Di vật khảo cổ học: Những giải mã ý nghĩa cho lịch sử và bảo tồn di sản

Nguyễn Văn Hảo| 14/11/2022 10:49

Song hành với công cuộc xây dựng đất nước, các di vật khảo cổ học được phát hiện ngày một nhiều. Việc xác định tộc thuộc của các di vật đó - điều cơ bản trong quá trình nghiên cứu và bảo tồn di vật khảo cổ học, càng trở nên cấp thiết bởi nó gắn liền với những giải mã lịch sử, cũng như việc bảo tồn di tích, di sản Việt.

Tuy nhiên, xác định tộc thuộc của một loại di vật không phải là công việc “một sớm một chiều”, có những hành trình kéo dài tới hàng chục năm, như việc xác định tộc thuộc của trống đồng Đông Sơn, của Nha Chương. Song đó là “động tác” đầy ý nghĩa đối với lịch sử và việc bảo tồn di sản văn hóa Việt.

hinh-dang-trong-dong-lang-vac-1(1).jpg
Hình dáng trống đồng Làng Vạc 1.

Thêm nhận diện cho di sản trống đồng Đông Sơn
Trong những năm 50 của thế kỷ trước, các nhà khảo cổ học Trung Quốc khai quật khu mộ táng người Điền ở Thạch Trại Sơn (huyện Tấn Ninh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc), phát hiện gần 100 ngôi mộ của người Điền. Trong số 100 ngôi mộ đó có 10 ngôi mộ thuộc tầng lớp quý tộc nước Điền, và trong đồ tùy táng của họ có 19 chiếc trống đồng cùng gần 40 đồ vật liên quan đến trống đồng. Ngay lập tức, giới khảo cổ học Trung Quốc lên tiếng nhận di sản trống đồng là của dân tộc mình. Minh chứng là trong tác phẩm “Trống đồng cổ của Trung Quốc”, Hội nghiên cứu trống đồng cổ Trung Quốc nhận định: Sưu tập trống đồng đó là sản phẩm của người Điền, do người Điền chế tạo và sử dụng, nó là di vật của văn hóa Điền, bởi vì chúng được phát hiện trong mộ người Điền. Thêm vào đó, khi bàn về tộc thuộc của trống Đông Sơn (trống Thạch Trại Sơn), các nhà khảo cổ học Trung Quốc còn cho rằng, phạm vi phân bố của loại trống này khá rộng, 6 dân tộc cư trú trong phạm vi đó đều là dân tộc chế tạo và sử dụng loại trống này.

hoa-van-trang-tri-tren-mat-trong-dong-ngoc-lu-anh-bao-tang-lich-su-quoc-gia..jpg
Hoa văn trang trí trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia.


Luận điểm đó của giới khảo cổ học Trung Quốc không khỏi tạo ra những tranh cãi về chuyên môn cho giới khảo cổ học Việt Nam. Ta có thể đặt câu hỏi cho một số vấn đề: Nếu coi sưu tập trống Đông Sơn chôn trong mộ người Điền là sản phẩm của người Điền, do người Điền chế tạo, thì tại sao các đồ vật bằng đồng khác của văn hóa Điền lại không trang trí hoa văn người lông chim như trên trống đồng? Ngược lại, hoa văn người lông chim không chỉ trang trí trên trống đồng Đông Sơn mà còn trang trí trên một số đồ đồng của văn hóa Đông Sơn như thạp, thố, chậu, rìu, hộ tâm phiến… tất cả đều là di vật của văn hóa Đông Sơn.
Các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng 6 dân tộc sinh sống trong phạm vi phân bố của trống Đông Sơn (trống Thạch Trại Sơn) đều là tác giả đã chế tạo và sử dụng trống Đông Sơn. Chúng ta đều biết, đến nay, trong 6 dân tộc ngụ cư tại đó, chỉ có người Lạc Việt và người Điền là có một nền văn hóa đồ đồng phát triển, 4 dân tộc còn lại chưa phát hiện được bất kỳ thứ đồ đồng nào thuộc về họ. Vậy làm sao họ có thể chế tạo ra một loại nhạc cụ - trống đồng - có kích thước lớn và hoa văn trang trí đẹp như vậy?
Hơn thế nữa, trong khu vực cư trú của một vài dân tộc ở khu vực Tây Nam Quảng Tây và khu vực Bắc Việt Nam, ngoài trống đồng Đông Sơn, còn phát hiện một loại trống khác là trống Vạn Gia Bá. Vậy ngoài dân tộc chế tạo trống đồng Đông Sơn, dân tộc nào đã chế tạo ra loại trống Vạn Gia Bá đang tồn tại ở đây?

nha-chuong-tim-thay-tai-phu-tho.jpg
Một số Nha chương được tìm thấy tại tỉnh Phú Thọ (Ảnh do PGS.TS. Đặng Hồng Sơn cung cấp)


Một điều đáng chú ý, trong sưu tập trống chôn trong mộ người Điền ở Thạch Trại Sơn, có một số trống Đông Sơn bị người Điền cạo sạch hoa văn người lông chim, khắc đè lên đó hoa văn người mặc áo dài - hình ảnh của người Điền, biến trống Đông Sơn thành trống của người Điền. Vì sao người Điền lại làm như vậy? Có gì khác ngoài nguyên nhân: vì trống Đông Sơn - trống có trang trí hoa văn người lông chim, không phải là trống thuộc văn hóa Điền. Điều đó ngược với luận điểm của các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng trống chôn trong mộ người Điền đều là trống của người Điền, do người Điền chế tạo.


Trong sưu tập trống chôn trong mộ người Điền chủ yếu là trống Đông Sơn - trống do người Lạc Việt chế tạo và trống của người Điền do người Điền mô phỏng trống Đông Sơn hoặc cải tạo trống Đông Sơn thành trống người Điền. Vậy, một sưu tập trống Đông Sơn - trống do người Lạc Việt chế tạo, đã tồn tại ở đây bằng cách nào?


Tóm lại, xác định tộc thuộc của trống đồng nói riêng và các loại di vật khảo cổ học nói chung, không đơn giản chỉ dựa vào tiêu chí địa điểm, hoặc di tích đã phát hiện ra chúng. Đồng nghĩa, khi chiếc trống đồng (trước nay vẫn thuộc về văn hóa Đông Sơn, do người Lạc Việt chế tác) được phát hiện tại khu Thạch Trại Sơn (Trung Quốc), các nhà khảo cổ học Trung Quốc lại đặt ra vấn đề: Trống Đông Sơn (mà các nhà khảo cổ học Trung Quốc gọi là trống Thạch Trại Sơn) là sản phẩm của các dân tộc sinh sống trên đất nước Trung Quốc ngày nay là hoàn toàn không có căn cứ. Chính những nghiên cứu để xác định đúng tộc thuộc của trống đồng Đông Sơn đã cho ta thêm những nhận định về một di sản quý giá của người Việt cổ này.

Chứng tích của cuộc đấu tranh chống giặc Ân

Từ năm 1976, trong quá trình lao động và sản xuất, người dân Phú Thọ đã tìm thấy một sưu tập đồ đá có hình dáng kỳ lạ. Chúng được làm bằng loại đá có độ hạt mịn, độ cứng cao (Nephơrít), mài nhẵn toàn thân, trên thân không còn dấu vết ban đầu. Các di vật đá đó có thân hình mỏng, rộng hẹp, dài ngắn khác nhau gồm: chuôi, thân, lưỡi và 2 mấu nhỏ ở phần tiếp giáp giữa chuôi và thân. Mô tả bộ sưu tập đồ đá, các nhà khảo cổ học ghi nhận: Chuôi thường có hình chữ nhật, ngắn gần vuông, trên chuôi thường có từ một đến hai lỗ khoan nhỏ, có thể dùng trong lúc táp thêm một cán, chuôi bằng gỗ; thân mỏng dài, lưỡi ở đầu thân, có loại lưỡi tương tự như đuôi cá, có loại cong lõm vào. Thoáng nhìn nó giống như một chiếc răng, có chân răng, thân răng. Nhìn chung di vật mảnh mai, không phù hợp với một công cụ dùng trong lao động sản xuất hoặc một công việc đòi hỏi sức mạnh. Hơn nữa, tại nơi được gọi là lưỡi, chưa phát hiện thấy dấu vết sử dụng… Bước đầu, giới làm khảo cổ đoán định, nó có thể là một biểu tượng cho một ý tưởng nào đó của triều đại.


Tuy nhiên, loại di vật này đã từng được tìm thấy ở Trung Quốc, các nhà khảo cổ học Trung Quốc gọi nó là Nha chương. Nhiều nhất là những chiếc Nha chương của triều đại nhà Thương, được coi là những Nha chương có niên đại sớm nhất. Chúng có hình dáng phong phú, biến đổi theo thời gian và địa điểm phát hiện. Cho đến nay, các nhà khảo cổ học Trung Quốc cũng chưa có câu trả lời thống nhất cho câu hỏi “Nha chương được chế tạo để làm gì?”. Song, đáng chú ý trong số các ý kiến đưa ra đó có quan điểm cho rằng loại di vật này liên quan đến quân sự, dùng để điều binh khiển tướng. Đây là chiều suy luận thuyết phục, bởi di vật được phát hiện trong di chỉ của triều đại xã hội phát triển. Nhà Thương lúc đó đã bước vào xã hội nô lệ, mọi mặt đều phát triển, đã phát minh ra chữ viết…, lại thường xuyên đem quân đi xâm lược các dân tộc khác để cướp của, bắt người làm nô lệ. Do vậy, việc điều binh, khiển tướng trở thành nhu cầu của tầng lớp quý tộc lúc đó.


Trở lại với bộ sưu tập đồ đá ở Phú Thọ, tính đến nay đã phát hiện được 8 thanh Nha chương, trong đó 3 chiếc trong di chỉ Phùng Nguyên, 5 chiếc trong di chỉ xóm Rền, đều là di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên. Chúng tồn tại trong mộ táng, trong hố đất đen, trong tầng văn hóa của di chỉ đó. Nhưng cũng cần nói thêm, không phải mộ táng, hố đất đen của di chỉ khác thuộc văn hóa Phùng Nguyên cũng phát hiện di vật này. Ví dụ như ở di chỉ Nghĩa Lập gần đó - cũng là một di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên, nhưng trong mộ táng, hố đất đen, tầng văn hóa… chưa phát hiện một thanh Nha chương nào.


Không ít câu hỏi đã được đưa ra cho Nha chương ở Phú Thọ: Thứ nhất, nếu chúng là di vật của văn hóa Phùng Nguyên, vì sao chỉ tập trung trong một hai di chỉ? Thứ hai, nếu chúng là di vật của văn hóa Phùng Nguyên, thì nhu cầu của người Phùng Nguyên đối với di vật này như thế nào? Thứ ba, những chiếc Nha chương phát hiện ở Phú Thọ lại rất giống với những chiếc Nha chương của nhà Thương. Do vậy rất khó nhận định, những chiếc Nha chương phát hiện ở Phú Thọ là sản phẩm của người Phùng Nguyên chế tạo... Trong một lần trao đổi với cố Giáo sư Hà Văn Tấn, tác giả bài viết này đã từng bày tỏ quan điểm và nhận được sự đồng tình của ông khi nhận định, loại di vật này không phải là của văn hóa Phùng Nguyên. Sự có mặt của chúng ở Phú Thọ hẳn liên quan đến cuộc xâm lược của nhà Thương đối với nước ta.


Người Việt không ai không biết câu chuyện Thánh Gióng đánh giặc Ân, nhưng không phải ai cũng giải mã được giặc Ân từ nước nào, thuộc thời đại nào ở phương Bắc đến xâm lược nước ta. Theo lịch sử Trung Quốc, sau khi nhà Hạ bị lật đổ, nhà Thương ra đời, vào giai đoạn cuối, nhà Thương chuyển đến khu vực Ân Khư, huyện An Dương, tỉnh Hà Nam ngày nay, và cũng từ đó nhà Thương được gọi là nhà Ân. Nhà Ân chính là tên gọi khác của nhà Thương, giặc Ân mà nhân dân ta gọi chính là giặc nhà Thương. Chuyện Thánh Gióng còn cho biết lúc đó nhân dân ta đã biết dùng vũ khí bằng sắt như kiếm sắt, roi sắt... để đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi. Từ đây, có thể suy luận, những thanh Nha chương ở Phú Thọ hẳn có liên quan đến giặc Ân xâm lược nước ta. Chúng chính là chứng tích của cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của giặc Ân (nhà Thương) ra khỏi bờ cõi.
Câu chuyện của trống đồng Đông Sơn và Nha chương ở Phú Thọ là minh chứng rõ nét cho sự tham gia của di vật khảo cổ vào giải mã lịch sử, góp phần bảo tồn di sản. Rõ ràng, khảo cổ học với những điều “tai nghe mắt thấy” từ thực tế có vai trò đắc lực trong công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Việt

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Di sản làng nghề “kết duyên” sáng tạo
    Là nơi lưu giữ ký ức, kỹ năng và bản sắc cộng đồng, các làng nghề Hà Nội dần trở thành nguồn lực cho sáng tạo. Sự gặp gỡ giữa nghệ nhân và nhà thiết kế, nghệ sĩ đang mở ra những khả năng phát triển mới cho thủ công đương đại trên nền tảng di sản. Từ những cuộc “kết duyên” đầy cảm hứng ấy, Hà Nội đang khơi thông mạch ngầm của hệ sinh thái thủ công, biến vốn cổ thành động lực bền vững cho tương lai.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • Khơi nguồn sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân, chung sức phát triển Thủ đô Hà Nội
    Chiều 29/7, Thành ủy Hà Nội tổ chức gặp mặt đại biểu văn nghệ sĩ, trí thức, nghệ nhân tiêu biểu trên địa bàn thành phố. Đây là dịp để lãnh đạo thành phố lắng nghe những hiến kế về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và phát huy nguồn lực con người, góp phần tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
  • Ngôi nhà xưa và ký ức về bà
    Tôi không nhớ lần đầu tôi được bố tôi đưa về quê nội là năm tôi mấy tuổi, chỉ nhớ là rất bé. Thế nhưng những ấn tượng của những ngày thơ ấu ở quê thì tôi vẫn nhớ, vẫn còn nguyên trong ký ức. Tôi nhớ cái cổng nhỏ với hàng rào dâm bụt, nhớ ngôi nhà mái ngói, khoảng sân rộng với hai cây cau cao vút, căn bếp luôn thơm nồng khói lửa…; nhớ ông tôi rất nghiêm, bà tôi rất hiền và cô tôi (tất nhiên khi đó chưa lấy chồng) thì rất tuyệt vời!
  • Bộ ba ấn phẩm phẫu thuật tim mạch: Cột mốc mới trong đào tạo y khoa thực hành
    Trong y học hiện đại, phẫu thuật tim mạch luôn được coi là một trong những đỉnh cao về kỹ thuật và bản lĩnh lâm sàng. Tuy nhiên, mọi thành tựu nếu chỉ dừng lại ở bàn mổ sẽ khó tạo nên tính bền vững cho nền y tế chung. Chuyển hóa những kinh nghiệm từ thực tiễn thành nguồn tri thức học thuật bài bản, chuẩn hóa chính là chìa khóa then chốt để đào tạo thế hệ kế thừa. Mới đây, bước tiến ấy đã được cụ thể hóa bằng sự ra mắt của bộ ba ấn phẩm y học chuyên ngành do PGS.TS. Nguyễn Sinh Hiền – Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội chủ biên, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong công tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ phẫu thuật tim tại Việt Nam.
Đừng bỏ lỡ
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim.
  • Âm nhạc cuối tuần: “Chất men” văn hóa giữa lòng Hà Nội
    Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
  • Đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng, bồi đắp tình yêu lịch sử qua “Âm nhạc cộng đồng”
    Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
  • “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội”: Kích cầu du lịch văn hóa, kinh tế đêm Thủ đô
    “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
  • Kiệt tác opera “La Traviata” của Ý chuẩn bị công chiếu tại Hà Nội
    Trong hai đêm 30 và 31/7/2026, Nhà hát Hồ Gươm, khán giả yêu nghệ thuật hàn lâm tại Hà Nội sẽ được hòa mình vào không gian âm nhạc đỉnh cao với sự xuất hiện của vở opera kinh điển “La Traviata”.
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Di vật khảo cổ học: Những giải mã ý nghĩa cho lịch sử và bảo tồn di sản
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO