roi sắt... để đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi. Từ đây, có thể suy luận, những thanh Nha chương ở Phú Thọ hẳn có liên quan đến giặc Ân xâm lược nước ta. Chúng chính là chứng tích của cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của giặc Ân (nhà Thương) ra khỏi bờ cõi.
Câu chuyện của trống đồng Đông Sơn và Nha chương ở Phú Thọ là minh chứng rõ nét cho sự tham gia của di vật khảo cổ vào giải mã lịch sử, góp phần bảo tồn di sản. Rõ ràng, khảo cổ học với những điều “tai nghe mắt thấy” từ thực tế có vai trò đắc lực trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Việt

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Lễ hội Đả Ngư đền Và năm 2026: Hướng về nguồn cội, quảng bá các giá trị lịch sử, văn hóa Hà Nội
    Cụ thể hóa Chương trình hành động số 08-Ctr/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống, UBND phường Sơn Tây (TP Hà Nội) cho biết, đang tích cực triển khai các công tác chuẩn bị, sẵn sàng tổ chức Lễ hội Đả Ngư đền Và - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Cỗ gà lão làng Triều Đông
    Triều Đông là một trong năm làng của xã Tân Minh, huyện Thường Tín (nay thuộc xã Thượng Phúc, Thành phố Hà Nội), thờ ba vị thần Việt Hồng, Việt Tuấn và Việt Chân.
  • Huế khảo sát, định hướng phát huy giá trị các di sản và không gian văn hóa
    TP Huế khảo sát, định hướng kết nối giữa các điểm di tích, không gian văn hóa và cảnh quan sông nước để hình thành những sản phẩm văn hóa, du lịch đặc trưng và nâng cao chất lượng trải nghiệm của du khách.
  • Gìn giữ và phát huy giá trị Di sản văn hóa thế giới Hoàng Thành Thăng Long
    Điện Kính Thiên là cung điện quan trọng nhất nằm giữa trung tâm Cấm thành Thăng Long, nơi ngự trị của các Hoàng đế và là biểu tượng cho quyền lực tối cao của nước Đại Việt thời kỳ nhà Lê từ thế kỷ XV đến XVIII. Đây là nơi diễn ra các nghi thức quan trọng nhất của quốc gia như: lễ Đăng cơ (Hoàng đế lên ngôi), lễ Đại triều và lễ đón tiếp sứ thần các nước... Việc nghiên cứu phục dựng Chính điện Kính Thiên, góp phần phát huy giá trị di sản. Đây là một dấu mốc quan trọng trong hành trình bảo tồn và phát huy giá
  • “Thanh âm Gốm”- cách cảm nhận mới về di sản làng nghề
    Trong khuôn khổ Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, tối 19/9, chương trình biểu diễn nghệ thuật “Thanh âm Gốm” diễn ra tại Làng gốm Bát Tràng đưa công chúng đến với một cách cảm nhận mới về di sản làng nghề, khi gốm không chỉ được nhìn ngắm qua hình dáng, màu men mà còn được lắng nghe qua âm thanh, chuyển động và nghệ thuật trình diễn đương đại.
  • Định vị Cổ Loa trong lịch sử khu vực và văn minh nhân loại
    Lưu giữ dấu tích của một kinh đô cổ cùng những truyền thuyết gắn với buổi đầu dựng nước, Cổ Loa đồng thời chứa đựng những giá trị có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một di sản quốc gia. Trên cơ sở nhận diện, làm rõ giá trị nổi bật toàn cầu, Hà Nội đang từng bước triển khai chuẩn bị hồ sơ đề cử Khu di tích Cổ Loa trình UNESCO xem xét ghi danh vào Danh mục Di sản thế giới, qua đó làm nổi bật vị thế của kinh đô Âu Lạc trong lịch sử Đông Nam Á và tiến trình hình thành các nền văn minh của nhân loại.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Cải lương trong không gian nghệ thuật cộng đồng bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 18/10, tại sân khấu Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện mang đến một không gian nghệ thuật giàu màu sắc với các tiết mục tân cổ, ca cổ, hát xẩm và múa. Từ những giai điệu về quê hương, Hà Nội đến những câu chuyện lịch sử được kể bằng ngôn ngữ sân khấu, chương trình góp phần đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng trong không gian mở.
  • "Lời của Tre": Kể chuyện văn hóa Việt bằng ngôn ngữ sân khấu đương đại
    Ngày 17/10, tại Hà Nội, Liên đoàn Xiếc Việt Nam trình diễn vở “Lời của Tre”, một trong 15 tác phẩm tiêu biểu tham gia Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026. Lấy hình tượng cây tre - biểu tượng của bản lĩnh, sự bền bỉ và sức sống dân tộc làm trung tâm, vở diễn kết hợp nghệ thuật xiếc, hình thể, âm nhạc và công nghệ sân khấu hiện đại, góp phần chuyển tải những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
  • Festival Bảo tồn Phát triển làng nghề toàn cầu: Kết nối để phát huy giá trị văn hóa
    Nhằm tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống và tạo đà bứt phá cho ngành chế tác thủ công, Thành phố Hà Nội phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường sắp tổ chức Lễ hội Bảo tồn và Phát triển làng nghề toàn cầu lần thứ nhất. Sự kiện quy tụ khoảng 200 đại biểu quốc tế đến từ 40 đến 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp năm châu lục.
  • Mẹ tôi
    Năm ấy, anh trai tôi vừa tròn mười tám tuổi thì lên đường nhập ngũ. Anh mặc quân phục khoác ba lô lên đường vào Nam với nụ cười hồn nhiên của tuổi trẻ và lời hẹn sẽ trở về trong ngày chiến thắng. Không ai ngờ buổi tiễn đưa hôm ấy lại là lần cuối cùng mẹ tôi được nhìn thấy anh. Chỉ một năm sau, anh hy sinh tại Quảng Trị. Từ đó, trong lòng mẹ có một khoảng trống không gì khỏa lấp nổi.
  • Mở rộng thị trường cho ngành gỗ và nội thất Việt Nam tại Hoa Kỳ
    Trong khuôn khổ Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Khu gian hàng Quốc gia Việt Nam tại Hội chợ High Point Market 2026, diễn ra từ ngày 17 đến ngày 21/10/2026 tại thành phố High Point, bang North Carolina, Hoa Kỳ. Năm nay, Khu gian hàng Quốc gia Việt Nam có diện tích hơn 300 m², quy tụ 16 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực đồ gỗ, nội thất, thủ công mỹ nghệ, mây tre và trang trí nội thất.
Đừng bỏ lỡ
  • Thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân Nhân dân" và "Nghệ nhân Ưu tú"
    Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1998/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ngày 16/10/2026, chính thức thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân Nhân dân" và "Nghệ nhân Ưu tú" trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể lần thứ Tư.
  • Ngành triển lãm và sự kiện góp phần kết nối văn hóa với du lịch, sáng tạo và thị trường
    Tuần lễ Tổ chức Sự kiện và Triển lãm Việt Nam 2026 (VEEW 2026) mở ra không gian giao thương, giới thiệu công nghệ và tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sự kiện trong nước.
  • Cuộc gặp gỡ thú vị giữa nhiều sắc thái âm nhạc bên hồ Gươm
    Từ nhịp jazz ngẫu hứng của Charlie Parker, Miles Davis đến những ca khúc Việt Nam quen thuộc như "Tóc mây", "Hoa sữa", "Hãy yêu nhau đi", chương trình "Âm nhạc cuối tuần" diễn ra vào lúc 17h ngày 18/10 tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ hứa hẹn mở ra cuộc gặp gỡ thú vị giữa nhiều sắc thái âm nhạc, mà ở đó những giai điệu trong nước và quốc tế sẽ hòa quyện giữa không gian phố phường, góp thêm một điểm hẹn nghệ thuật cho đời sống văn hóa cộng đồng.
  • Hà Nội tạo nền tảng pháp lý để phát triển đô thị theo mô hình TOD
    Với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phát triển Thủ đô Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc trong thời kỳ mới; triển khai cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, HĐND Thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND. Đây là văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị và phát triển đô thị theo mô hình TOD.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bên triền núi (Kỳ 1)
    Đường quanh núi thoai thoải, dài như sợi chỉ vô tận. Ở giữa sợi chỉ có một nhánh rẽ, dẫn đến một ngôi nhà thong dong bên triền. Chiếc xe đen bóng đi ngang qua rồi phanh gấp. Xe khựng lại, bước xuống là tôi, một cô gái với chiếc váy màu xanh, bình thường như mọi cô gái khác...
  • “Gặp em cô gái Việt Nam” - Bản tình ca tôn vinh vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam
    Ra mắt nhân dịp 20/10, ca khúc “Gặp em cô gái Việt Nam” của nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung như một lời tri ân đầy ý nghĩa dành cho những người mẹ, người phụ nữ Việt Nam - những người bằng tình yêu thương, sự bền bỉ và những hy sinh thầm lặng đã vun đắp hạnh phúc gia đình, góp phần làm nên vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
  • Khi di sản văn hoá trở thành nguồn lực phát triển Thủ đô
    Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị xác định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước. Từ thực tiễn các hoạt động văn hóa sôi động tại Hà Nội trong tháng 10/2026, có thể thấy việc kết nối di sản với du lịch và công nghiệp sáng tạo đang mở ra hướng đi mới, góp phần chuyển hóa những giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế.
  • Dự thảo Nghị định sửa đổi quy định về nghệ thuật biểu diễn có nhiều điểm mới
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến về Dự thảo Nghị định sửa đổi quy định về nghệ thuật biểu diễn đang thu hút sự chú ý khi đề xuất bãi bỏ hàng loạt thủ tục cấp phép. Thay vì phải chờ văn bản chấp thuận như trước, các đơn vị tổ chức biểu diễn, thi người đẹp hay liên hoan nghệ thuật sẽ chuyển sang cơ chế thông báo và chịu sự giám sát hậu kiểm từ chính quyền địa phương. Thay đổi này hứa hẹn cởi bỏ rào cản hành chính, mở ra không gian sáng tạo chuyên nghiệp hơn.
  • Phát động Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật về thương binh, liệt sĩ và người có công
    Sáng ngày 15/10/2026, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chính thức phát động Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Đây là sự kiện có ý nghĩa thiết thực hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027), đồng thời góp phần triển khai Kết luận số 57-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và đồng hành cùng chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trên cả nước.
  • Lùi thời gian tổ chức Festival Thu Hà Nội 2026
    Theo kế hoạch dự kiến ban đầu, Festival Thu Hà Nội năm 2026 sẽ diễn ra từ ngày 16 tháng 10 đến ngày 18 tháng 10 năm 2026 tại không gian Công viên Thống Nhất, phường Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, do phát sinh một số lý do khách quan, Ban Tổ chức đã quyết định tạm hoãn và lùi thời điểm diễn ra sự kiện sang một khoảng thời gian khác phù hợp hơn.
Di vật khảo cổ học: Những giải mã ý nghĩa cho lịch sử và bảo tồn di sản
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO