Văn hóa người Hà Nội: Kết tinh, hội tụ, lan tỏa

Kinhtedothi| 06/10/2019 09:40

Lịch sử văn hóa,tính cách người Hà Nội là sự kết tinh, lan tỏa của mảnh đất nghìn năm văn hiến.

Dù sống hoàn cảnh nào, người Hà Nội vẫn luôn giữ được văn hóa ứng xử hào hoa, thanh lịch. Hồn của Hà Nội không phải chỉ ở những con phố tấp nập, danh lam thắng cảnh đẹp, các tòa nhà chọc trời mà còn ở chính con người sinh sống ở nơi đây. Hơn 1.000 năm trôi qua, người dân Hà Nội đã làm nên một Tràng An với nét văn hóa riêng.

Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng trong một bài viết có tên “30 năm nghiên cứu văn hóa dân gian Hà Nội” đã rút ra tính cách của người Hà Nội gồm: Thanh lịch, tế nhị và nhân ái. Những nhận xét trên cho thấy, người Hà Nội có rất nhiều tính cách khác nhau, được đúc kết thông qua cách ứng xử hàng ngày.
Tình người Tràng An
Quay ngược thời gian những năm trước đây, khoảng thế kỷ XIX, người Hà Nội thường xuyên để một ấm chè tươi, gáo, bát trước cửa nhà để người nghèo, khát nước uống miễn phí. Xưa, ở Thăng Long, người dân ở nơi khác đến cũng truyền tai câu nói: “Đông Thành là mẹ là cha/Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành”.
Chợ Đông Thành xưa nằm ở phía Đông Hà Nội, tương ứng với một số tuyến phố hiện nay của Hà Nội như Hàng Đường, Hàng Mã… Người xưa truyền tai nhau như vậy vì người buôn bán, sinh sống ở chợ Đông Thành rất thương người. Ai nghèo khó, ăn xin ra Đông Thành có thể được cho bữa ăn hay 5 xu, 1 hào để cầm cự với cuộc sống nghèo đói.
Không chỉ giúp đỡ người nghèo, người Hà Nội xưa còn thường xuyên làm từ thiện. Nét đẹp trong văn hóa ứng xử này trở thành biểu tượng của người dân kinh thành Thăng Long. Sử sách còn ghi, vào thời vua Tự Đức, có một người phụ nữ ở Hà Nội thường giúp đỡ người nghèo, thiếu thốn. Đó là bà Lê Thị Mai - một người phụ nữ thuộc hàng khá giả ở Hà Nội. Bà góa chồng từ trẻ nhưng bà không đi bước nữa. Bà đã dùng tiền của mình để nuôi những sinh đồ lên kinh thành đi thi.
Không những vậy, bà Mai còn làm nhiều quán sinh đồ ở Hàng Đậu, Hàng Giấy gần trường Đại Tập của ông Nghè Lê Đình Diên. Bà đã gửi sinh đồ vào trường để học. Học trò nghèo không có tiền thuê nhà, bà Mai cho ở trọ miễn phí và mua bút, mua giấy để cho sinh đồ học hành, đi thi.
Năm 1983, Pháp chiếm thành Hà Nội, Bắc Kỳ lụt lội, dân đói kém, kho lương của triều đình cũng không đủ. Bà Mai đã đi khắp thành Thăng Long để vận động gia đình khá giả ở ủng hộ giúp dân qua nạn đói, vì thế bà được nhiều người yêu quý. Khi bà mất, người dân Hà Nội đã lập miếu thờ bà ngay cạnh mộ. Việc tốt của bà đã đến tai vua Tự Đức, ông đã sắc phong cho bà danh “Tiết phụ Từ”.
Nói đến việc làm từ thiện của người dân Thăng Long xưa cũng không thể không nói đến bà Cả Mọc. Bà tên thật là Hoàng Thị Uyên (người làng Kim Lũ, nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội). Bà Cả Mọc chồng mất sớm, không có con. Cha chồng cũng qua đời nên bà ở vậy phụng dưỡng mẹ chồng từ năm 20 tuổi. Nhà không có ruộng nên bà cùng nhiều người đi bán hàng thuê ở phố Hàng Đào.
Khi mẹ chồng vào chùa, bà Cả Mọc vay vốn bạn bè, người thân để mở một cửa hàng bán vải ở Hàng Đào, lấy tên là Nghĩa Lợi. Nhờ buôn bán thật thà, sẵn sàng cho mua chịu nên cửa hàng của bà luôn đông khách, được mọi người yêu quý.
Năm 1923, Nam Định, Thái Bình vỡ đê, dân đói la liệt. Bà đã lấy tiền đi ủng hộ. Hết tiền, bà lại đi vay tiền để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Sau này, bà thấy nhiều người làm thuê trên phố vì bận mưu sinh nên không chăm nom con, để chúng lang thang trên phố. Bà đã vận động chị em buôn bán gom lũ trẻ lại, cho ăn trưa để bố mẹ chúng yên tâm kiếm tiền trang trải cuộc sống.
Khi nhận thấy, không chỉ trẻ em ở các phố Hàng Ngang, Hàng Đào… mà rất nhiều nơi khác cần chăm sóc, bà Cả Mọc đã lập nhà Tế Sinh (hay gọi là viện tế bần). Trên cổng ra vào, bà cho ghi “Ấu nhân chi ấu - Yêu con mình, yêu cả con người”. Vua Bảo Đại nghe tin, từ Huế đã ra thăm Tế Sinh. Trở về, Bảo Đại ban cho bà bảng vàng nhưng bà từ chối không nhận.
Về sau, bà Cả Mọc còn xây một dãy nhà ở Sóc Sơn để đón các lão ông, lão bà không nơi nương tựa về ở và trong mấy năm. Tháng 3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời bà lên Bắc Bộ phủ dùng trà và khen ngợi những việc mà bà đã làm khi dân ta còn nhiều người nghèo khổ.
Cảm kích trước những lời khen ngợi, bà thưa với Chủ tịch Hồ Chí Minh, những việc làm đó không có gì to tát so với nhiều người Hà Nội lúc đó đóng góp cho hàng trăm lượng vàng cứu đói. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bà đưa các cháu lên ấp này và mất ở đó năm 1947.
Nét tinh tế trong ứng xử 
Trong một lần đi thăm Bắc Hà, vua Tự Đức có nói với các quan rằng: “Xưa nay người Thăng Long có tính “kiêu bạc, xa xỉ và phóng đãng”. Lời nhận xét (thực ra là than vãn) của vua Tự Đức về tính cách của người Hà Nội xưa phần nào cũng cho thấy lối sống, văn hóa ứng xử của họ.
Lời nhận xét “kiêu bạc” của người Hà Nội xưa xuất phát từ việc họ nể phục người tài giỏi, coi thường những kẻ kém cỏi nhưng hay lên giọng. Người Hà Nội có thể coi thường vật chất nhưng lại trọng danh dự và liêm sỉ.
Từ trong gia đình ra ngoài xã hội, đến hội hè, người Hà Nội bao giờ cũng để ý những cái nhỏ. Ví dụ như ngồi ăn cỗ, thấy người răng kém, răng gãy, người Hà Nội không bao giờ gắp thịt có xương, bao giờ cũng gắp miếng mềm nhất. Còn trong lời nói, người Hà Nội khi hỏi thăm sức khỏe của người cao tuổi không hỏi “có khỏe không” mà thường nói “cụ, ông hoặc bà ăn được mấy bát cơm”.
Khi hỏi về công việc, người Hà Nội xưa cũng không bao giờ đặt câu hỏi: “Anh/chị làm gì?” mà hỏi “công việc của bác thế nào”. Tóm lại, người Hà Nội không bao giờ hỏi trực tiếp vấn đề, mà thường nói tránh để dễ trả lời, tránh để người trả lời cảm thấy phiền hà.
Bên cạnh đó, người Hà Nội, nhất là phụ nữ khi đi ra chỗ đông người không bao giờ nói to, có nói cũng ghé vào tai thì thầm. Phụ nữ đi hội đi hè bên trong có thể áo mớ 3, mớ 7 nhưng bên ngoài luôn khoác một chiếc áo rất nền nã. Đàn ông Thăng Long xưa cũng thế, họ uống rượu bằng chén nhỏ để cho câu chuyện thêm nồng chứ không say.
Thế nhưng, người Hà Nội lại có thú chơi rất xa xỉ, thể hiện ở sở thích chơi những gì hiếu thượng - chạy theo mốt. Từ xưa, người Thăng Long đã đặt mua bộ ấm chén, ấm pha trà của người Trung Hoa, đặt mua giày dép từ Malaysia để về sử dụng. Qua đó cho thấy, người Hà Nội có tính hào phóng trong tiêu dùng, không phải người kẹt xỉn, “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành”.
Cùng với việc chạy theo mốt, người Hà Nội xưa còn rất yêu thiên nhiên, đặc biệt là hoa. Thời Lê, hầu như gia đình nào ở Thăng Long cũng trồng hoa, trồng cây ở trong nhà. Ngoài chuyện để chơi, thưởng thức, di dưỡng tinh thần thì chơi hoa, trồng hoa là cái rất yêu thiên nhiên của người Hà Nội.
Trong cuốn sách “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ có viết: Vì người Thăng Long quá yêu cây, thiên nhiên đã tạo ra cây hoa đẹp nên mới nảy sinh ra chuyện ăn cắp hoa. Cũng có trường hợp, quan lại thời đó ỷ có quyền chức đã sai quân đi chấm xem cây hoa nào đẹp để trộm về nhà riêng của mình.
Tiếp thu văn hóa ứng xử
Trong suốt chiều dài lịch sử, văn hóa ứng xử của người Hà Nội chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Phật giáo, Nho giáo và văn hóa phương Tây. Từ thời Lý đến thời Trần, Phật giáo được xem là Quốc đạo của Việt Nam. Vì vậy, tinh thần đạo Phật ngấm sâu vào người Việt Nam nói chung và Thăng Long. Do đó, nét ứng xử nhân hậu, bác ái, từ bi của người Hà Nội chịu tác động nhiều bởi Phật giáo.
Sang thời Lê, Nho giáo phát triển. Ở Thăng Long lại có nhiều tri thức Nho học nên “Gần lửa rát mặt” - người dân Hà Nội bị ảnh hưởng bởi Nho học rất lớn trong ứng xử, lời ăn tiếng nói và trong ăn mặc. Vì thế, người Hà Nội có lối ứng xử rất nền nếp, khiêm cung… có trên có dưới, khiêm tốn, luôn tôn trọng người khác.
Gần hơn, khi quân đội Pháp chiếm Hà Nội năm 1882, xã hội Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung có sự thay đổi. Khi ấy, Hà Nội chịu tác động nhiều bởi văn hóa, văn minh Pháp, trẻ em phải đi học ở các trường do Pháp mở. Suốt thời gian Pháp thuộc, ngoài những nét văn hóa, văn minh bị cưỡng bức, người dân Thăng Long chọn được những cái hay, đẹp của văn minh phương Tây, đưa nó vào cuộc sống hàng ngày.
Qua đó, văn hóa ứng xử của người Hà Nội vừa giữ được những truyền thống lại tiếp thu được cái tốt đẹp của văn minh phương Tây và tạo ra lối ứng xử vừa xưa vừa nay. Đơn cử, người Hà Nội xưa học cách bắt tay, nói cảm ơn của Pháp.
Cuối thế kỷ XIX đầu XX, người Hà Nội đã tiếp thu văn minh phương Tây và kiến thức về lịch sử, hội họa, văn hóa làm phong phú thêm kiến thức, văn hóa. Từ đó trong ứng xử, giao tiếp của người Hà Nội cũng trở nên thanh lịch, sâu sắc hơn.
Qua đó cho thấy, người Hà Nội đã chắt chiu những tinh hoa văn hóa của ngàn năm văn hiến. Trong đó, văn hóa ứng xử của người Hà Nội đặc biệt mềm mỏng, quan tâm đến những người xung quanh. Và nét văn hóa ứng xử của người Hà Nội được xây dựng, nuôi dưỡng trên một nền móng những nghi thức rất phong phú.

"Phụ nữ Thăng Long xưa, ra ngoài tháo vát buôn bán nuôi con, về nhà bao giờ cũng tôn trọng chồng. Họ coi chồng như chỗ dựa tinh thần cho gia đình. Phụ nữ Hà Nội xưa không bao giờ to tiếng với chồng, ngoài việc buôn bán, tay hòm chìa khóa còn đảm đang, giỏi nội trợ." - Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến - Tác giả những cuốn sách “Đi dọc Hà Nội”, “Đi ngang Hà Nội”, “Đi xuyên Hà Nội”.


"Hà Nội đã thay đổi nhiều không chỉ đường sá mà thay đổi ngay cả trong tinh thần. Đời sống văn hóa, tinh thần của người Hà Nội ngày càng cao. 65 năm qua, văn hóa của Hà Nội đạt nhiều thành tựu mà thế giới nghiêng mình. Do vậy, người Hà Nội phải biết trân trọng, nâng niu những điều tốt đẹp đó." - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Nguyễn Viết Chức

(0) Bình luận
  • Đình làng Văn Uyên - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa và dấu ấn Đức Thánh Nguyễn Siêu
    Nằm bên dòng sông Hồng, đình làng Văn Uyên (nay thuộc xã Nam Phù, TP. Hà Nội) là nơi nhân dân địa phương thờ Đức Thánh Nguyễn Siêu làm Thành hoàng làng. Trải qua nhiều thế hệ, ngôi đình không chỉ là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư mà còn lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa.
  • Bảo tàng Mỹ thuật ở giữa làng quê (huyện Ba Vì)
    Xứ Đoài là một vùng đất tối cổ - vùng địa văn hoá, địa thi hoạ - nơi mà con người có thể trải nghiệm đời mình trong hệ sinh thái tự nhiên của vùng đất, đi qua những truyền thuyết, cổ tích, để từ đó tạo nên tâm tính, giọng nói đặc trưng của con người xứ Đoài. Nắng và gió, núi và sông xứ Đoài đã gợi cảm hứng sáng tác cho một Tản Đà, một Quang Dũng và nhiều thi nhân, hoạ sĩ: từ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí đến Sĩ Tốt, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng... và những thế hệ văn nghệ sĩ sau này, ở họ đều có những sáng tác xuất sắc về xứ Đoài.
  • Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày (huyện Phú Xuyên)
    Đi khắp các vùng miền của Tổ quốc, những cựu tù binh Phú Quốc đã sưu tầm kỷ vật, di vật, tranh ảnh có liên quan đến các nhà tù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà đồng đội và các ông đã trải qua. Hơn 20 năm kiếm tìm và góp nhặt, Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, do chính những người cựu tù năm xưa thành lập là những minh chứng chân thực về một thời oanh liệt và hào hùng của dân tộc.
  • Bảo tàng Quê hương phong trào chiếc gậy Trường Sơn (huyệnỨng Hoà)
    Hoà Xá là một làng quê nằm sát bờ tả sông Đáy, thuộc vùng ven chiêm trũng Khu Cháy. Nơi đây sớm có phong trào cách mạng ngay từ những năm 1930, là hậu phương trung thành của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hòa Xá được xem là quê hương của phong trào động viên thanh niên lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và câu chuyện huyền thoại “chiếc gậy Trường Sơn”.
  • Khu Cháy, Bảo tàng Khu Cháy - một địa chỉ đỏ về truyền thống đấu tranh cách mạng ở Ứng Hoà, Phú Xuyên
    “Khu Cháy” là thuật ngữ để nói về một khu du kích trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm 22 xã ở phía nam huyện Ứng Hoà và tây huyện Phú Xuyên, Hà Nội.
  • Bảo tàng Tổng cục II (quận Hoàng Mai)
    Toạ lạc tại số 322 đường Lê Trọng Tấn, quận Hoàng Mai, Hà Nội trên khuôn viên rộng 3.500m2, gồm 2 tầng nhà và phần trưng bày ngoài trời, Bảo tàng Tổng cục II hiện lưu giữ 5.830 hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật quý hiếm gắn liền với cuộc đời hoạt động của nhiều chiến sĩ tình báo xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với chức năng phục vụ công tác nghiên cứu, tham quan học tập, giáo dục truyền thống, Bảo tàng Tổng cục II chính thức được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận nằm trong hệ thống các bảo tàng cấp 2 toàn quân.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Festival Thăng Long - Hà Nội 2026: Thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật trên nền tảng văn hoá truyền thống
    Tiếp nối thành công của Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ I năm 2025, Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” sẽ diễn ra từ ngày 11/9 đến ngày 20/9/2026 tại nhiều không gian văn hóa, di sản tiêu biểu của Thủ đô như: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Bảo tàng Hà Nội, xã Bát Tràng và khu vực Tượng đài Cảm tử và Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
  • Trưng bày “Tâm son, chí thép”: Lan tỏa các giá trị cao đẹp về lực lượng Công an nhân dân Việt Nam
    Kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 - 19/8/2026), Ban quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò tổ chức trưng bày chuyên đề “Tâm son, chí thép” tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò (phường Cửa Nam, TP Hà Nội).
  • Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát: Quen mà lạ trong tự truyện cuộc đời “Đi theo một quầng sáng”
    Khi biết nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát đang lao tâm khổ tứ với những đêm thức giấc, những ngày miệt mài viết tự truyện cuộc đời mình, tôi thầm nghĩ trong thời kỳ công nghệ số lên ngôi, còn mấy ai muốn đọc một cuốn tự truyện dày gần 500 trang nữa dù tôi biết cuộc sống của chị cũng có nhiều khúc quanh, khúc rẽ mà không ít người tò mò muốn biết... Thế mà trái với ý nghĩ ban đầu, khi cầm trên tay cuốn tự truyện “Đi theo một quầng sáng” (NXB Văn hóa Dân tộc, 2026) của chị, tôi đã đọc say sưa, hào hứng, thậm chí đọc miệt mài quên cả thời gian. Chỉ hai ngày, tôi đã “ngốn” xong cả dòng chảy ký ức cuộc đời tác giả.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Về nhà (Kỳ 2)
    Chị xuất khẩu sang Đài Loan lao động hơn chục năm. Khi chị đi, đứa con trai duy nhất mới tròn bảy tuổi. Năm nay, thằng bé đã mười chín. Nó có cái tên rất bắt tai, vừa nghe thôi cũng đủ khiến người ta tấm tắc bố mẹ nó khéo đặt thế! Hào Kiệt!...
  • Học viện Tài chính: Trao bằng tốt nghiệp cho tân cử nhân Khoa Kinh tế khóa 60
    Học viện Tài chính vừa tổ chức Lễ Bế giảng và trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên hệ đại học chính quy khóa 60, Khoa Kinh tế. Sự kiện đánh dấu hành trình 4 năm học tập, rèn luyện và trưởng thành của sinh viên CQ60; đồng thời là dịp để thầy và trò nhìn lại chặng đường đã qua, tri ân những người đồng hành và chúc mừng các tân cử nhân trước khi bước vào hành trình mới.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội di chuyển tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” về Bộ Tư lệnh Thủ đô
    Tượng đài “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” tại khuôn viên Di tích quốc gia đền Bà Kiệu dự kiến được di chuyển về Trung đoàn 692, Sư đoàn Bộ binh 301, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội và hoàn thành lắp dựng trước ngày 30/9/2026.
  • Khát vọng mùa hè
    Mùa hè, cũng đến từ một nơi xa, nhưng chẳng bao giờ chung đường với mùa xuân, mùa thu hay đông giá rét. Mùa hè đến từ những k ức thanh xuân nồng nàn, hồ hởi của mỗi con người chúng ta. Lạ thế chứ, sao ta đón bao mùa hè mà dường như vẫn chưa hề quen…
  • Lễ hội điện Huệ Nam: Giá trị văn hóa, tín ngưỡng hội tụ bên dòng sông Hương
    Lễ hội điện Huệ Nam tháng 7 Âm lịch năm 2026 chính thức khai hội tại điện Huệ Nam (điện Hòn Chén), đình làng Hải Cát và Điện thờ Thánh Mẫu (TP Huế).
  • [Podcast] Quà sáng của người Hà Nội
    Khi những tia nắng đầu tiên lấp lánh trên mặt hồ, cũng là lúc phố phường thức giấc bằng những âm thanh rất đỗi thân quen. Tiếng chổi tre của người công nhân vệ sinh, tiếng xe đạp chở hàng len qua từng con phố nhỏ, tiếng gọi nhau í ới của những người bán hàng rong... Và xen giữa những thanh âm ấy là mùi thơm quyến rũ của những món quà sáng đang lan tỏa từ các gánh hàng, quán nhỏ ven đường.
  • “Từ mùa thu độc lập” - Giai điệu của lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc
    Trong không khí phấn khởi, tự hào của những ngày tháng Tám lịch sử, hướng tới kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tối 19/8, tại Công viên Cầu Giấy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp với Đảng ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Cầu Giấy tổ chức chương trình nghệ thuật "Từ mùa thu độc lập".
  • Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Lễ hội điện Huệ Nam trong đời sống đương đại
    Các chuyên gia thảo luận, trao đổi “Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội điện Huệ Nam trong đời sống đương đại” và hướng tới mục tiêu ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại theo Công ước UNESCO năm 2003.
  • Liên hoan Phim Quốc tế Hà Nội lần thứ VIII: Điện ảnh - Kết nối - Phát triển
    Liên hoan Phim Quốc tế Hà Nội lần thứ VIII (HANIFF VIII) là sự kiện văn hóa – điện ảnh mang tầm quốc tế được tổ chức định kỳ hai năm một lần tại Thủ đô Hà Nội. Với chủ đề xuyên suốt “Điện ảnh - Kết nối - Phát triển”, HANIFF VIII không chỉ tôn vinh các tác phẩm điện ảnh xuất sắc của Việt Nam và thế giới mà còn là nhịp cầu thúc đẩy giao lưu văn hóa, phát triển công nghiệp điện ảnh và quảng bá hình ảnh Thủ đô Hà Nội.
  • “Bệ phóng” cho Hà Nội tiến tới mô hình không gian đô thị đa tầng - đa lớp
    Luật Thủ đô 2026 đã thiết lập khuôn khổ pháp lý mới với nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền Thành phố Hà Nội trong quản lý đầu tư, phát triển đô thị. Đặc biệt, Luật Thủ đô 2026 quy định về không gian tầm thấp để Hà Nội hiện thực hóa mục tiêu phát triển không gian đô thị đa tầng – đa lớp, vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn dịp 2/9
    Nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), Thành phố Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật đặc sắc, hấp dẫn, qua đó bồi đắp tình yêu Tổ quốc, lòng tự hào dân tộc... và góp phần đưa Hà Nội thành điểm đến uy tín của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật của khu vực và thế giới.
  • Lan tỏa tinh thần văn hóa từ "trái tim” của Thủ đô
    Khi những giai điệu của tác phẩm “Có phải em mùa thu Hà Nội” vang lên trong không gian Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, hình ảnh Thủ đô hiện lên qua âm nhạc với vẻ dịu dàng, sâu lắng mà vẫn đầy sức sống. Từ một ca khúc quen thuộc, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 16/8 đã mở ra một cách cảm nhận khác về Hà Nội: một thành phố trân trọng ký ức, nâng niu di sản, đồng thời sẵn sàng đón nhận những thanh âm mới của đời sống đương đại.
Văn hóa người Hà Nội: Kết tinh, hội tụ, lan tỏa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO