Văn hóa – Di sản

Đặng Trần Côn – thi sĩ đa tài

Nguyễn Như Trang 29/11/2023 10:59

Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Đến nay vẫn chưa có tư liệu nào ghi rõ năm sinh năm mất của ông. Vì vậy, chỉ có thể dùng phương pháp mang tính chất “bắc cầu” để tìm ra giai đoạn Đặng Trần Côn sinh sống. Tác giả Hoàng Xuân Hãn trong Chinh phụ ngâm bị khảo đã đề cập đến bức thư Đặng Trần Côn gửi cho người bạn Phan Kính (sinh năm 1715, người làng Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, nay thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).

dang-tran-con.jpg
Tranh minh họa danh nhân Đặng Trần Côn.

Bức thư có nội dung mời Phan Kính tới cùng nhau thưởng xuân. Từ đó có thể suy luận tuổi của hai người này là gần ngang nhau. Một giả thuyết khác, trong Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án có đoạn viết: Đặng Trần Côn từng đem thơ đến ra mắt Đoàn Thị Điểm (sinh năm 1705) và bị bà chê là học trò mới học. Từ đó có thể kết luận một cách tương đối rằng, Đặng Trần Côn sinh vào khoảng từ 1710 - 1720, sống vào thời vua Lê chúa Trịnh.

Thời trẻ, Đặng Trần Côn là người hào phóng, thường yêu thơ, thích rượu và giao du với nhiều bạn bè trong giới văn chương như Phạm Đình Hổ, Phạm Đình Dư. Họ thường cùng nhau bàn bạc chuyện thi từ và thế sự.

Năm 22 tuổi, Đặng Trần Côn đỗ Hương Cống: Hai mươi hai tuổi khoa thi/ Mũi tên bắn lọt chu vi bốn ngày. Tuy thi đỗ Hương nhưng khi thi Hội ông lại không được. Sau khi thi đỗ, ông làm huấn đạo trường phủ, rồi tri huyện Thanh Oai, sau thăng chức Ngự sử đài đại phu. Về sau, ông về hưu, và làm nghề dạy học. Ông dạy con cháu của Nguyễn Đình Kỳ đều đỗ Hương Cống triều Lê. Sách Tang thương ngẫu lục có viết: “Trong khoảng trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ. Bấy giờ chúa Uy vương (Trịnh Giang) bị bệnh, phải rời đến ở cung Thưởng Liên. Tối đến, kinh thành cấm lửa rất ngặt. Đặng Trần Côn đào hầm ở dưới đất đọc sách, không bỏ bễ lúc nào”. Sự nghiệp chính trị của ông không được nhắc đến nhiều, ông thành danh chủ yếu trong lĩnh vực văn chương.

Đặng Trần Côn sáng tác khá nhiều thi ca. Hầu hết tất cả các tác phẩm của ông đều rung động lòng người đương thời và hậu thế bởi một hồn thơ nhạy cảm và mang nặng nỗi buồn đau nhân thế. Các tác phẩm của Đặng Trần Côn đều viết bằng chữ Hán. Ông đặc biệt nổi tiếng với tác phẩm Chinh phụ ngâm. Kiệt tác này được sáng tác vào khoảng những năm 40 của thế kỷ VXIII và được đánh giá cao ngay từ khi mới ra đời. Nhà sử học nổi tiếng Phan Huy Chú nhận định rằng, sách Chinh phụ ngâm là của Hương cống Đặng Trần Côn soạn vào đầu đời Cảnh Hưng, giai đoạn binh biến nổi dậy khắp nơi, những người đàn ông phải đi đánh trận xa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra (Lịch triều hiến chương loại chí). Phạm Đình Hổ trong sách Tang thương ngẫu lục viết: “Khoảng năm về già, ông làm khúc Chinh phụ ngâm, cả thảy đến mấy nghìn lời. Khi làm xong, Đặng Trần Côn đưa cho Ngô Thì Sĩ xem, ông họ Ngô bội phần thán phục bởi tài năng và công sức của Đặng Trần Côn”...

Chinh phụ ngâm ra đời ở trong thời kỳ có nhiều biến động lớn của lịch sử dân tộc và lịch sử văn chương nước ta. Trên bình diện chính trị, hai ngôi chúa là chúa Trịnh Đàng Ngoài và chúa Nguyễn Đàng Trong cùng với một ngôi vua của nhà Lê rõ ràng đã tạo ra sự chia rẽ sâu sắc trong xã hội, nó chính là tiền đề của các cuộc nội chiến đầy máu và nước mắt kéo dài suốt mấy chục năm trời. Đến thế kỷ XVIII, tình hình đất nước còn rối loạn hơn với các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi trong cả nước. Trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam lúc này rối như sợi tơ vò. Một biểu hiện của sự rối ren ấy là đã bắt đầu xuất hiện một loại hình kinh tế mới, kinh tế đô thị; đây là động lực cho ra đời những tư tưởng và cảm xúc của những cá nhân có trách nhiệm với nhân dân, với đất nước. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã kịp diễn tả lại được không khí của thời kỳ đầy biến động lúc bấy giờ và Đoàn Thị Điểm đã diễn Nôm rất thành công:

Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,

Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.

Chín lần gươm báu trao tay,

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Nước thanh bình ba trăm năm cũ,

Áo nhung trao quan vũ từ đây!

Sứ trời sớm giục đường mây,

Phép công là trọng niềm tây sá nào!

Đặng Trần Côn là một người gắn bó với vùng đất Thăng Long - Hà Nội trong suốt một thời gian dài từ thuở ấu thơ đến khi đèn sách, thi cử và làm quan tri huyện ở Thanh Oai. Ông thấu hiểu được nội tình đất nước, nhận ra được mầm mống gây họa cho nhân dân, đặc biệt là gây những nỗi bất hạnh cho cuộc đời người phụ nữ chính là chiến tranh phong kiến. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã biểu đạt được một cách sâu sắc và toàn vẹn nỗi đau của những người thiếu phụ đằng đẵng chờ chồng đi chinh chiến với đan xen những xúc cảm dồn nén, hi vọng, khắc khoải, rồi thất vọng khi nhận ra hiện thực cả hai đang phải cách xa hàng “ngàn núi xanh, ngàn dâu xanh”:

Dấu chàng theo lớp mây đưa,

Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Chàng thì đi cõi xa mưa gió,

Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.

Đoái trông theo đã cách ngăn:

Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Tác phẩm mang một giá trị nhân đạo sâu sắc, nó hướng đến con người và cảm thương cho những nỗi đau của con người, mà tiêu biểu là người phụ nữ sống trong xã hội còn nhiều bất công.

Đặt trong mối tương quan giữa Chinh phụ ngâm nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn với bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm cần đặc biệt chú ý tới nhận định của học giả Đặng Thai Mai trong công trình Giảng văn Chinh phụ ngâm: “Tác giả khúc ngâm bằng chữ Hán đã có thể lợi dụng được thể trường đoản cú của thơ Nhạc phủ để mà biểu hiện những sự trạng đối chọi, hay những tình thế trái ngược, giữa bao nhiêu cụ tượng trước mắt với những điều ước mong tha thiết trong lòng. Bút pháp đối chọi là một bút pháp thông thường trong văn tự tình. Sau bốn câu ngắn (5 chữ) trôi vút lên hai câu dài thì chủ đề của một bức cảnh cũng dường như được nâng nổi hẳn lên. Trong lối văn song thất lục bát, Đoàn Thị Điểm không có thể sử dụng được những biến thái dồi dào như nguyên văn. Nhưng đặc sắc của khúc ngâm dịch ra Việt văn là ở trong chi tiết văn chương - les destails - của khúc ngâm” (1950)...

Bên cạnh tác phẩm Chinh phụ ngâm nổi tiếng, Đặng Trần Côn có thể còn là tác giả của tiểu thuyết Bích câu kỳ ngộ (theo ý kiến của Phạm Đình Hổ) và một số bài thơ như: Tiêu Tương bát cảnh (Tám cảnh Tiêu Tương), các bài phú: Trương Hàn tư thuần lô (Trương Hàn nhớ rau thuần cá vược), Trương Lương bố y (Trương Lương áo vải), Khấu môn thanh (Tiếng gõ cửa)... Ngoài ra, Đặng Trần Côn còn có một số lời thơ được các tác gia cùng thời ghi chép tản mạn. Trong sách Tang thương ngẫu lục có ghi chép về một số câu thơ thể hiện phong cách riêng, những suy tư trăn trở của Đặng Trần Côn trước thời cuộc. Với cách sử dụng câu cú thanh thoát, dùng điển tích một cách tinh vi, hợp lý đã đủ cho thấy tài năng văn chương lỗi lạc của ông:

Lãnh đạm thôn hào, bán thướng liễu bát vương chi thành bại,

Tầm thường dã phẩm, sổ bôi tàn lưỡng Tấn chi thị phi.

(Món quê nhạt nhẽo, nửa bữa xong cuộc thành bại của tám vị vương,

Vị đồng tầm thường, mấy chén tàn chuyện thị phi của hai triều nhà Tấn)

(Trương Hàn tư thuần lô)

Trong một bài văn yết miếu đức thánh Khổng Tử, bằng phép đối tám chữ, cô đúc tài tình, như một sự khẳng định mang tính chân lý, Đặng Trần Côn đã nâng tầm của Khổng Tử lên địa vị cao nhất:

Vô vị Huân Hoa, Năng ngôn thiên địa.

(Nghiêu Thuấn không ngôi, Đất trời biết nói)

Thơ ca của Đặng Trần Côn khác hẳn với những bài thơ đương thời. Thơ ông không mang tính chất hàn lâm khoa cử, mà thể hiện bản ngã, sự tinh tế nhạy cảm trước thiên nhiên, xã hội và con người. Sự riêng biệt trong thơ Đặng Trần Côn đã làm nên một phong cách riêng, một tư tưởng mới so với thời đại của ông. Bài Tiêu Tương dạ vũ là một ví dụ điển hình cho lối viết và cho tư tưởng này:

Cô bồ trạch quốc tứ thương thương,

Thùy bả lâm lang trích dạ trường.

Sạ quá u lan đề Sở Khách,

Hốt lai ám trúc khấp Nga Hoàng.

Tần châu lãnh bức ngư đăng tế,

Bồng để thu kinh lữ mấn hoàng.

Phất lược sổ phong viên thụ ngoại,

Thương ca thanh đoạn thủy mang mang.

Bản dịch nghĩa:

Cỏ cao nước cả bốn bề xanh xanh,

Ai đem gieo hạt ngọc trong lúc đêm dài?

Trận mưa chợt qua cụm lan tối tăm để than người khách Sở,

Vụt đến bụi trúc âm thầm để khóc nàng Nga Hoàng

Bãi rau bị khí lạnh đè ép làm cho đèn chài nhỏ tý,

Gốc cỏ bồng hơi thu ghê rợn làm cho mái tóc lữ thứ điểm vàng.

Chợt qua ngoài lùm cây, vượn leo trên mấy ngọn núi cao,

Khúc ca Thương Lương dứt tiếng, mặt nước sông man mác.

(Mưa đêm ở sông Tiêu Tương)

Các văn bản thơ ca của Đặng Trần Côn còn lại đến ngày nay không nhiều nhưng trong số ấy đã có tuyệt tác để đời Chinh phụ ngâm. Tác phẩm này cùng với các trước tác của ông đóng vai trò như những minh chứng sống động cho tấm lòng nhân đạo cao cả và tài năng thơ ca của ông.

Đặng Trần Côn đã để lại cho hậu thế một tấm gương sáng về tinh thần học tập, biết vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống để hoàn thiện mình. Ông là người lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi, được rất nhiều học giả đương thời yêu quý và kính trọng. Vượt qua rào cản về khoa cử và địa vị của một vị quan huyện, Đặng Trần Côn xứng đáng là một thi sĩ đa tài với những tác phẩm văn chương để đời mà trong lịch sử văn chương Việt Nam không dễ gì có được./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
  • Bánh cuốn Thanh Trì (phường Vĩnh Hưng - TP Hà Nội: Hương vị mộc mạc lưu giữ ký ức Hà thành
    Giữa sự thay đổi không ngừng của văn hoá ẩm thực Hà Nội, bánh cuốn Thanh Trì vẫn giữ được dấu ấn riêng bằng hương vị giản dị và kỹ thuật chế biến thủ công đặc trưng. Từ những gánh hàng rong xưa đến những cơ sở sản xuất ngày nay, món ăn làm từ hạt gạo quê này không chỉ phản ánh nét tinh tế trong văn hóa ẩm thực Thủ đô mà còn lưu giữ câu chuyện về một nghề truyền thống đã được duy trì qua nhiều thế hệ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Phía sau bước chân người lên đường
    Sinh trưởng ở xứ Đoài mây trắng, từng làm việc ở Sở Văn hóa - Thông tin Hà Tây, (nay là Hà Nội), Phan Quế - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội đến với thơ từ buổi đầu sáng tác và ông cũng được bạn đọc biết đến khá sớm. Tuy nhiều năm qua Phan Quế dành thời gian và tâm sức nhiều cho tiểu thuyết, nhưng thơ đối với ông vẫn là nỗi niềm canh cánh trong lòng.
  • [Podcast] Tản văn: Nơi gió được sinh ra
    Gió không về với nhân gian mà dạo chơi nữa. Trưa, nắng gắt gao nở một nụ cười bí hiểm. Yên gió, hàng cây đứng lặng ngả bóng vào nhau. Lá rơm rớm giọt sầu gục xuống. Phố thấp thoáng những bóng người chạy trốn, bịt kín khuôn mặt. Từng luồng bụi vẫn bay lơ lửng trên không trung, biến hình mờ ảo bám vào nóc nhà, khe cửa, vấn vít hàng quán, vỉa hè, lối người qua lại. Tôi chạy vội về với cánh đồng trong cơn mơ, gió yên lặng ngả xuống vai mình.
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Hà Nội trong tôi những ngày tháng 6
    Tôi trở lại “thăm” Hà Nội vào những ngày giữa tháng 6. Cũng hơn một năm rồi tôi mới có dịp ghé thăm “cố nhân” của mình. Tôi coi Hà Nội như người bạn cũ, bạn tri âm tri kỷ. Bởi vậy, đêm trước khi lên xe xuôi về trái tim của dải đất cong cong hình chữ S xinh đẹp lòng tôi có chút bồi hồi cộng thêm sự háo hức. Lần nào cũng vậy cái cảm xúc ấy vẫn vẹn nguyên như thủa ban đầu đôi khi chẳng gọi được thành tên. Chỉ biết rằng sớm mai thôi tôi và “bạn” sẽ gặp lại với bao điều muốn nói,…
  • Ở phố Khương Trung có mẹ Oanh
    Tôi gặp lại P. trong một quán cà phê nhỏ vào một chiều Hà Nội bảng lảng sương giăng, khi cậu có chuyến công tác từ phương Nam ra. P. là đứa em, cũng là người đã chung lưng đấu cật với tôi suốt sáu năm trời trong một căn gác trọ nằm sâu nơi ngõ ngách Khương Trung. Đã lâu lắm rồi hai đứa mới có dịp ngồi lại, khuấy nhẹ ly cà phê, nhìn dòng người hối hả ngược xuôi qua lớp cửa kính. Giữa những câu chuyện không đầu không cuối về áp lực cơm áo gạo tiền, P. bỗng lặng đi một chút rồi hỏi: “Anh ơi, anh có nhớ mẹ Oanh không?”.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội hỗ trợ mức cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể
    Theo nghị quyết mới được thông qua, phạm vi và đối tượng áp dụng được điều chỉnh hướng tới các chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn thành phố, bao gồm Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, các câu lạc bộ, nhóm thực hành, nghệ nhân và người thực hành di sản. Đáng chú ý, Hà Nội quyết định giữ nguyên mức hỗ trợ rất cao cho các câu lạc bộ và nhóm thực hành di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • CleanHanoi - Dịch vụ vệ sinh công nghiệp
    CleanHanoi triển khai vệ sinh cho căn hộ, biệt thự, văn phòng, cửa hàng, công trình sau xây dựng và nhiều loại hình không gian tại Hà Nội.
  • [Infographic] 12 nhiệm vụ trọng tâm tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số
    Thành phố Hà Nội triển khai chiến dịch 100 ngày nhằm tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn lớn trong chuyển đổi số. Trọng tâm là hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống", chia sẻ và tái sử dụng.
  • Hà Nội hỗ trợ tiền ăn bán trú tiểu học với hai mức 40.000 đồng và 28.000 đồng
    Bước vào năm học 2026 - 2027, thành phố Hà Nội áp dụng cơ chế hỗ trợ chi phí ăn bán trú cho học sinh tiểu học với hai hạn mức cụ thể tùy thuộc vào đối tượng thụ hưởng. Nhóm học sinh được ưu tiên theo quy định sẽ nhận mức hỗ trợ trọn gói là 40.000 đồng mỗi ngày, trong khi các em học sinh còn lại được ngân sách đồng hành san sẻ với mức 28.000 đồng mỗi ngày.
  • Phường Tùng Thiện lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”
    Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026), Đảng bộ, chính quyền phường Tùng Thiện (TP Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhằm tri ân người có công, thân nhân người có công với cách mạng… Qua đó lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, đền ơn đáp nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và người Hà Nội thanh lịch, văn minh nói riêng.
Đặng Trần Côn – thi sĩ đa tài
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO