Dấu chân về đồng bằng

Hanoimoicuoituan| 10/08/2022 08:47

Mẹ đưa cho tôi túi quần áo rồi bảo tôi đi theo bố. Bố tôi đã đi ra đến cổng. Ông xách chiếc ba lô đã sờn và đứt một bên quai, không quên mang chiếc điếu cày bóng loáng. Tôi nhìn mẹ khó hiểu. Lẽ ra tôi phải ở nhà đỡ đần mẹ chứ. Dù gì có mỗi tôi là thằng con trai lớn nhất. Mẹ lắc đầu, dúi vào tay tôi cái bọc nilon nhỏ rồi đẩy tôi ra cửa.

Dấu chân về đồng bằng
Minh họa: Lê Trí Dũng.

Một khoảnh khắc đường đột trong lần đầu tiên tôi bước ra khỏi cái xóm núi nghèo này. Tôi vẫn nhớ như in lúc tôi quay lại thì thấy con Ngàn và con Ngát đang ngơ ngác nhìn tôi. Còn mẹ thì vội khép cánh cửa gỗ ọp ẹp.

Bố tôi đi trước. Ông không ngoái lại nhìn. Dường như ông không hề quan tâm đến việc tôi đang theo ông ở đằng sau. Tôi lủi thủi đi cách bố vài bước, luôn cố giữ khoảng cách, không quá gần cũng chẳng quá xa, đủ để theo sát ông mà không mất dấu. Những bước đi của bố nặng nề, ông lê đôi dép tổ ong sứt sẹo xuống đường đất bụi lầm. Lớp bụi ken đặc vào hai cái gấu quần lò xo.

Rồi bố con tôi cũng ra đến đường lớn. Bố tranh thủ rít một hơi thuốc lào. Mắt ông lim dim, miệng nhả ra làn khói trắng và khuôn mặt giãn ra, nhẹ tênh. Tôi nhìn ông, không một chút xúc cảm. Đột nhiên, ông mở mắt, quay sang tôi, chìa chiếc điếu cày: “Làm bi chơi!”. Tôi bối rối vì câu nói của bố. Rồi ông cười khà khà, phô ra hàm răng đen xỉn: “Thằng đàn ông như mày, vứt!”.

Tôi cúi mặt. Tôi đâu đã là một thằng đàn ông như bố tôi nói. Tôi chưa mười bảy tuổi. Bố bảo, bằng tuổi tôi thì ông đã làm ra tôi rồi...

Một lát, ô tô tới. Chúng tôi lên xe và mau chóng ổn định chỗ ngồi.

Xe bò qua những triền núi, những con dốc...

Bố tôi đã ngáy đều đều, tiếng ngáy đặc khản khói thuốc lào.

Tôi thấy lòng mình chênh chao, không điểm tựa. Núi đồi nhạt nhòa bỏ lại phía sau. Tôi ôm ghì chiếc túi vào lòng. Cố nhắm mắt và mường tượng cảnh đồng bằng đông đúc...

***

Thế là tôi đã đặt chân xuống đồng bằng.

Cứ ngỡ phải náo nhiệt ồn ào lắm, nhà cửa cao tầng san sát nhau, đèn đường rực rỡ đủ sắc màu. Vậy mà đồng bằng cũng buồn tẻ như cái xóm núi của tôi, chỉ có điều ở đây không có núi.

Bố dẫn tôi nhập hội với mấy người thợ cũng từ xa tới. Mỗi người một quê, vì kế sinh nhai mà về đây. Họ nói chuyện với nhau bằng thứ tiếng gì đó tôi không hiểu. Tôi ngồi bệt xuống đất, bên cạnh đám hoa xấu hổ như những cục bông tím ngắt bé xíu, nhìn xung quanh la liệt toàn túi đựng quần áo, chăn màn, rồi đồ đạc xoong nồi bát đũa. Bố bảo, chú Bích cai thầu sẽ cho thợ dựng lán để ăn ở, sinh hoạt ngay tại bãi đất này.

Phụ trách hậu cần là chị Tơ, hơn tôi chừng dăm tuổi. Chị đã đi theo đám thợ để phụ việc và nấu ăn ngót chục năm. Người chị tròn lẳn, chắc nịch, làn da bánh mật, hai gò má lấm tấm những nốt tàn nhang. Mấy người bảo tôi nghỉ sớm rồi phụ chị nấu cơm, rửa bát. Tôi quẳng cái xô đã hết vữa xuống đất rồi ngồi quệt mồ hôi, thở. Tiếng cười nói bắt đầu rộ lên: “Có gì không biết làm thì bảo chị ấy dạy luôn cho”. Tôi ngẩn người trước những cái nháy mắt khó hiểu của đám thợ. Chị lườm, gắt: “Gớm, phải gió mấy nhà các người”. Bố tôi từ đâu đi tới đá cái xô lăn lông lốc rồi phủi tay ngồi rít thuốc lào.

Sau mấy ngày máy xúc vào quần bãi đất, đổ móng xong, chú Bích cho chúng tôi ăn một bữa tươi. Ông chủ nhà từ Hà Nội về lại xách cho can rượu ngâm chuối hột và thêm cả vài món nhậu. Tôi không muốn uống nhưng dưới sự mời mọc, khích bác của cánh thợ, tôi liền nốc cạn mấy chén. Trong đầu tôi văng vẳng câu nói của bố: “Thằng đàn ông như mày, vứt!”. Trước mắt tôi cứ hiện lên cái nhìn khinh khỉnh của bố. Tại sao chứ? Việc tôi chưa thành một thằng đàn ông thực sự thì đâu ảnh hưởng gì tới bố? Bố cứ việc đi làm cái thằng đàn ông của mình đi. Rồi hai khóe mắt tôi cay xè, chén rượu tống vào mồm mặn chát. Toàn thân tôi run rẩy rồi tê dại. Những âm thanh cười nói cứ bùng nhùng ở bên tai, lúc gần lúc xa rồi tắt hẳn. Tôi không thể gượng dậy nổi, tất cả chỉ là bóng tối. Hơi thở tôi mệt nhọc và yếu ớt. Muốn khép mắt lại. Đột nhiên tôi thấy chị Tơ hiện ra, mơ hồ, như khói sương. Chị cười, nụ cười bảng lảng tan vào đêm, nào mắt, nào tóc, nào môi... và những bắp thịt tròn lẳn, mát rượi...

Bất giác tôi tỉnh giấc, ngơ ngác nhìn quanh. Vẫn một ngọn đèn bé xíu thoi thóp thở trong lán. Mọi người đang ngáy đều đều. Những bát đũa xoong nồi ngổn ngang dưới đất. Đầu tôi nặng trịch và mụ mị. Vô tình tôi chạm tay vào thân dưới. Một mùi hăng hắc xộc lên. Tôi mơ hồ nhớ lại giấc mơ lạ lẫm. Nhìn sang phía bên kia, chị Tơ vừa trở mình. Tôi vội vã quay đi.

Trong những cuộc trò chuyện với chị Tơ, tôi biết chị có một đứa con nhỏ đang để ở quê cho mẹ nuôi. Mười sáu tuổi, chị đã làm mẹ. Tôi không thấy chị nói về cha của đứa trẻ. Tôi cũng không gặng hỏi. Chỉ thấy mỗi lần nói về chuyện quê nhà, chị thoáng buồn và đôi mắt như ngấn lệ. Tôi nhìn vào mắt chị như thấy vời vợi nhớ thương và cả những xa cách nghìn trùng. Những lúc đó chị lại dằn mạnh cái xô vữa xuống đất, mặt cúi xuống vờ như đang quẹt sạch những mảng vữa bám ở trong xô, rồi hắng giọng bảo tôi đứng dậy lấy cái nọ cái kia. Tôi miễn cưỡng đứng lên. Chị vội vã lấp đầy cái khoảng trống lễnh loãng bằng bài hát quen thuộc của dân tộc chị mà tôi không hiểu.

***

Tôi thường giúp chị Tơ nhặt rau, nấu cơm, rửa bát. Mọi người trêu đùa, gán ghép tôi với chị làm tôi đỏ mặt. Những tràng cười rộ lên. Chú Bích bảo bố tôi chuẩn bị nhận con dâu đi. Bố im lặng, không buồn nhìn sang, lại rít một hơi thuốc lào và chầm chậm nhả khói. Tôi liếc nhìn bố, trong đôi mắt như vẩn lên những tia máu đỏ lự. Chị Tơ không để ý gì đến tôi và bố, chị cười, lơi lả, như thể cái việc trêu đùa của mọi người là một điều quen thuộc lắm. Tôi lại liếc nhìn chị, ý nghĩ miên man trôi. Tôi nhớ có những buổi chiều, tôi và chị xách rổ ra bãi đất bên bờ sông tìm rau dại. Những bụi rau tầm bóp ngằn ngặt xanh, lún phún những cánh hoa trắng nhỏ xíu. Tôi hái đầy rổ những đọt rau xanh non mỡ màng, từng chiếc lá mỏng, dài và nhọn sực lên một mùi tươi mới hăng hắc. Thấy tôi có vẻ lạ lẫm, chị bảo, rau dại thôi nhưng mà ngon lắm, lúc đầu mới ăn thì có vị đắng nhưng sau thì ngọt, như kiểu khổ tận đến ngày cam lai đấy. Tôi cười, bảo, chị cũng chữ nghĩa thế. Chị ghé vào tai tôi, thì thầm, ấy là chị nghe bố tôi nói thế. Tôi chợt sững lại trong vài giây.

Buổi tối, cánh thợ chúng tôi không có việc gì làm. Hát hò mãi cũng chán, chiếc loa rè cứ kẽo kẹt mấy bài hát ỉ ôi thất tình đến nẫu cả ruột. Để thay đổi không khí cho anh em, mấy tối nay chú Bích rủ mọi người chơi bài. Xong thì rượu hoặc có hôm nào trúng quả thì karaoke, bia bọt. Vừa được mấy ván, tôi đã bị vặt sạch tiền. Bố quay sang chửi tôi là thằng vô dụng. Tôi không nói gì, lẳng lặng bỏ ra ngoài. Chiếu bài vẫn tiếp tục, tiếng cười hoan hỷ của người thắng và tiếng chửi tục của kẻ thua. Tôi nghĩ về cái bọc tiền mẹ dúi vào tay tôi hôm tôi đi theo bố, từng đồng tiền mặn chát mồ hôi, sờn cáu những nhọc nhằn. Cả những đồng tiền của tôi dính đầy xi măng cát sỏi. Thoáng qua một chiếu bài.

Tôi bước ra khỏi lán. Tiếng nước xối đâu đây nghe thật gần. Tôi đưa mắt nhìn sang. Chợt giật mình khi thấy bờ vai trần của chị Tơ thập thò sau tấm bạt căng tạm làm nhà tắm. Tóc chị bới cao, để lộ cái cổ tròn trịa và một bờ vai chắc nịch. Mắt tôi hoa lên, đôi chân luống cuống đụng phải mấy cái xô chậu để trước lán. Chị giật mình quay ra, ngơ ngác nhìn tôi tháo chạy.

Tôi cứ bước đi vô định. Một cảm giác bứt rứt khó tả. Đôi chân nặng trĩu rã rời. Tôi bước đi trong đêm mười bảy tuổi.

Nơi làng quê ven sông hiu quạnh và buồn tẻ.

Chẳng khác gì cái xóm núi nhà tôi, chỉ khác nơi đây không có núi.

Đám đàn ông từ những xóm núi như nơi quê tôi tỏa về đồng bằng, để lại đàn bà và con trẻ, như mẹ tôi, như em tôi. Còn chúng tôi, gửi gắm cho họ được những gì? Những đồng bạc lẻ cuối cùng cũng ra đi từ chiếu bài. Và cơn say sau những cuộc vui. Quán karaoke bình dân ở đầu làng mở ra để phục vụ những khách hàng bình dân như chúng tôi, sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu không chỉ là ăn uống, hát hò. Tôi đã trở thành một thằng đàn ông bất đắc dĩ để được bố tôi thừa nhận trong trạng thái say xỉn chẳng biết gì. Mỗi khi nhớ lại chỉ thấy sao mà đắng đót.

Đôi chân đưa đẩy tôi ra bờ sông. Bầu trời đêm thanh sạch ôm chứa một mảnh trăng non run rẩy. Những bờ bãi ven sông nhưng nhức một màu non mởn. Tôi khỏa tay vào bụi rau tầm bóp, những giọt sương tan vào da thịt mát lành, dịu nhẹ. Nơi đây in bao dấu chân của tôi và chị Tơ trong mỗi chiều đi kiếm rau về nấu. Chợt có tiếng bước chân đi đến và cả tiếng người nói. Loáng thoáng những âm thanh quen thuộc. Là giọng nói của bố tôi và chị Tơ. Sao họ lại ra đây vào thời khắc này? Tôi mải miết lắng nghe. Nhưng chỉ là tiếng gió. Tôi thấy gió nóng phả vào mặt tôi ngột ngạt và bức bối. Rồi những bụi cây xô dạt vào nhau, vặn xoắn. Chỉ còn tiếng thở hổn hển.

Những bụi rau tầm bóp dập nát. Xộc vào mũi tôi, hăng và đắng ngắt.

Mảnh trăng dần tan thành những sợi khói thuốc lào bay lên.

Tôi như một ngọn đuốc đang bốc cháy lao xuống dòng sông.

Giá như mẹ không bảo tôi đi cùng bố...

(0) Bình luận
  • Dưới gốc cây thanh trà
    Tháng sáu về mang nắng gió rải đều trên khắp con đường, ngõ xóm, tôi mon men chân trần đi trên đám cỏ non dẫn vào khu vườn kí ức, ở đó, đám cây thanh trà đang rộ, quả vàng chín mọng, căng mình dưới lớp lá xanh đậm. Mùa này là mùa của những dư vị thanh thanh nơi đầu lưỡi, tôi có thể thả mình vào nơi mát mẻ của khu vườn, nghe tiếng ve thao thiết gọi hè. Những quả thanh trà được tưới đẫm nước, lấp lánh vàng, căng mọng, chỉ chờ tay người hái.
  • Chiều hạ vàng
    Nhắc đến sắc vàng, dễ thường người ta lại nghĩ đến mùa thu, mùa của làn gió heo may với những nắng vàng, lá vàng... đã trở thành những ước lệ kinh điển như thể “con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư), “Ô! hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông” (Bích Khê)…
  • Thương giậu tầm xuân
    Chiều chầm chậm rơi trước hiên nhà, nhìn nắng nghiêng qua hàng rào đã cũ, tôi lại nhớ đến giậu tầm xuân của những ngày xưa ấy. Không kiêu sa rực rỡ như hồng, tầm xuân như loài hoa dại chỉ lặng lẽ leo lên bờ rào, nương vào từng mắt lưới kẽm, từng cọc tre mảnh, mà nở những chùm hoa nhỏ xíu.
  • Ký ức tháng Tư
    Tháng Tư lại về. Với người lính, đó không chỉ là một tháng trong năm mà là tháng của ký ức, của những tiếng gọi từ quá khứ vọng về. Mỗi khi tháng Tư chạm ngõ, lòng chúng tôi lại dậy lên những âm thanh cũ: tiếng bước chân hành quân, tiếng võng kẽo kẹt giữa rừng, tiếng hát lạc trong gió núi. Và trên hết, đó là ký ức về ngày đất nước thống nhất - ngày mà bao máu xương, bao tuổi trẻ đã hóa thành niềm vui chung của dân tộc.
  • Bữa cơm còn một chỗ trống
    Nhà tôi có ba chị em. Tôi là chị cả, dưới là hai em trai. Mỗi người một gia đình, con cái đang tuổi đi học, cuộc sống riêng cũng đủ bận rộn. Nhưng có một điều gần như không thay đổi suốt bao năm: cứ cuối tuần, chúng tôi lại trở về nhà bố mẹ.
  • Hoa tuyết giữa trời cao nguyên
    Mùa xuân, cao nguyên ngập chìm trong nắng. Nắng vàng ươm như mật. Nắng óng ả như tơ. Nắng nồng nàn cháy bỏng. Những giọt nắng ấm áp đánh thức vạn vật sau giấc ngủ dài qua những ngày đông. Cây lá đâm chồi, hoa cỏ rộn ràng khoe sắc. Những bông cà phê cũng cựa mình thức giấc, thắp lên triệu triệu đóa hoa tuyết sáng lấp lóa giữa đất trời cao nguyên.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Tạo dựng bản sắc kiến trúc Hà Nội: Giữ hồn cốt Thủ đô, kiến tạo diện mạo cho tương lai
    Kiến trúc không chỉ định hình diện mạo đô thị mà còn lưu giữ ký ức, phản ánh bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của mỗi thời đại. Đối với Hà Nội - thành phố ngàn năm văn hiến, việc kiến tạo những công trình mới hài hòa với không gian lịch sử, đồng thời phát huy vai trò của đội ngũ kiến trúc sư trong bảo tồn và sáng tạo, là yêu cầu quan trọng để xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới.
  • [Video] “Khúc quân hành” năm 2026: Một thập kỷ bền bỉ lan toả nghĩa tình đền ơn đáp nghĩa
    Tiếp nối thành công của 9 lần trước, năm 2026, Chương trình "Khúc quân hành” lần thứ X do Tạp chí Người Hà Nội tổ chức, đã diễn ra từ ngày 18 đến 21/7 tại các xã Đông Khê, Trường Hà - tỉnh Cao Bằng và Thủ đô Hà Nội. Chương trình là hoạt động thiết thực kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026); hướng tới 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chương trình Khúc quân hành năm 2026 đánh dấu một thập kỷ vun đắp và lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc.
  • Giải thưởng Victor Tardieu 2026: Tôn vinh và tiếp sức cho những tài năng mỹ thuật trẻ
    Chiều 25/7, Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tổ chức Lễ trao Giải thưởng Victor Tardieu 2026, vinh danh những sinh viên có tác phẩm tốt nghiệp xuất sắc. Ở mùa giải thứ hai, giải thưởng tiếp tục khẳng định vai trò là bệ phóng cho các tài năng mỹ thuật trẻ.
  • Xe nâng điện 1.5 tấn: Xu hướng hiện đại hóa hoạt động sản xuất và logistics
    Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng chú trọng hiệu quả vận hành và kiểm soát chi phí, các thiết bị nâng hạ có khả năng làm việc sạch, êm và tiết kiệm năng lượng đang được quan tâm nhiều. Xe nâng điện 1.5 tấn là một trong những lựa chọn phù hợp với nhiều kho bãi, nhà xưởng và cơ sở sản xuất nhờ tải trọng đáp ứng các loại hàng hóa phổ biến, đồng thời có khả năng vận hành linh hoạt trong nhiều môi trường.
  • Hà thành, đêm trên phố
    Bây giờ, Hà Nội trong tôi còn có một khoảng lặng, sâu lắng khó quên, đó là những đêm trên phố cổ. Thoạt nghe, ý niệm ấy có vẻ hơi cường điệu. Bởi vì người ta thường nghĩ về một Thủ đô ngàn năm văn hiến với những nét tĩnh lặng, cổ kính, rêu phong trong ánh nắng ban mai mơ màng buông xuống “ba mươi sáu phố phường”; nên có lẽ, sẽ ngỡ ngàng, nếu ai đó khi nghe thấy nơi này được gọi là “thành phố của những đêm thâu”.
Đừng bỏ lỡ
Dấu chân về đồng bằng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO