Văn hóa người Hà Nội: Kết tinh, hội tụ, lan tỏa

Kinhtedothi| 06/10/2019 09:40

Lịch sử văn hóa,tính cách người Hà Nội là sự kết tinh, lan tỏa của mảnh đất nghìn năm văn hiến.

Dù sống hoàn cảnh nào, người Hà Nội vẫn luôn giữ được văn hóa ứng xử hào hoa, thanh lịch. Hồn của Hà Nội không phải chỉ ở những con phố tấp nập, danh lam thắng cảnh đẹp, các tòa nhà chọc trời mà còn ở chính con người sinh sống ở nơi đây. Hơn 1.000 năm trôi qua, người dân Hà Nội đã làm nên một Tràng An với nét văn hóa riêng.

Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng trong một bài viết có tên “30 năm nghiên cứu văn hóa dân gian Hà Nội” đã rút ra tính cách của người Hà Nội gồm: Thanh lịch, tế nhị và nhân ái. Những nhận xét trên cho thấy, người Hà Nội có rất nhiều tính cách khác nhau, được đúc kết thông qua cách ứng xử hàng ngày.
Tình người Tràng An
Quay ngược thời gian những năm trước đây, khoảng thế kỷ XIX, người Hà Nội thường xuyên để một ấm chè tươi, gáo, bát trước cửa nhà để người nghèo, khát nước uống miễn phí. Xưa, ở Thăng Long, người dân ở nơi khác đến cũng truyền tai câu nói: “Đông Thành là mẹ là cha/Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành”.
Chợ Đông Thành xưa nằm ở phía Đông Hà Nội, tương ứng với một số tuyến phố hiện nay của Hà Nội như Hàng Đường, Hàng Mã… Người xưa truyền tai nhau như vậy vì người buôn bán, sinh sống ở chợ Đông Thành rất thương người. Ai nghèo khó, ăn xin ra Đông Thành có thể được cho bữa ăn hay 5 xu, 1 hào để cầm cự với cuộc sống nghèo đói.
Không chỉ giúp đỡ người nghèo, người Hà Nội xưa còn thường xuyên làm từ thiện. Nét đẹp trong văn hóa ứng xử này trở thành biểu tượng của người dân kinh thành Thăng Long. Sử sách còn ghi, vào thời vua Tự Đức, có một người phụ nữ ở Hà Nội thường giúp đỡ người nghèo, thiếu thốn. Đó là bà Lê Thị Mai - một người phụ nữ thuộc hàng khá giả ở Hà Nội. Bà góa chồng từ trẻ nhưng bà không đi bước nữa. Bà đã dùng tiền của mình để nuôi những sinh đồ lên kinh thành đi thi.
Không những vậy, bà Mai còn làm nhiều quán sinh đồ ở Hàng Đậu, Hàng Giấy gần trường Đại Tập của ông Nghè Lê Đình Diên. Bà đã gửi sinh đồ vào trường để học. Học trò nghèo không có tiền thuê nhà, bà Mai cho ở trọ miễn phí và mua bút, mua giấy để cho sinh đồ học hành, đi thi.
Năm 1983, Pháp chiếm thành Hà Nội, Bắc Kỳ lụt lội, dân đói kém, kho lương của triều đình cũng không đủ. Bà Mai đã đi khắp thành Thăng Long để vận động gia đình khá giả ở ủng hộ giúp dân qua nạn đói, vì thế bà được nhiều người yêu quý. Khi bà mất, người dân Hà Nội đã lập miếu thờ bà ngay cạnh mộ. Việc tốt của bà đã đến tai vua Tự Đức, ông đã sắc phong cho bà danh “Tiết phụ Từ”.
Nói đến việc làm từ thiện của người dân Thăng Long xưa cũng không thể không nói đến bà Cả Mọc. Bà tên thật là Hoàng Thị Uyên (người làng Kim Lũ, nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội). Bà Cả Mọc chồng mất sớm, không có con. Cha chồng cũng qua đời nên bà ở vậy phụng dưỡng mẹ chồng từ năm 20 tuổi. Nhà không có ruộng nên bà cùng nhiều người đi bán hàng thuê ở phố Hàng Đào.
Khi mẹ chồng vào chùa, bà Cả Mọc vay vốn bạn bè, người thân để mở một cửa hàng bán vải ở Hàng Đào, lấy tên là Nghĩa Lợi. Nhờ buôn bán thật thà, sẵn sàng cho mua chịu nên cửa hàng của bà luôn đông khách, được mọi người yêu quý.
Năm 1923, Nam Định, Thái Bình vỡ đê, dân đói la liệt. Bà đã lấy tiền đi ủng hộ. Hết tiền, bà lại đi vay tiền để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn. Sau này, bà thấy nhiều người làm thuê trên phố vì bận mưu sinh nên không chăm nom con, để chúng lang thang trên phố. Bà đã vận động chị em buôn bán gom lũ trẻ lại, cho ăn trưa để bố mẹ chúng yên tâm kiếm tiền trang trải cuộc sống.
Khi nhận thấy, không chỉ trẻ em ở các phố Hàng Ngang, Hàng Đào… mà rất nhiều nơi khác cần chăm sóc, bà Cả Mọc đã lập nhà Tế Sinh (hay gọi là viện tế bần). Trên cổng ra vào, bà cho ghi “Ấu nhân chi ấu - Yêu con mình, yêu cả con người”. Vua Bảo Đại nghe tin, từ Huế đã ra thăm Tế Sinh. Trở về, Bảo Đại ban cho bà bảng vàng nhưng bà từ chối không nhận.
Về sau, bà Cả Mọc còn xây một dãy nhà ở Sóc Sơn để đón các lão ông, lão bà không nơi nương tựa về ở và trong mấy năm. Tháng 3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời bà lên Bắc Bộ phủ dùng trà và khen ngợi những việc mà bà đã làm khi dân ta còn nhiều người nghèo khổ.
Cảm kích trước những lời khen ngợi, bà thưa với Chủ tịch Hồ Chí Minh, những việc làm đó không có gì to tát so với nhiều người Hà Nội lúc đó đóng góp cho hàng trăm lượng vàng cứu đói. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, bà đưa các cháu lên ấp này và mất ở đó năm 1947.
Nét tinh tế trong ứng xử 
Trong một lần đi thăm Bắc Hà, vua Tự Đức có nói với các quan rằng: “Xưa nay người Thăng Long có tính “kiêu bạc, xa xỉ và phóng đãng”. Lời nhận xét (thực ra là than vãn) của vua Tự Đức về tính cách của người Hà Nội xưa phần nào cũng cho thấy lối sống, văn hóa ứng xử của họ.
Lời nhận xét “kiêu bạc” của người Hà Nội xưa xuất phát từ việc họ nể phục người tài giỏi, coi thường những kẻ kém cỏi nhưng hay lên giọng. Người Hà Nội có thể coi thường vật chất nhưng lại trọng danh dự và liêm sỉ.
Từ trong gia đình ra ngoài xã hội, đến hội hè, người Hà Nội bao giờ cũng để ý những cái nhỏ. Ví dụ như ngồi ăn cỗ, thấy người răng kém, răng gãy, người Hà Nội không bao giờ gắp thịt có xương, bao giờ cũng gắp miếng mềm nhất. Còn trong lời nói, người Hà Nội khi hỏi thăm sức khỏe của người cao tuổi không hỏi “có khỏe không” mà thường nói “cụ, ông hoặc bà ăn được mấy bát cơm”.
Khi hỏi về công việc, người Hà Nội xưa cũng không bao giờ đặt câu hỏi: “Anh/chị làm gì?” mà hỏi “công việc của bác thế nào”. Tóm lại, người Hà Nội không bao giờ hỏi trực tiếp vấn đề, mà thường nói tránh để dễ trả lời, tránh để người trả lời cảm thấy phiền hà.
Bên cạnh đó, người Hà Nội, nhất là phụ nữ khi đi ra chỗ đông người không bao giờ nói to, có nói cũng ghé vào tai thì thầm. Phụ nữ đi hội đi hè bên trong có thể áo mớ 3, mớ 7 nhưng bên ngoài luôn khoác một chiếc áo rất nền nã. Đàn ông Thăng Long xưa cũng thế, họ uống rượu bằng chén nhỏ để cho câu chuyện thêm nồng chứ không say.
Thế nhưng, người Hà Nội lại có thú chơi rất xa xỉ, thể hiện ở sở thích chơi những gì hiếu thượng - chạy theo mốt. Từ xưa, người Thăng Long đã đặt mua bộ ấm chén, ấm pha trà của người Trung Hoa, đặt mua giày dép từ Malaysia để về sử dụng. Qua đó cho thấy, người Hà Nội có tính hào phóng trong tiêu dùng, không phải người kẹt xỉn, “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành”.
Cùng với việc chạy theo mốt, người Hà Nội xưa còn rất yêu thiên nhiên, đặc biệt là hoa. Thời Lê, hầu như gia đình nào ở Thăng Long cũng trồng hoa, trồng cây ở trong nhà. Ngoài chuyện để chơi, thưởng thức, di dưỡng tinh thần thì chơi hoa, trồng hoa là cái rất yêu thiên nhiên của người Hà Nội.
Trong cuốn sách “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ có viết: Vì người Thăng Long quá yêu cây, thiên nhiên đã tạo ra cây hoa đẹp nên mới nảy sinh ra chuyện ăn cắp hoa. Cũng có trường hợp, quan lại thời đó ỷ có quyền chức đã sai quân đi chấm xem cây hoa nào đẹp để trộm về nhà riêng của mình.
Tiếp thu văn hóa ứng xử
Trong suốt chiều dài lịch sử, văn hóa ứng xử của người Hà Nội chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Phật giáo, Nho giáo và văn hóa phương Tây. Từ thời Lý đến thời Trần, Phật giáo được xem là Quốc đạo của Việt Nam. Vì vậy, tinh thần đạo Phật ngấm sâu vào người Việt Nam nói chung và Thăng Long. Do đó, nét ứng xử nhân hậu, bác ái, từ bi của người Hà Nội chịu tác động nhiều bởi Phật giáo.
Sang thời Lê, Nho giáo phát triển. Ở Thăng Long lại có nhiều tri thức Nho học nên “Gần lửa rát mặt” - người dân Hà Nội bị ảnh hưởng bởi Nho học rất lớn trong ứng xử, lời ăn tiếng nói và trong ăn mặc. Vì thế, người Hà Nội có lối ứng xử rất nền nếp, khiêm cung… có trên có dưới, khiêm tốn, luôn tôn trọng người khác.
Gần hơn, khi quân đội Pháp chiếm Hà Nội năm 1882, xã hội Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung có sự thay đổi. Khi ấy, Hà Nội chịu tác động nhiều bởi văn hóa, văn minh Pháp, trẻ em phải đi học ở các trường do Pháp mở. Suốt thời gian Pháp thuộc, ngoài những nét văn hóa, văn minh bị cưỡng bức, người dân Thăng Long chọn được những cái hay, đẹp của văn minh phương Tây, đưa nó vào cuộc sống hàng ngày.
Qua đó, văn hóa ứng xử của người Hà Nội vừa giữ được những truyền thống lại tiếp thu được cái tốt đẹp của văn minh phương Tây và tạo ra lối ứng xử vừa xưa vừa nay. Đơn cử, người Hà Nội xưa học cách bắt tay, nói cảm ơn của Pháp.
Cuối thế kỷ XIX đầu XX, người Hà Nội đã tiếp thu văn minh phương Tây và kiến thức về lịch sử, hội họa, văn hóa làm phong phú thêm kiến thức, văn hóa. Từ đó trong ứng xử, giao tiếp của người Hà Nội cũng trở nên thanh lịch, sâu sắc hơn.
Qua đó cho thấy, người Hà Nội đã chắt chiu những tinh hoa văn hóa của ngàn năm văn hiến. Trong đó, văn hóa ứng xử của người Hà Nội đặc biệt mềm mỏng, quan tâm đến những người xung quanh. Và nét văn hóa ứng xử của người Hà Nội được xây dựng, nuôi dưỡng trên một nền móng những nghi thức rất phong phú.

"Phụ nữ Thăng Long xưa, ra ngoài tháo vát buôn bán nuôi con, về nhà bao giờ cũng tôn trọng chồng. Họ coi chồng như chỗ dựa tinh thần cho gia đình. Phụ nữ Hà Nội xưa không bao giờ to tiếng với chồng, ngoài việc buôn bán, tay hòm chìa khóa còn đảm đang, giỏi nội trợ." - Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến - Tác giả những cuốn sách “Đi dọc Hà Nội”, “Đi ngang Hà Nội”, “Đi xuyên Hà Nội”.


"Hà Nội đã thay đổi nhiều không chỉ đường sá mà thay đổi ngay cả trong tinh thần. Đời sống văn hóa, tinh thần của người Hà Nội ngày càng cao. 65 năm qua, văn hóa của Hà Nội đạt nhiều thành tựu mà thế giới nghiêng mình. Do vậy, người Hà Nội phải biết trân trọng, nâng niu những điều tốt đẹp đó." - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Nguyễn Viết Chức

(0) Bình luận
  • Đình làng Văn Uyên - Nơi lưu giữ hồn cốt văn hóa và dấu ấn Đức Thánh Nguyễn Siêu
    Nằm bên dòng sông Hồng, đình làng Văn Uyên (nay thuộc xã Nam Phù, TP. Hà Nội) là nơi nhân dân địa phương thờ Đức Thánh Nguyễn Siêu làm Thành hoàng làng. Trải qua nhiều thế hệ, ngôi đình không chỉ là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư mà còn lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, văn hóa.
  • Bảo tàng Mỹ thuật ở giữa làng quê (huyện Ba Vì)
    Xứ Đoài là một vùng đất tối cổ - vùng địa văn hoá, địa thi hoạ - nơi mà con người có thể trải nghiệm đời mình trong hệ sinh thái tự nhiên của vùng đất, đi qua những truyền thuyết, cổ tích, để từ đó tạo nên tâm tính, giọng nói đặc trưng của con người xứ Đoài. Nắng và gió, núi và sông xứ Đoài đã gợi cảm hứng sáng tác cho một Tản Đà, một Quang Dũng và nhiều thi nhân, hoạ sĩ: từ Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí đến Sĩ Tốt, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng... và những thế hệ văn nghệ sĩ sau này, ở họ đều có những sáng tác xuất sắc về xứ Đoài.
  • Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày (huyện Phú Xuyên)
    Đi khắp các vùng miền của Tổ quốc, những cựu tù binh Phú Quốc đã sưu tầm kỷ vật, di vật, tranh ảnh có liên quan đến các nhà tù trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược mà đồng đội và các ông đã trải qua. Hơn 20 năm kiếm tìm và góp nhặt, Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, do chính những người cựu tù năm xưa thành lập là những minh chứng chân thực về một thời oanh liệt và hào hùng của dân tộc.
  • Bảo tàng Quê hương phong trào chiếc gậy Trường Sơn (huyệnỨng Hoà)
    Hoà Xá là một làng quê nằm sát bờ tả sông Đáy, thuộc vùng ven chiêm trũng Khu Cháy. Nơi đây sớm có phong trào cách mạng ngay từ những năm 1930, là hậu phương trung thành của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hòa Xá được xem là quê hương của phong trào động viên thanh niên lên đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” và câu chuyện huyền thoại “chiếc gậy Trường Sơn”.
  • Khu Cháy, Bảo tàng Khu Cháy - một địa chỉ đỏ về truyền thống đấu tranh cách mạng ở Ứng Hoà, Phú Xuyên
    “Khu Cháy” là thuật ngữ để nói về một khu du kích trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm 22 xã ở phía nam huyện Ứng Hoà và tây huyện Phú Xuyên, Hà Nội.
  • Bảo tàng Tổng cục II (quận Hoàng Mai)
    Toạ lạc tại số 322 đường Lê Trọng Tấn, quận Hoàng Mai, Hà Nội trên khuôn viên rộng 3.500m2, gồm 2 tầng nhà và phần trưng bày ngoài trời, Bảo tàng Tổng cục II hiện lưu giữ 5.830 hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật quý hiếm gắn liền với cuộc đời hoạt động của nhiều chiến sĩ tình báo xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với chức năng phục vụ công tác nghiên cứu, tham quan học tập, giáo dục truyền thống, Bảo tàng Tổng cục II chính thức được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận nằm trong hệ thống các bảo tàng cấp 2 toàn quân.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hơn cả tình yêu
    Hè năm thứ nhất, đang là sinh viên Đại học Xây dựng, theo lời rủ rê của hai cô bạn thân, Hằng đi Sầm Sơn cùng với họ. Vào đến Sầm Sơn, lúc thuê khách sạn, Hằng mới vỡ lẽ, hai cô bạn kia đã có đôi, họ âm thầm sắp đặt sẵn kế hoạch từ trước. Họ gán ghép Hằng với Bắc, một bạn nam cùng lớp vào ở chung phòng. Đêm ấy, Hằng lang thang trên bờ biển, vừa giận bạn, vừa định bụng sẽ không về khách sạn ngủ...
  • Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Từ ngày 21-28/7, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) sẽ chủ trì tổ chức Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) trên phạm vi toàn quốc. Danh sách các phim được chiếu gồm: "Đừng đốt", "Mùi cỏ cháy", "Những người viết huyền thoại", "Đường xuyên rừng", "Truyền thuyết về Quán Tiên" và "Bình minh đỏ".
  • Hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam nhìn từ tiến trình lịch sử, các văn kiện của Đảng
    TS Vũ Dương Thúy Ngà (nguyên Vụ trưởng Vụ Thư viện, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) cho biết, trong kỷ nguyên mới, việc xây dựng, bảo tồn, phát huy hệ giá trị quốc gia và con người Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, tạo nên sức mạnh tinh thần, bồi dưỡng lòng tự tôn dân tộc cho người Việt, hình thành phẩm cách quốc gia và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
  • Chuông chiều Thiên Niên và dấu tích vị khai khoa đất Thăng Long Bùi Quốc Khái
    Chiều muộn, khi bước qua cổng tam quan của chùa Thiên Niên (số 308, đường Lạc Long Quân, thành phố Hà Nội), tôi chợt nghe tiếng chuông chùa ngân dài giữa không gian ven hồ lộng gió. Âm thanh ấy không quá lớn, nhưng đủ khiến lòng người chùng xuống. Giữa nhịp sống gấp gáp của Hà Nội hôm nay, có những khoảnh khắc như vậy khiến ta cảm giác mình vừa đi ngược dòng thời gian để trở về với một miền ký ức rất sâu của đất Thăng Long xưa.
  • Đưa thông tin sai sự thật Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm lên mạng xã hội sẽ bị xử lý nghiêm
    “Thành phố Hà Nội nếu phát hiện, xác minh việc phát tán thông tin sai sự thật Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm trên mạng xã hội thì cá nhân, tổ chức sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật” – bà Nguyễn Thị Mai Hương, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội nhấn mạnh tại cuộc họp báo thông tin tình hình kinh tế, xã hội 6 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026 do UBND Thành phố Hà Nội tổ chức chiều 10/7.
Đừng bỏ lỡ
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế”, tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
    Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế” giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của áo dài Huế gắn liền với lịch sử, văn hóa và đời sống của người dân Cố đô, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Huế - Kinh đô Áo dài Việt Nam.
  • Triển khai đồng bộ các hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Nhằm kịp thời thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển văn hóa Việt Nam, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026. Quyết định này đi kèm kế hoạch hành động nhằm triển khai đồng bộ, toàn diện bốn hệ giá trị cốt lõi: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trên phạm vi cả nước, tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền văn hóa của dân tộc.
  • Phát động Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" lần thứ 2
    Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật toàn quốc về Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" năm 2026 được tổ chức nhằm tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị đặc sắc của nghệ thuật xiếc Việt Nam; tạo sân chơi sáng tạo cho các nhiếp ảnh gia chuyên và không chuyên, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh nghệ thuật xiếc đến đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
Văn hóa người Hà Nội: Kết tinh, hội tụ, lan tỏa
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO