Văn học - Nghệ thuật

Di sản văn hoá, văn nghệ đặc sắc, quý giá của Nguyễn Đình Thi cho hôm nay và mai sau

PGS.TS.Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ 20/12/2024 15:47

Nguyễn Đình Thi là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam hiện đại, nổi trội ở sự thông tuệ, đa tài, xuất sắc, đặc sắc ở nhiều lĩnh vực cả sáng tạo văn hóa và lãnh đạo văn hóa. Ông sinh ngày 20/12/1924 ở Luang Prabang (Lào), nguyên quán là làng Vũ Thạch, nay là phố Bà Triệu, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

screenshot-1734666139890.png
Bút tích của nhà văn Nguyễn Đình Thi. Ảnh tư liệu.

Năm lên sáu tuổi, ông cùng gia đình về quê hương. Ông say mê văn chương, âm nhạc, mĩ thuật từ nhỏ; học và tìm hiểu triết học khi còn là học sinh trường Bưởi, sau là Ban Triết, Trường Đại học Đông Dương. Trong ông vừa có sự đằm sâu văn hóa Việt, vừa tiếp nhận hài hòa văn hóa Pháp. Hà Nội với ông là “Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây. Đây lắng hồn núi sông ngàn năm. Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu… Đây Ô Chợ Dừa kia Ô Cầu Dền làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm… quanh co chen ngang rộn ràng Đồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ, Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Hàng Bạc, Hàng Gai” (Người Hà Nội, 1947).

Văn hóa, triết học, mĩ học trong ông là sự kết nối, hòa đồng Đông-Tây, kim-cổ, là Phật Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử, Lão Trang, Chúa Jesus, Đức Mohamed; là Trung Hoa, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại; là thần thi ca Apollon, nữ thần Athena, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... Ông yêu thích văn hóa, văn học Pháp với những tác gia lớn như Hugo, Balzac, Stendhal, Musset, Vigny, Baudelaire vì trong tác phẩm của họ thấm đẫm triết lý nhân sinh. Ông đề cao triết học Đức với I. Kant, Hegel vì họ tư duy khúc chiết, đề cao con người, đề cao thi ca, mĩ học. Năm 18 tuổi, ông bắt tay viết các tác phẩm Triết học nhập môn, Triết học Kant, Triết học Nietzsche, Triết học Einstein, Triết học Descartes, Siêu hình học. Một tư duy, một tầm vóc, một sức viết phi thường. Những năm 1940 ông tham gia Tổ Văn hóa cứu quốc, sau đó là Hội Văn hóa cứu quốc. Năm 1945 ông tham dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, được bầu làm Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Đình Thi làm Tổng Thư ký Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tiếp tục viết sách khảo luận triết học, viết văn, làm thơ, soạn nhạc, soạn kịch, viết lý luận, phê bình. Sau năm 1954 ông tham gia công tác quản lý văn học nghệ thuật. Từ năm 1958 đến năm 1989 làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam.

z6124258707960_ac4e46d13339ea9bb841f6d6f37b99ed.jpg
PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương phát biểu tại Hội thảo khoa học toàn quốc “Di sản văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi cho hôm nay” nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của nhà văn hóa lớn, nghệ sĩ tài năng Nguyễn Đình Thi (20/12/1924 – 20/12/2024) do hành ủy Hà Nội phối hợp cùng Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, Báo Nhân Dân tổ chức.

Di sản văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi để lại cho đất nước thật đồ sộ, phong phú, quý giá. Trong văn học, ông là nhà văn có nhiều tìm tòi, đột phá ở thể loại văn xuôi, nhất là tiểu thuyết. Ông cũng là nhà thơ, nhà biên kịch, người sáng tác âm nhạc có nhiều đổi mới trong tư duy và cách tân nghệ thuật. Các tác phẩm văn xuôi, như Xung kích, Thu Đông năm nay, Bên bờ sông Lô, Vào lửa, Mặt trận trên cao… thực sự là những dẫn chứng tiêu biểu cho quan niệm sáng tác và ý thức công dân của người nghệ sĩ. Ông cho rằng: “Sống được cuộc sống kháng chiến của dân tộc, hiểu được hướng đi tới của xã hội ta hiện thời, cảm xúc được những cảm xúc mới của kháng chiến; tất cả vấn đề sáng tác quyết định ở điều ấy”. Đặc biệt, bộ tiểu thuyết hai tập Vỡ bờ đã đưa Nguyễn Đình Thi lên vị thế tiên phong của dòng tiểu thuyết sử thi hào hùng và lãng mạn của nền văn học nước ta giai đoạn 1946-1985.

Di sản văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi để lại cho đất nước thật đồ sộ, phong phú, quý giá. Trong văn học, ông là nhà văn có nhiều tìm tòi, đột phá ở thể loại văn xuôi, nhất là tiểu thuyết. Ông cũng là nhà thơ, nhà biên kịch, người sáng tác âm nhạc có nhiều đổi mới trong tư duy và cách tân nghệ thuật. Các tác phẩm văn xuôi, như Xung kích, Thu Đông năm nay, Bên bờ sông Lô, Vào lửa, Mặt trận trên cao… thực sự là những dẫn chứng tiêu biểu cho quan niệm sáng tác và ý thức công dân của người nghệ sĩ. Ông cho rằng: “Sống được cuộc sống kháng chiến của dân tộc, hiểu được hướng đi tới của xã hội ta hiện thời, cảm xúc được những cảm xúc mới của kháng chiến; tất cả vấn đề sáng tác quyết định ở điều ấy”. Đặc biệt, bộ tiểu thuyết hai tập Vỡ bờ đã đưa Nguyễn Đình Thi lên vị thế tiên phong của dòng tiểu thuyết sử thi hào hùng và lãng mạn của nền văn học nước ta giai đoạn 1946-1985.

Ở thể loại thơ, những tác phẩm bất hủ của ông như Đất nước, Nhớ, Bài thơ Hắc Hải, Lá đỏ... là minh chứng sinh động cho tình yêu thương, gắn bó tha thiết với đất nước, con người Việt Nam “vất vả, đau thương tươi thắm vô ngần”, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”... Đó là cá tính sáng tạo mạnh mẽ, bản lĩnh tiên phong, trăn trở tìm tòi hướng đi mới trong thơ Việt Nam hiện đại, nhất là thể thơ tự do, phóng khoáng. Chính những đổi mới, những tìm tòi thể nghiệm táo bạo này đã khiến thơ ông trở thành đề tài gây sự chú ý, nhất là những cuộc tranh luận có nhiều lúc nảy lửa suốt một thời gian dài. Và ông đã tạo ra những khác biệt, những giọng điệu, phong cách riêng của thơ tự do, phóng khoáng, hào sảng, đằm thắm, suy tưởng, ám ảnh. Từ năm 1949, khi 25 tuổi, ông viết bài thơ Em bảo anh tặng văn sĩ Pháp Madeleine Riffaud: “Em bảo anh: Nếu chỉ có đôi ta/ Thì có yêu nhau cũng không sống được/ Em bảo anh: Khi chúng ta nằm bên nhau/ Thì bao đồng chí đang nằm hầm sâu/ Em bảo anh: Mỗi vết bùn chúng ta mang trên mặt/ Trong mắt người yêu biến thành nước mắt/ Và mỗi tia lửa vút bay lên cao/ Trong mắt người yêu biến thành trời sao”… Cho đến nay, thế hệ các nhà thơ trẻ Việt Nam đã, đang kế thừa và phát huy những thành tựu và hướng tìm tòi mấy chục năm trước của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

Về sân khấu, sự xuất hiện bất ngờ của các kịch bản Con nai đen (1961), Hoa và Ngần (1974), Giấc mơ (1977), Rừng trúc (1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Người đàn bà hóa đá (1980), Tiếng sóng (1980), Cái bóng trên tường (1982), Trương Chi (1983), Hòn cuội (1986)... trong đó, số phận khá long đong của Con nai đen, Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Cái bóng trên tường, Hòn cuội... đều xuất phát từ tư duy, bản lĩnh, tài năng và sự sáng tạo nghệ thuật, luôn tìm lối mới, cách đi riêng, nói giọng riêng của Nguyễn Đình Thi. Chính những cách tân táo bạo trong hình tượng kịch, sự đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật, triết lý nhân sinh sâu sắc và sự đan cài, hòa quyện nhuần nhuyễn văn hóa Đông-Tây, kim-cổ; truyền thống và hiện đại; kế thừa và tiếp nhận, tiếp biến... được hun đúc từ trái tim của một nghệ sĩ tài năng, tâm huyết, chan chứa yêu thương với con người, với cuộc đời, với đất nước, với dân tộc; luôn trăn trở về số phận, niềm vui, nỗi đau và khát vọng tự do, khát vọng sáng tạo nghệ thuật, chấp nhận cả sự ngờ vực, “vượt qua sóng gió” để tồn tại với thời gian của kịch Nguyễn Đình Thi.

Trong lĩnh vực âm nhạc, dù “dừng chân” không lâu và chỉ có 6 ca khúc trong sự nghiệp sáng tác: Căm hờn, Diệt phát xít, Du kích quân (1945), Người Hà Nội (1947), Con voi (1948), Đất nước yêu thương (1977)) nhưng Nguyễn Đình Thi vẫn để lại dấu ấn đậm nét về sáng tạo nghệ thuật, về tâm hồn đẹp đẽ, nhân văn của người nghệ sĩ - chiến sĩ. Ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò tạo sự kết nối giữa nghệ thuật với cách mạng trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình, cách mạng đang sục sôi. Sinh thời, Nguyễn Đình Thi từng thổ lộ: “Tôi không dám nhận mình là nhạc sĩ”, tuy nhiên, hai bài hát ông sáng tác ở lứa tuổi đôi mươi ¬¬- Diệt phát xít và Người Hà Nội - cũng đủ để tất cả chúng ta tôn vinh ông là một nhạc sĩ lớn, cùng Văn Cao, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Xuân Oanh, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Thương… mở đường, dẫn lối cho nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Một trong những đóng góp quan trọng của Nguyễn Đình Thi trong lĩnh vực âm nhạc là việc khai phá và phát triển hai thể loại quan trọng - hành khúc và trường ca. Các ca khúc của Nguyễn Đình Thi đã trở thành một phần ký ức lịch sử dân tộc, khơi dậy niềm tự hào đối với quê hương Hà Nội thân thương và đất nước Việt Nam yêu dấu.

Nguyễn Đình Thi đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ với những tác phẩm có giá trị nhiều mặt, sống mãi với thời gian. Thành công trong các sáng tác của ông nổi rõ ở tính tư tưởng, tính nhân văn, nghệ thuật đặc sắc, bút pháp phóng khoáng mà nhuần nhị; ở đó, hòa quyện lòng yêu nước với lý tưởng tưởng cách mạng, tính dân tộc và tính hiện đại, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, nhất là văn hóa Pháp, Nga, châu Âu, khát vọng tự do và bản chất nhân hậu, đằm thắm rất Việt Nam.

Ở trong nước, các tác phẩm của Nguyễn Đình Thi đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa, văn nghệ của nhân dân ta. Một số tác phẩm thơ, văn, kịch, nhạc của ông được giảng dạy trong các trường học, từ phổ thông đến đại học, trong các sinh hoạt văn hóa ở làng quê hay phố thị, được nhiều người yêu thích.

Hành trình tiếp nhận và lan tỏa di sản văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi còn vượt ra ngoài biên giới, để lại dấu ấn trong lòng người yêu mến văn nghệ ở nước ngoài, nhất là người Việt xa quê. Một số vở kịch của ông như Nguyễn Trãi ở Đông Quan hay Rừng trúc không chỉ được trình diễn trong nước mà còn được giới thiệu tại các liên hoan sân khấu quốc tế.

Cùng với sự nghiệp sáng tác văn nghệ, sáng tạo văn hóa, Nguyễn Đình Thi còn là một nhà lãnh đạo văn hóa, văn nghệ tài ba, xuất sắc. Ông tham gia cùng các cơ quan, đơn vị giúp Đảng, Nhà nước xây dựng, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách phát triển văn hóa, văn nghệ kháng chiến, kiến quốc. Nhất là trên các cương vị Tổng Thư ký Hội Văn hóa cứu quốc, Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam, ông đã thể hiện tầm tư duy, trí tuệ, tầm nhìn chiến lược và khả năng nắm bắt hơi thở đời sống đất nước. Những vị trí công tác mà ông từng trải qua, mọi người không chỉ khâm phục tài năng, uy tín về chuyên môn của ông mà còn quý trọng những ý tưởng, góc nhìn từ ông về xây dựng và phát triển nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ đến thời kỳ hòa bình, đổi mới.

Nguyễn Đình Thi là người có tư duy sâu sắc và tầm nhìn xa trong lĩnh vực quản lý văn hóa, văn nghệ. Trong vai trò lãnh đạo, quản lý, ông luôn coi trọng sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa sáng tạo và bảo tồn, giữa chuyên nghiệp, tinh hoa và bình dân, đại chúng. Ông quan niệm: để nền văn hóa Việt Nam phát triển bền vững, cần phải dựa trên những giá trị cốt lõi của dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu, học hỏi, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới. Đặt quan điểm ấy trong bối cảnh đất nước còn đang trong giai đoạn chiến tranh, bị cô lập rất nhiều năm mới thấy rõ tầm chiến lược và tính đột phá trong tư duy của người lãnh đạo văn nghệ xuất sắc Nguyễn Đình Thi. Các tiểu luận lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật của ông không chỉ là những phân tích học thuật mà còn kết tinh trong đó tầm nhìn chiến lược, lý luận gắn kết chặt chẽ với thực tiễn sinh động. Ông không áp đặt quan điểm của mình lên tác giả, tác phẩm mà luôn cố gắng tìm hiểu và tôn trọng cá tính sáng tạo của nghệ sĩ; coi phê bình là người bạn đồng hành, tri âm, tri kỷ của sáng tác.

Nguyễn Đình Thi đặc biệt coi trọng vai trò của lý luận, phê bình trong việc thẩm định, định hướng, hỗ trợ sáng tạo văn học, nghệ thuật. Các tác phẩm, bài nói của ông lúc còn rất trẻ, được giới chuyên môn đánh giá cao như: tiểu luận Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích; bài diễn thuyết Dòng máu Việt Nam chảy trong ca dao (1944), đặc biệt là tùy bút Nhận đường nổi tiếng (đăng trên tạp chí Văn nghệ số 1, tháng 3 năm 1948), các bài viết và các tập tiểu luận phê bình: Kịch Bắc Sơn, Tiếng nói của văn nghệ, Mấy ý nghĩ về thơ, Trần Đăng, Nam Cao, Nhà văn viết bằng cái gì, Mấy vấn đề văn học (1956), Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ hiện nay (1957), Công việc của người viết tiểu thuyết (1964)... Nguyễn Đình Thi luôn trăn trở về sứ mệnh của văn hóa, văn nghệ và vai trò, trách nhiệm của văn nghệ sĩ; gợi mở hướng kết nối văn học với chính trị, với thực tiễn xã hội, đề cao vai trò của văn hóa, văn nghệ trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ông viết: "Văn nghệ phụng sự kháng chiến, nhưng cũng chính kháng chiến cũng đem đến cho văn nghệ nguồn cảm hứng và sức mạnh mới". Ông luôn nhấn mạnh: văn học, nghệ thuật phải song hành cùng chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội và nhiều lĩnh vực khác của đời sống; văn nghệ sĩ cần bám sát những đổi thay của thời đại, đưa “hơi thở” của thời đại vào trong sáng tác của mình. Nguyễn Đình Thi luôn khuyến khích mọi người tạo môi trường tốt nhất cho sáng tạo văn học, nghệ thuật, tôn trọng yêu cầu dân chủ, nhân văn, đổi mới, thể hiện cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ trong tác phẩm. Với những bài viết lý luận, phê bình sâu sắc, đằm thắm cùng phong cách lãnh đạo cởi mở, gần gũi, Nguyễn Đình Thi đã trở thành một người bạn, người thầy, người truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ văn nghệ sĩ trẻ. Ông luôn khuyến khích các nghệ sĩ trẻ thử nghiệm và đổi mới, không ngại phá vỡ các khuôn mẫu để tìm kiếm những giá trị mới mẻ hơn.

Di sản quý báu mà Nguyễn Đình Thi để lại cho công tác lãnh đạo, quản lý hoạt động văn hóa, văn nghệ còn là đóng góp của ông trong việc xây dựng và phát triển các tổ chức văn học, nghệ thuật, các thiết chế văn hóa, văn nghệ, điển hình là Hội Nhà văn Việt Nam và Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam, nơi ông giữ vai trò lãnh đạo trong nhiều năm liền.

Nguyễn Đình Thi là người có công lao to lớn trong việc thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, giúp giới trí thức, văn nghệ sĩ quốc tế hiểu đúng hơn về đất nước, con người Việt Nam, từ đó, có thái độ đồng tình, ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của Việt Nam. Ngoài mục tiêu trên, trong vai trò của người lãnh đạo văn nghệ, hơn ai hết, ông hiểu sâu sắc rằng việc học hỏi và giao lưu với các nền văn hóa khác sẽ giúp văn học, nghệ thuật Việt Nam phát triển phong phú hơn, mạnh mẽ hơn, từng bước xác lập vị thế của văn hóa, văn nghệ Việt Nam trên trường quốc tế./.

Nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nhà văn hóa Nguyễn Đình Thi (1924-2003), nguyên quán Hà Nội. Ông tham gia Hội Văn hóa cứu quốc từ năm 1943, trực tiếp phụ trách Báo Độc lập. Ông được cử tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam tháng 7-1945.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Đình Thi được bầu là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III. Ông từng là Tổng Thư ký Hội Văn hóa cứu quốc, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

Ông được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996) về văn học, nghệ thuật...

Bài liên quan
  • Nhà văn hoá Nguyễn Đình Thi - người nghệ sĩ tài hoa của Thủ đô và đất nước
    Chiều 12/12/2024, Thành ủy Hà Nội phối hợp cùng Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương, Báo Nhân Dân và các cơ quan tuyên giáo, văn hóa, văn nghệ tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc với chủ đề “Di sản văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi cho hôm nay” nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của nhà văn hóa lớn, nghệ sĩ tài năng Nguyễn Đình Thi (20/12/1924 – 20/12/2024). Hội thảo là dịp để nhìn nhận, đánh giá, tôn vinh di sản văn hóa, văn nghệ của Nguyễn Đình Thi.
(0) Bình luận
  • Giữ gìn tính trung thực trong nghệ thuật biểu diễn trước thách thức của kỷ nguyên số
    Sáng 29/5, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức tọa đàm “Giữ gìn tính trung thực trong biểu diễn nghệ thuật; ý thức trách nhiệm của người sáng tác trong kỷ nguyên số”. Tọa đàm thu hút sự tham gia của nhiều nhà quản lý văn hóa, văn nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và chuyên gia trong lĩnh vực âm nhạc, sân khấu.
  • Nhìn lại diện mạo văn học thiếu nhi hôm nay
    Sáng 7/5/2026, Nhà xuất bản Kim Đồng phối hợp cùng Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức tọa đàm “Văn học thiếu nhi từ góc nhìn của người viết trẻ”. Tọa đàm là cơ hội để nhìn lại đời sống văn học thiếu nhi hiện nay; vị trí, vai trò của văn học thiếu nhi trong đời sống đương đại và cách người viết trẻ hiện nay tiếp cận thế giới tâm hồn trẻ thơ.
  • Khi văn học được “đánh thức” bằng sân khấu hóa học đường
    Khi văn học rời trang sách để bước lên sân khấu, những giá trị nghệ thuật không còn xa cách mà trở thành trải nghiệm sống động, giàu cảm xúc đối với học sinh. Những nhân vật, tình huống và thông điệp từng được tiếp nhận qua con chữ nay được tái hiện bằng hình thể, âm thanh và ánh sáng, giúp người học không chỉ “hiểu” mà còn “cảm” sâu sắc hơn giá trị của tác phẩm.
  • Nhà thơ "Màu hoa đỏ" Nguyễn Đức Mậu qua đời
    Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu tác giả "Màu hoa đỏ" qua đời sáng 8/4 sau khi đột ngột ngất trên xe buýt, để lại nhiều tác phẩm về chiến tranh và người lính.
  • Nhớ anh tôi!
    Anh thứ hai của tôi - Phạm Huy Thơ sinh ra ở một vùng quê ven sông Hồng (thôn Tử Lý, xã Đông Ninh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên trước đây; nay là xã Châu Ninh, tỉnh Hưng Yên). Tuổi thơ của anh em chúng tôi lớn lên giữa thiếu thốn đủ bề. Nhà đông con, ruộng ít, năm nào nước sông dâng cao là cả làng lại trắng đồng. Cái đói, cái nghèo không phải điều gì ghê gớm bởi chúng tôi quen với nó từ thuở nhỏ.
  • Giải thưởng Văn học 2025 vinh danh tác giả, dịch giả xuất sắc
    Sáng 10/3, tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức lễ trao Giải thưởng văn học năm 2025 nhằm tôn vinh những tác phẩm có giá trị nghệ thuật và tư tưởng, đồng thời ghi nhận những đóng góp tích cực của các tác giả, dịch giả đối với nền văn học nước nhà.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • Phát động cuộc thi ảnh "Người cao tuổi Tây Hồ chung tay xây dựng phường sáng - xanh - sạch - đẹp"
    Chiều 16/7, Hội Người cao tuổi phường Tây Hồ tổ chức Hội nghị Công bố và trao quyết định thành lập các Chi hội Người cao tuổi tại các Tổ dân phố (TDP), Phát động phong trào đua “Toàn dân chung tay bảo về môi trường – vì thủ đô xanh – sạch –đẹp và Cuộc thi ảnh "Người cao tuổi Tây Hồ chung tay xây dựng phường sáng - xanh - sạch - đẹp".
  • Phường Hồng Hà nâng cao nhận thức pháp luật về đê điều, phòng, chống thiên tai
    Nhằm bảo vệ an toàn hệ thống đê điều, bảo đảm khả năng thoát lũ và phòng ngừa thiên tai, UBND phường Hồng Hà (TP Hà Nội) đề nghị các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và toàn thể Nhân dân trên địa bàn nâng cao nhận thức pháp luật về đê điều, phòng, chống thiên tai.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Glow app hỗ trợ đặt dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà ở Tiền Giang
    Glow app dịch vụ massage tại nhà ở Tiền Giang mang đến phương thức đặt lịch trực tuyến, giúp người dùng chủ động thời gian, hạn chế di chuyển và tiếp cận dịch vụ chăm sóc cơ thể ngay trong không gian riêng. Mô hình này đang trở thành một lựa chọn phù hợp với nhịp sống bận rộn hiện nay.
  • Nghị quyết về chính sách hỗ trợ hoạt động của Tổ Chuyển đổi số cộng đồng trên địa bàn Thủ đô
    Nghị quyết gồm 9 điều, quy định chi tiết các chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả cho lực lượng nòng cốt tại cơ sở trong việc hướng dẫn người dân tiếp cận dịch vụ công và các nền tảng số. Đối tượng áp dụng là các Tổ Chuyển đổi số cộng đồng tại thôn, tổ dân phố do UBND cấp xã quyết định thành lập...
  • Hà Nội phê duyệt chủ trương đầu tư dự án "hồi sinh" sông Nhuệ
    Chiều ngày 15/7, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ năm, HĐND thành phố Hà Nội đã chính thức thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án xây dựng, tu bổ xung yếu hệ thống đê điều, nạo vét và xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ. Được triển khai theo phương thức đối tác công tư (PPP) với loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT), dự án có sơ bộ tổng mức đầu tư lên tới 75.115 tỷ đồng này được xác định sẽ giải quyết triệt để các "điểm nghẽn" của Thủ đô về ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm môi trường và vi phạm trật tự đất đai... đã được chỉ rõ tại Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 25/11/2025 của Thành ủy Hà Nội.
Di sản văn hoá, văn nghệ đặc sắc, quý giá của Nguyễn Đình Thi cho hôm nay và mai sau
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO