Văn hóa – Di sản

Đặng Trần Côn – thi sĩ đa tài

Nguyễn Như Trang 29/11/2023 10:59

Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì, nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Đến nay vẫn chưa có tư liệu nào ghi rõ năm sinh năm mất của ông. Vì vậy, chỉ có thể dùng phương pháp mang tính chất “bắc cầu” để tìm ra giai đoạn Đặng Trần Côn sinh sống. Tác giả Hoàng Xuân Hãn trong Chinh phụ ngâm bị khảo đã đề cập đến bức thư Đặng Trần Côn gửi cho người bạn Phan Kính (sinh năm 1715, người làng Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, nay thuộc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).

dang-tran-con.jpg
Tranh minh họa danh nhân Đặng Trần Côn.

Bức thư có nội dung mời Phan Kính tới cùng nhau thưởng xuân. Từ đó có thể suy luận tuổi của hai người này là gần ngang nhau. Một giả thuyết khác, trong Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án có đoạn viết: Đặng Trần Côn từng đem thơ đến ra mắt Đoàn Thị Điểm (sinh năm 1705) và bị bà chê là học trò mới học. Từ đó có thể kết luận một cách tương đối rằng, Đặng Trần Côn sinh vào khoảng từ 1710 - 1720, sống vào thời vua Lê chúa Trịnh.

Thời trẻ, Đặng Trần Côn là người hào phóng, thường yêu thơ, thích rượu và giao du với nhiều bạn bè trong giới văn chương như Phạm Đình Hổ, Phạm Đình Dư. Họ thường cùng nhau bàn bạc chuyện thi từ và thế sự.

Năm 22 tuổi, Đặng Trần Côn đỗ Hương Cống: Hai mươi hai tuổi khoa thi/ Mũi tên bắn lọt chu vi bốn ngày. Tuy thi đỗ Hương nhưng khi thi Hội ông lại không được. Sau khi thi đỗ, ông làm huấn đạo trường phủ, rồi tri huyện Thanh Oai, sau thăng chức Ngự sử đài đại phu. Về sau, ông về hưu, và làm nghề dạy học. Ông dạy con cháu của Nguyễn Đình Kỳ đều đỗ Hương Cống triều Lê. Sách Tang thương ngẫu lục có viết: “Trong khoảng trường ốc, văn chương ông tiếng lừng thiên hạ. Bấy giờ chúa Uy vương (Trịnh Giang) bị bệnh, phải rời đến ở cung Thưởng Liên. Tối đến, kinh thành cấm lửa rất ngặt. Đặng Trần Côn đào hầm ở dưới đất đọc sách, không bỏ bễ lúc nào”. Sự nghiệp chính trị của ông không được nhắc đến nhiều, ông thành danh chủ yếu trong lĩnh vực văn chương.

Đặng Trần Côn sáng tác khá nhiều thi ca. Hầu hết tất cả các tác phẩm của ông đều rung động lòng người đương thời và hậu thế bởi một hồn thơ nhạy cảm và mang nặng nỗi buồn đau nhân thế. Các tác phẩm của Đặng Trần Côn đều viết bằng chữ Hán. Ông đặc biệt nổi tiếng với tác phẩm Chinh phụ ngâm. Kiệt tác này được sáng tác vào khoảng những năm 40 của thế kỷ VXIII và được đánh giá cao ngay từ khi mới ra đời. Nhà sử học nổi tiếng Phan Huy Chú nhận định rằng, sách Chinh phụ ngâm là của Hương cống Đặng Trần Côn soạn vào đầu đời Cảnh Hưng, giai đoạn binh biến nổi dậy khắp nơi, những người đàn ông phải đi đánh trận xa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra (Lịch triều hiến chương loại chí). Phạm Đình Hổ trong sách Tang thương ngẫu lục viết: “Khoảng năm về già, ông làm khúc Chinh phụ ngâm, cả thảy đến mấy nghìn lời. Khi làm xong, Đặng Trần Côn đưa cho Ngô Thì Sĩ xem, ông họ Ngô bội phần thán phục bởi tài năng và công sức của Đặng Trần Côn”...

Chinh phụ ngâm ra đời ở trong thời kỳ có nhiều biến động lớn của lịch sử dân tộc và lịch sử văn chương nước ta. Trên bình diện chính trị, hai ngôi chúa là chúa Trịnh Đàng Ngoài và chúa Nguyễn Đàng Trong cùng với một ngôi vua của nhà Lê rõ ràng đã tạo ra sự chia rẽ sâu sắc trong xã hội, nó chính là tiền đề của các cuộc nội chiến đầy máu và nước mắt kéo dài suốt mấy chục năm trời. Đến thế kỷ XVIII, tình hình đất nước còn rối loạn hơn với các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi trong cả nước. Trong lòng xã hội phong kiến Việt Nam lúc này rối như sợi tơ vò. Một biểu hiện của sự rối ren ấy là đã bắt đầu xuất hiện một loại hình kinh tế mới, kinh tế đô thị; đây là động lực cho ra đời những tư tưởng và cảm xúc của những cá nhân có trách nhiệm với nhân dân, với đất nước. Tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn ra đời đã kịp diễn tả lại được không khí của thời kỳ đầy biến động lúc bấy giờ và Đoàn Thị Điểm đã diễn Nôm rất thành công:

Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,

Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.

Chín lần gươm báu trao tay,

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

Nước thanh bình ba trăm năm cũ,

Áo nhung trao quan vũ từ đây!

Sứ trời sớm giục đường mây,

Phép công là trọng niềm tây sá nào!

Đặng Trần Côn là một người gắn bó với vùng đất Thăng Long - Hà Nội trong suốt một thời gian dài từ thuở ấu thơ đến khi đèn sách, thi cử và làm quan tri huyện ở Thanh Oai. Ông thấu hiểu được nội tình đất nước, nhận ra được mầm mống gây họa cho nhân dân, đặc biệt là gây những nỗi bất hạnh cho cuộc đời người phụ nữ chính là chiến tranh phong kiến. Tác phẩm Chinh phụ ngâm đã biểu đạt được một cách sâu sắc và toàn vẹn nỗi đau của những người thiếu phụ đằng đẵng chờ chồng đi chinh chiến với đan xen những xúc cảm dồn nén, hi vọng, khắc khoải, rồi thất vọng khi nhận ra hiện thực cả hai đang phải cách xa hàng “ngàn núi xanh, ngàn dâu xanh”:

Dấu chàng theo lớp mây đưa,

Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Chàng thì đi cõi xa mưa gió,

Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.

Đoái trông theo đã cách ngăn:

Tuôn màu mây biếc, trải ngàn núi xanh.

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,

Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.

Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,

Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.

Ngàn dâu xanh ngắt một màu,

Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

Tác phẩm mang một giá trị nhân đạo sâu sắc, nó hướng đến con người và cảm thương cho những nỗi đau của con người, mà tiêu biểu là người phụ nữ sống trong xã hội còn nhiều bất công.

Đặt trong mối tương quan giữa Chinh phụ ngâm nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn với bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm cần đặc biệt chú ý tới nhận định của học giả Đặng Thai Mai trong công trình Giảng văn Chinh phụ ngâm: “Tác giả khúc ngâm bằng chữ Hán đã có thể lợi dụng được thể trường đoản cú của thơ Nhạc phủ để mà biểu hiện những sự trạng đối chọi, hay những tình thế trái ngược, giữa bao nhiêu cụ tượng trước mắt với những điều ước mong tha thiết trong lòng. Bút pháp đối chọi là một bút pháp thông thường trong văn tự tình. Sau bốn câu ngắn (5 chữ) trôi vút lên hai câu dài thì chủ đề của một bức cảnh cũng dường như được nâng nổi hẳn lên. Trong lối văn song thất lục bát, Đoàn Thị Điểm không có thể sử dụng được những biến thái dồi dào như nguyên văn. Nhưng đặc sắc của khúc ngâm dịch ra Việt văn là ở trong chi tiết văn chương - les destails - của khúc ngâm” (1950)...

Bên cạnh tác phẩm Chinh phụ ngâm nổi tiếng, Đặng Trần Côn có thể còn là tác giả của tiểu thuyết Bích câu kỳ ngộ (theo ý kiến của Phạm Đình Hổ) và một số bài thơ như: Tiêu Tương bát cảnh (Tám cảnh Tiêu Tương), các bài phú: Trương Hàn tư thuần lô (Trương Hàn nhớ rau thuần cá vược), Trương Lương bố y (Trương Lương áo vải), Khấu môn thanh (Tiếng gõ cửa)... Ngoài ra, Đặng Trần Côn còn có một số lời thơ được các tác gia cùng thời ghi chép tản mạn. Trong sách Tang thương ngẫu lục có ghi chép về một số câu thơ thể hiện phong cách riêng, những suy tư trăn trở của Đặng Trần Côn trước thời cuộc. Với cách sử dụng câu cú thanh thoát, dùng điển tích một cách tinh vi, hợp lý đã đủ cho thấy tài năng văn chương lỗi lạc của ông:

Lãnh đạm thôn hào, bán thướng liễu bát vương chi thành bại,

Tầm thường dã phẩm, sổ bôi tàn lưỡng Tấn chi thị phi.

(Món quê nhạt nhẽo, nửa bữa xong cuộc thành bại của tám vị vương,

Vị đồng tầm thường, mấy chén tàn chuyện thị phi của hai triều nhà Tấn)

(Trương Hàn tư thuần lô)

Trong một bài văn yết miếu đức thánh Khổng Tử, bằng phép đối tám chữ, cô đúc tài tình, như một sự khẳng định mang tính chân lý, Đặng Trần Côn đã nâng tầm của Khổng Tử lên địa vị cao nhất:

Vô vị Huân Hoa, Năng ngôn thiên địa.

(Nghiêu Thuấn không ngôi, Đất trời biết nói)

Thơ ca của Đặng Trần Côn khác hẳn với những bài thơ đương thời. Thơ ông không mang tính chất hàn lâm khoa cử, mà thể hiện bản ngã, sự tinh tế nhạy cảm trước thiên nhiên, xã hội và con người. Sự riêng biệt trong thơ Đặng Trần Côn đã làm nên một phong cách riêng, một tư tưởng mới so với thời đại của ông. Bài Tiêu Tương dạ vũ là một ví dụ điển hình cho lối viết và cho tư tưởng này:

Cô bồ trạch quốc tứ thương thương,

Thùy bả lâm lang trích dạ trường.

Sạ quá u lan đề Sở Khách,

Hốt lai ám trúc khấp Nga Hoàng.

Tần châu lãnh bức ngư đăng tế,

Bồng để thu kinh lữ mấn hoàng.

Phất lược sổ phong viên thụ ngoại,

Thương ca thanh đoạn thủy mang mang.

Bản dịch nghĩa:

Cỏ cao nước cả bốn bề xanh xanh,

Ai đem gieo hạt ngọc trong lúc đêm dài?

Trận mưa chợt qua cụm lan tối tăm để than người khách Sở,

Vụt đến bụi trúc âm thầm để khóc nàng Nga Hoàng

Bãi rau bị khí lạnh đè ép làm cho đèn chài nhỏ tý,

Gốc cỏ bồng hơi thu ghê rợn làm cho mái tóc lữ thứ điểm vàng.

Chợt qua ngoài lùm cây, vượn leo trên mấy ngọn núi cao,

Khúc ca Thương Lương dứt tiếng, mặt nước sông man mác.

(Mưa đêm ở sông Tiêu Tương)

Các văn bản thơ ca của Đặng Trần Côn còn lại đến ngày nay không nhiều nhưng trong số ấy đã có tuyệt tác để đời Chinh phụ ngâm. Tác phẩm này cùng với các trước tác của ông đóng vai trò như những minh chứng sống động cho tấm lòng nhân đạo cao cả và tài năng thơ ca của ông.

Đặng Trần Côn đã để lại cho hậu thế một tấm gương sáng về tinh thần học tập, biết vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống để hoàn thiện mình. Ông là người lao động nghệ thuật không biết mệt mỏi, được rất nhiều học giả đương thời yêu quý và kính trọng. Vượt qua rào cản về khoa cử và địa vị của một vị quan huyện, Đặng Trần Côn xứng đáng là một thi sĩ đa tài với những tác phẩm văn chương để đời mà trong lịch sử văn chương Việt Nam không dễ gì có được./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Hát Thường rang, Bộ mẹng của người Mường tại Phú Thọ được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
    Hát Thường Rang, Bộ mẹng được người Mường gọi với những cái tên thân thuộc như Rằng Đang hay Rằng Thường, loại hình nghệ thuật này có vai trò không thể thay thế trong đời sống văn hóa tinh thần và phong tục tập quán của đồng bào.
  • Xã Phù Đổng: Cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
    Thông tin từ UBND xã Phù Đổng (TP. Hà Nội), Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Phù Đổng vừa khánh thành công trình tu bổ, tôn tạo đình Hạ Thôn. Đây là sự kiện quan trọng của địa phương nhằm chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, đặc biệt cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và Chương trình Hành động số 08-Ctr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW.
  • Từ 08-10/5 sẽ diễn ra trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề tại Hoàng Thành Thăng Long
    Lễ đón nhận làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng là thành viên của mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo Thế giới và khai mạc sự kiện trưng bày, trình diễn, tạo tác sản phẩm thủ công mỹ nghệ làng nghề” diễn ra tại Hoàng Thành Thăng Long từ ngày 08-10/5/2026”.
  • Đền Kim Liên - Trấn Nam: “Đóa sen vàng” của Thăng Long Tứ Trấn
    Sáng 02/5 (ngày 16/3 năm Bính Ngọ), trong không khí trang nghiêm và thành kính, Đảng ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám long trọng tổ chức Lễ hội truyền thống di tích Quốc gia đặc biệt đền Kim Liên. Đây không chỉ là một nghi lễ tâm linh, mà còn là minh chứng của lòng tri ân, là gạch nối giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại rạng rỡ.
  • Đền Kim Liên - Nơi linh khí hội tụ và hồn cốt Thăng Long tỏa sáng
    Trong cái nắng đầu hạ dịu ngọt của những ngày đầu tháng Năm năm 2026, khi dòng người tấp nập đổ về những di tích cổ kính của Thủ đô, có một khoảng trời bình yên nhưng rộn rã đang mở ra tại phía Nam kinh thành xưa. Đó là đền Kim Liên – một trong “Thăng Long Tứ Trấn” lừng lẫy, nơi đang diễn ra ngày hội văn hóa nghệ thuật đặc sắc vào ngày 01/5 (tức ngày15/3 âm lịch), khởi đầu cho chuỗi hành trình tâm linh tôn vinh Đức Cao Sơn Đại Vương.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • 3 ấn phẩm giúp người trẻ hiểu đúng và làm chủ AI
    Chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, Nhà xuất bản Kim Đồng ra mắt bạn đọc 3 ấn phẩm về trí tuệ nhân tạo, khoa học và tâm lí học hiện đại, gồm: “Lược sử trí khôn - Từ giun biển đến ChatGPT”, “Sống thư thái trong thời đại AI” và “Trí tuệ nhân tạo dưới lăng kính tâm lí học”.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bóng làng nơi đáy ao (Kỳ 2)
    Ở làng Chiện này, cách đây năm mươi cái tết, người đàn ông nào vào tuổi ngũ tuần, thì được làng tặng con cá chép ao Sen. Ao Sen là ao chung của cả làng, có ý nghĩa quan trọng với cả cộng đồng. Ông Nền giờ đã ngoài sáu mươi, sau khi rời quân ngũ về đã làm liền hai khóa chủ tịch xã. Còn hơn nửa năm nữa, ông chỉ mong kết thúc nhiệm kì để được nghỉ ngơi.
  • Triển lãm 80 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến
    Trong khuôn khổ Lễ hội Làng Sen năm 2026, Triển lãm chuyên đề “80 năm Bác Hồ ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 - 19/12/2026) sẽ diễn ra từ ngày 19/5 đến 23/5/2026 tại Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh. Lễ khai mạc được tổ chức lúc 8h ngày 19/5/2026.
  • Tiếp tục phát động cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026 tới học sinh THCS, THPT tại khu vực miền Trung
    Ngày 15/5/2026 tại Đà Nẵng, Sam Sung Việt Nam phối hợp cùng Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) tổ chức Lễ phát động cuộc thi Samsung Solve for Tomorrow 2026 tại khu vực miền Trung với mục tiêu thúc đẩy việc ứng dụng giáo dục STEM vào nghiên cứu và xây dựng các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn của xã hội và địa phương.
  • Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội
    Ngày 16/5, tại Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội (16/5/1906 - 16/5/2026) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại Lễ kỷ niệm.
Đừng bỏ lỡ
Đặng Trần Côn – thi sĩ đa tài
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO