Lý luận - phê bình

Thơ về chiến tranh cách mạng 1946 - 1954 từ hướng nhìn Thủ đô Hà Nội

Nhà thơ Phạm Đình Ân 08:54 19/10/2024

Lịch sử thi ca chiến tranh cách mạng Việt Nam đã xác nhận có một khu vực tác phẩm oai hùng, chói sáng, đó là một di sản văn hóa quý báu: thơ viết về Thủ đô Hà Nội, trái tim của Tổ quốc, ở giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954. Thơ ca kháng chiến giai đoạn này bao gồm cả thơ viết về Hà Nội hoặc thơ liên quan đến Thủ đô. Số lượng tác phẩm phải đến hàng trăm. Nhiều tác phẩm đạt tới hiệu quả nghệ thuật nhất định, để lại giá trị lịch sử - văn hóa từ đó cho đến hôm nay và mai sau.

1. Dấu mốc mở đầu cuộc chiến tranh chống Pháp ấy cũng chính là dấu mốc chói ngời của lịch sử thơ ca Thủ đô Hà Nội sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi (1924 - 2003) quê Hà Nội, thuộc số những người mở đầu (năm 1946) vẻ vang, vinh hạnh của thơ ca Hà Nội mang dấu ấn lịch sử trọng đại và huy hoàng ấy. Lời thơ - lời hát “Người Hà Nội” cuồn cuộn sóng trào dâng, thấm sâu vào trái tim, khối óc hàng triệu người Việt Nam: “Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây/ Đây lắng hồn núi sông ngàn năm/ Đây Thăng Long/ Đây Đông Đô/ Đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu/ Hà Nội cháy khói lửa ngập trời/ Hà Nội hồng ầm ầm rung/ Hà Nội vùng đứng lên”. Nhiều năm qua cho đến hiện nay, bài thơ - ca khúc nổi tiếng này được xem như bài hát chính thức, hay nhất của Thủ đô, trở nên nhạc hiệu của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội.

ngay-ve.jpg
lai-ve-1.jpg

Được viết cũng khá sớm, chính là bài “Nhớ về Hà Nội vàng son” của Vũ Hoàng Chương (1916 - 1976). Bài thơ được viết từ một điểm nhìn kép: vừa nhìn về quá khứ, vừa nhìn vào hiện tại, lấy quá khứ làm điểm nhìn bao quát và hướng dẫn tư tưởng nghệ thuật. Giọng thơ đậm chất anh hùng ca và tinh thần lãng mạn cách mạng, thi ảnh ngời sáng, đã ngân vang mãi mãi trong lòng bạn đọc: “Ba mươi sáu phố ngày hôm ấy/ Là những nhành sông đỏ bóng cờ/ Chói lọi vàng sao hoa vĩ đại/ Năm cánh xòe trên năm cửa ô”.

Với bài “Tạm biệt em nhà hát Thủ đô ơi!” viết “đêm 19/12/1946, trước giờ nổ súng”, thơ Trần Huyền Trân (1913 - 1989) hết sức xúc động. Tác giả ra đi trong tâm trạng ước mơ da diết ngày trở về: “Ngày mai... ngày mai thôi! Bước chân ta trong đoàn người áo vải! Lịch sử trên vai chưa hề biết mỏi/ Người Hà Nội sống cho ra Hà Nội/ Người Hà Nội hôm nay đã mang dáng Bác Hồ/ Dáng cả Thăng Long, Đông Đô/ Dáng cả thiên thần Phù Đổng/ Biết cất mình bay bổng thần kỳ/ Biết làm nên chiến thắng/ Biết ra đi và biết trở về!”
Cũng đêm 19 thiêng liêng ấy, Ngô Linh Ngọc (1922 - 2004) sáng tác bài “Trăng đêm mười chín” tại chiến hào Bạch Mai - Hà Nội khi tác giả chợt chứng kiến một hiện tượng thiên nhiên huyền diệu: “Vọng tiếng cười vang bên ụ thép/ Trên tầng mây sáng giữa trời cao/ Một vành trăng mới vòng cung lượn/ Lấp lánh hai đầu hai ngôi sao// Cũng sao năm cánh như ta nhỉ/ Trăng đã cùng ta đánh trận đầu!”

2. “Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến/ Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô” (Hoài Anh). Thơ kháng chiến được viết trên quê hương Việt Bắc luôn luôn hướng về Thủ đô. Chia xa Thủ đô Hà Nội để lên “Thủ đô” kháng chiến Việt Bắc cũng vì Thủ đô, vì ước muốn có ngày sớm nhất trở về với thành phố quê hương vô vàn yêu quý - trái tim của cả nước. Các tác giả cho rằng mình được ở nơi yên lành, còn Hà Nội bị tạm chiếm chính là mặt trận, ai ai cũng thương, cũng lo bởi nơi đó có nhiều dân thường, có người thân và cả những cán bộ hoạt động bí mật. Có nhiều trường hợp thơ vừa nói đến ngày ra đi vừa hứa hẹn ngày trở lại. Thơ Tố Hữu, thơ Nguyễn Đình Thi là những thí dụ tiêu biểu.

ho-guom-nam-1954-anh-tu-lieu.jpg
Hồ Gươm năm 1954

Bài “Hà Nội đêm nay” viết năm 1949 của Nguyễn Đình Thi có hai phần, phần II tràn đầy niềm yêu thương và hy vọng: “Hà Nội ơi! Một ngày mai súng sẽ nổ rung trời/ Xe giặc lăn trong bụi/ Hà Nội lại là Hà Nội/ Bao nhiêu lùm cây mảnh tường vẫy reo/ Bao nhiêu cô gái mặc áo đẹp nhất/ Hà Nội ngực đập thình thình/ Những người con trai năm trước/ Súng choàng vai hoa trên tay /Bước vào phố cũ khóc cười /Trán còn in bóng núi”.

Và đây, một góc nhìn Thăng Long - Hà Nội của Lưu Quang Thuận khi nhà văn trên đường công tác đi về biên giới ghé lại một nhà sàn ở Bình Gia (Lạng Sơn): “Thơ chép dăm bài trong sổ/ Mưa nhiều sổ ướt thơ loang/ Nhớ Thăng Long bên bếp lửa nhà sàn/ Quanh bếp lửa một đàn em ríu rít”.

vi-cac-con-ha-noi-da-ve-ta.jpg

Tại Việt Bắc xa xôi, ngày 14/3/1951, Bàng Bá Lân (1912 - 1988) viết những lời thơ “Mơ về Hà Nội” đầy ân tình, thành thật, thân thương: “Nghiên đá đền Sơn cỏ sẫm rêu?/ Kinh thiên bút nọ đã lên meo?/ Muốn về nâng bút dầm nghiên đá/ Pha nước Hồ Gươm viết thật nhiều// “Giấy lụa”: Trời anh trải phẳng ra/ Bao nhiêu tứ đẹp đợi chờ ta/ Phen này thơ múa trên Hà Nội/ Vang rộn kinh kỳ khúc lạc ca”.
Với giọng thơ tâm tình, tha thiết, Huyền Kiêu (1915 – 1995) nhắn gửi Hà Nội: “Ta đi ngày tháng đinh ninh/ Cũng như Hà Nội theo mình đâu đây/ Cờ bay, phấp phới cờ bay/ Nhiều khi mộng cả ban ngày nhớ nhung/ Nước non đâu cũng anh hùng/ Càng tin Hà Nội muôn lòng sắc son”.

3. “Trước đau thương, Hà Nội không buồn/ Hà Nội rắn như thanh sắt nguội” (Hoài Anh). Có một dòng thơ về mặt trận trong lòng Thủ đô. Có thể nói rằng thi phẩm “Nhớ ngày Thủ đô kháng chiến” của Hoài Anh (1938 -2011) là một trường hợp tiêu biểu. Bằng thơ, tác giả tường thuật vừa khái quát vừa chi tiết về cảnh tượng chiến đấu của người dân Hà Nội. Có một chi tiết thú vị được nhiều người nhắc đến, đó là sau khi nghe kể về một người sau chín năm kháng chiến trở về, người bạn mời hút thuốc thổ lộ rằng đây là quà đã giữ suốt những năm xa cách, tác giả bèn lấy chuyện đó mà hư cấu. Thế là có mấy câu gần cuối bài tạo ra niềm thích thú đối với nhiều bạn đọc: Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy/ Ra phố mua một bao thuốc lá/ Chín năm sau anh mới trở về.

“Đêm Hà Nội” (viết năm 1950) của Chính Hữu (1926 - 2007) cũng là một sáng tác nổi tiếng. Thơ Chính Hữu súc tích, lời ít ý nhiều, gợi cảm suy tư lắng đọng. Hình ảnh những người đã rời đi, nay trở lại, ẩn hiện trong đêm tối, họ có thể là chiến sĩ hoặc cán bộ, sẽ cùng nhân dân Hà Nội đánh giặc.

Đêm Hà Nội buốt tê
Mái buồn nghe sấu rụng
Nhìn ra cửa ô, bóng những con đê
Ầm ì tiếng súng.
Ai về đó?
Trăng chếch, bóng đêm
Dài trên đường nhựa
Loáng đèn.

Những người con trai con gái
Hôm qua ra đi, hôm nay trở lại.
Hà Nội vẫn còn đây
Đứng lên từ gạch ngói
Hà Nội đang rầm rì
Đi trong từng ngõ tối.

4. Chỉ trong mấy tháng trong năm 1954, sự kiện đại thắng Điện Biên Phủ dẫn đến sự kiện kẻ thù phải rút khỏi Hà Nội. Niềm sướng vui Thủ đô được giải phóng vỡ òa. Tài năng thi ca lại được thử thách, bộc lộ, một cách tất yếu ở một số tài năng lớn, đó là Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Văn Cao, Chính Hữu... Bài thơ “Lại về” viết tháng 10/1954 của Tố Hữu (1920 - 2002) như nói thay tấm lòng, niềm ước ao của hàng triệu con người.

Hà Nội ơi, Hà Nội
Bao giờ
Giữa Thủ đô
Cụ Hồ về
Bộ đội
Tiến vào năm cửa ô?
Về đến đây rồi Hà Nội ơi!
Người đi kháng chiến tám năm trời
Hôm nay về lại đây Hà Nội
Giàn giụa vui lên ánh mắt cười!

Được quen phố cũ đây rồi
Thủ đô tươi dậy mắt người như hoa
Vườn hồng ngớt gió mưa qua
Cờ hoa đỏ nắng, mái nhà vàng sao...

Hồ Gươm xanh thắm quanh bờ
Thiên thu hồn nước mong chờ bấy nay
Bây giờ đây lại là đây
Quốc kỳ đỉnh thấp, sao bay mặt hồ...

“Ngày về” của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ rất lạ về cách nói đặc biệt, khác thường. Xúc cảm thơ vừa quá đỗi mừng vui sau chiến thắng lại vừa bịn rịn buồn tủi, chạnh lòng thương yêu, xót xa về con người, rộng hơn là cả Hà Nội, đất nước và dân tộc.

Hà Nội chiều nay mưa tầm tã
Ta lại về đây giữa phố xưa
Nước Hồ Gươm sao xanh dịu quá
Tháp Rùa rơi lệ cười trong mưa.

Ta nhìn hai mắt ta nhìn mãi
Cùng ta như lửa đốt dầu sôi
Nằm lại những chân rừng đầu núi
Hôm nay bao đồng chí đâu rồi.

Ta đứng khóc giữa trời mưa hắt
Leng keng chuông xe điện đổ hồi
Lòng ta bỗng như dòng suối mát
Ta đã về đây Hà Nội ơi.
Em Hà Nội má em ửng đỏ
Áo hoa em cất tự bao giờ
Góc phố bờ tường bao máu đổ
Còn tươi nguyên như những lá cờ.

Từ khắp bốn phương trời lửa đạn
Đàn con về sau những năm xa
Cởi súng gạt mồ hôi trên trán
Ta lại xây Hà Nội của ta.

Một buổi chiều mưa tầm tã, Hồ Gươm xanh dịu, Tháp Rùa khóc và cười trong mưa; vậy thì Hà Nội khóc hay chính là tác giả ứa lệ hòa vào cơn mưa? Thương xót biết bao nhiêu, khi trở về thì bao người vắng mặt, nằm lại ở chân rừng, đầu núi hiu quạnh. Nhân vật trữ tình đứng khóc giữa trời mưa hắt bỗng nghe tiếng chuông tàu điện, sực tỉnh lại với hiện thực tươi lành, rực rỡ (Lòng ta bỗng như dòng suối mát/ Ta đã về đây Hà Nội ơi). Thương quá người con gái, áo hoa em cất giữ lâu rồi, hôm nay mới đem ra mặc... Tác giả ngầm nói rằng để có cuộc trở về này, chúng ta đã mất bao nhiêu người, bao nhiêu xương máu và nước mắt (Ôi tha thiết lòng ta biết bao nhiêu/ Mỗi tấc đất Hà Nội đượm thắm máu hồng tươi – lời bài hát Người Hà Nội).

Với bài “Trở lại Thủ đô”, Xuân Miễn (1922 - 1990) có xúc cảm thật lòng: “Ôi! Những cái hôn nhòe nước mắt! Nhạc quấn bước chân, không gian vang khúc hát/ Của người Hà Nội vút cao/ Tháp Rùa đây, phố xá nọ năm nào/ Bỗng khác lạ trong tôi từng nét/ Đây mỗi viên gạch, mỗi góc tường còn dấu vết/ Mỗi gốc cây còn kể cùng tôi:/ Bạn hôm nay đi giữa nắng cười/ Có nhớ lại buổi đầu kháng chiến? (...) Tất cả ngày xưa hôm nay sống lại! Trên nóc Tháp Rùa một lá cờ bay”.

Bài “Về Hà Nội” của Trần Lê Văn (1923 - 2005) được nhìn hiện thực ở một góc độ riêng: “Hôm nay đứng giữa lòng Hà Nội/ Mở bừng con mắt ngỡ chiêm bao/ Đã biến đâu rồi những ụ đất? Bóng người tự vệ vuông cờ sao (...) Thư viện còn nguyên khóm trúc đào/ Dưới chân, đường sỏi lại xôn xao/ Mười năm trở lại tìm trang sách/ Bỏ dở từng trang một thuở nào”.

Có lẽ duy nhất, Phạm Hổ (1926 - 2007), sau này là một nhà thơ nổi tiếng viết cho thiếu nhi, từ năm 1954, với bài thơ “Vì các con, Hà Nội đã về ta”, ông đã quan tâm đến trẻ em. Nhà thơ viết: “Mới hôm qua trên tóc con gió thổi/ Còn bóng cây, bóng núi, chiến khu xanh, Mà hôm nay canh giấc mơ hai tuổi/ Đã Hồ Gươm, tàu điện chạy lanh canh (...) Trên trang sử thủ đô giải phóng/ Đẹp bao nhiêu những dáng ngủ măng thơ/ Những búp hoa sau một đêm báo động/ Trên nền trời chuyển sáng ngủ say sưa// Ngủ đi con! Ngủ đi các cháu!/ Vì các con! Hà Nội đã về ta! Từng góc phố còn chưa khô vết máu!/ Vì các con! Hà Nội sẽ thành hoa!”

Cũng như thơ chống Pháp nói chung, thơ viết về Hà Nội khi ấy là thơ trữ tình truyền thống, bắt rễ từ Thơ Mới nhưng mạnh về xúc cảm chân thật, gần dân gian, nhiều chi tiết đời sống. Cảm hứng thi ca về Thủ đô, hướng về thủ đô khi các tác giả đã rời đi, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ và cảm hứng thi ca về ngày trở về thành phố thân yêu đã kết bện với nhau. Với một đội ngũ tác giả dồi dào sức trẻ, cũng là tinh hoa của giới văn chương nước nhà tham gia sáng tác, có thể nói, thơ ca về Hà Nội giai đoạn 1946 - 1954, đặc biệt là ngày đầu tiên mở đầu sự kiện toàn quốc kháng chiến và cuối cùng là ngày tiếp quản Thủ đô, là một phần quan trọng, giàu ý nghĩa về tư tưởng cùng nghệ thuật trong thơ ca chiến tranh cách mạng của Việt Nam nói chung./.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt
    Trường ca “Thần Nông chân đất” của nhà thơ Phùng Trung Tập (NXB Hội Nhà văn, 2024) gồm 12 chương, với 184 trang. Tác phẩm tái hiện và ngợi ca lao động nông nghiệp như nền tảng sinh tồn của cộng đồng Việt, đồng thời đưa người nông dân lên tầm biểu tượng văn hóa - lịch sử - những “Thần Nông chân đất” đã mở cõi, dựng làng, giữ nước và truyền sinh khí cho non sông qua hàng nghìn năm. Đây là bản hợp xướng sử thi - trữ tình về người nông dân Việt Nam trong chiều dài lịch sử dân tộc.
  • "Thép dưới cỏ": Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
    Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Nhà báo, nhà thơ Vương Tâm với “Nhịp phố bốn mùa hoa”
    Tiếp nối mạch sách viết về Hà Nội như “Những nhịp cầu mùa thu” - trường ca viết về cầu Long Biên (NXB Quân đội nhân dân, 2009); “Cây đa Bác Hồ với muôn nẻo đường xuân” (NXB Văn học, 2017); “Vui nhất có chợ Đồng Xuân” (NXB Văn học, 2022); “Phố thời gian và ô cửa gió” (NXB Văn học, 2025)… mới đây, nhà thơ, nhà báo Vương Tâm tiếp tục ra mắt bạn đọc tập bút ký “Nhịp phố bốn mùa hoa” (NXB Hà Nội, 2026). Trong cuốn sách này, tác giả tập trung khắc họa những đường phố Hà Nội xưa và nay, đặc biệt là những phố cổ mang tên “Hàng” gắn với lịch sử, văn hóa và hồn cốt của Thăng Long - Kẻ Chợ.
  • Bản sắc thiên nhiên và ký ức quê hương trong thơ Đinh Xuân Trường
    Trong đời sống thơ Việt hôm nay, nơi nhiều tìm tòi hình thức, đổi mới diễn ngôn, những tiếng thơ đi từ mạch đất, từ đời sống bình dị lại có sức lay động lạ lùng, và tập thơ “Một phần mười giây” (NXB Hội Nhà văn, 2025) của tác giả Đinh Xuân Trường là một tập thơ như thế.
  • Đời sông, đời người đều chảy ra biển lớn thế gian!
    Bắt đầu từ thời hiện tại ngược về quá khứ kể về những biến thiên lịch sử một ngôi làng trong khoảng nửa thế kỷ gắn liền với quãng đời của nhân vật chính (Măng). Khép lại câu chuyện là sự quay về thời hiện tại để ngỏ số phận nhân vật dành cho bạn đọc phân tích, dự đoán, kết luận.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Hà Nội trong kỷ nguyên mới
    Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II năm 2026 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow” (từ 11 - 20/9) mở rộng cả về nội dung, không gian và phương thức tổ chức, là sự khẳng định tầm nhìn, hành động thiết thực thúc đẩy quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Từ những trang sách đến không gian văn hóa tri thức của Thủ đô
    Thành ủy Hà Nội ban hành Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 24/8/2026 thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới. Đây không chỉ là định hướng phát triển một lĩnh vực thuộc đời sống tư tưởng, văn hóa, mà còn đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái xuất bản, thư viện và văn hóa đọc hiện đại, qua đó bồi đắp đời sống tinh thần, khơi mở tri thức và góp phần làm sâu sắc thêm bản sắc văn hóa Thăng Long – Hà Nội.
  • Bảo tàng Hà Nội hòa dòng chảy sáng tạo, phát triển công nghiệp văn hóa
    Là thiết chế văn hóa quan trọng của Thủ đô, cùng với việc lưu giữ và phát huy giá trị di sản, Bảo tàng Hà Nội đã, đang trở thành điểm đến của các sự kiện văn hóa nghệ thuật góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Hà Nội trong thời kỳ mới. Đáng chú ý, Bảo tàng Hà Nội sẽ là nơi gặp gỡ giữa di sản, nghệ thuật, sáng tạo và cộng đồng, đưa những giá trị văn hóa của Thủ đô đến gần hơn với công chúng qua các hoạt động thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026 vào tháng 9 này.
  • Khi những giai điệu truyền thống hoà quyện cùng tinh hoa jazz thế giới
    Chiều 6/9, tại Nhà Bát giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” với sự tham gia của NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club đã đem đến cho công chúng một cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa những giai điệu quen thuộc của Việt Nam hoà quyện với tinh hoa jazz thế giới. Từ “Hà Nội - Niềm tin và hy vọng”, “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” đến “Hà Nội 12 mùa hoa”, hình ảnh Thủ đô được tiếp nối bằng ngôn ngữ âm nhạc giàu sức sáng tạo.
  • “Âm nhạc cộng đồng” góp thêm sắc màu truyền thống cho đời sống văn hóa Hà Nội
    Tối 6/9, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ (Hà Nội) chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội thực hiện đã đưa khán giả đi qua nhiều miền ký ức và sắc màu văn hóa bằng ngôn ngữ chung của âm nhạc. Từ những giai điệu mang âm hưởng Tây Bắc đến các ca khúc viết về Tổ quốc, về Thủ đô ngàn năm văn hiến đến khát vọng của thế hệ trẻ, đêm diễn mang đến một dòng chảy âm nhạc kết nối quá khứ với hiện tại, truyền thống với hơi thở đương đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội: Khi văn hóa trở thành nguồn lực kiến tạo tương lai
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Kế hoạch số 100-KH/TU ngày 28/8/2026 về chỉ đạo triển khai “Ngày Văn hóa Việt Nam” trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Không chỉ là một hoạt động văn hóa thường niên, Kế hoạch đặt “Ngày Văn hóa Việt Nam” trong một tầm nhìn rộng hơn: trở thành điểm hội tụ để tôn vinh, lan tỏa các giá trị văn hóa, khơi dậy sức sáng tạo và từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của Thủ đô.
  • Hà Nội lấy ý kiến người dân về điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng
    Hà Nội chuẩn bị lấy ý kiến người dân, chuyên gia và các cơ quan liên quan về điều chỉnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng, đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
  • Nhà thơ Cao Ngọc Thắng: Cần mẫn cày ải trên cánh đồng chữ…
    Tôi biết Cao Ngọc Thắng khá sớm, quãng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. Lần đầu tôi gặp ông tại 58 Quán Sứ, Hà Nội, trụ sở của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Khi ấy, ông mới vào cuộc đời làm báo, còn tôi cũng vậy. Cao Ngọc Thắng nguyên là giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đóng chân ở Xuân Hòa (Vĩnh Phú cũ), còn tôi thì nguyên là kỹ sư canh nông ở mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Vì những duyên do khác nhau, cả hai đều bỏ nghề chuyên môn, chọn Thủ đô để theo nghề báo chuyên nghiệp.
  • “Những lớp phù sa” kể chuyện văn hóa Bắc Bộ trên sân khấu đương đại
    Từ hình tượng một giọt nước bắt đầu hành trình theo dòng sông Hồng, “Những lớp phù sa” mở ra câu chuyện về đất, người và những lớp ký ức văn hóa Bắc Bộ. Kết hợp múa dân gian đương đại với âm nhạc truyền thống, nghệ thuật thị giác và công nghệ đa phương tiện, chương trình hướng tới một cách kể mới về những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
  • "Lễ hội Văn hóa Thế giới tại Hà Nội lần thứ hai" 2026: Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai
    Lễ hội mang chủ đề "Hội tụ di sản – Kiến tạo tương lai", dự kiến chính thức diễn ra từ ngày 01/10 đến ngày 04/10/2026 tại không gian Hoàng thành Thăng Long. Sự kiện quy tụ nhiều hoạt động phong phú như Lễ hội âm nhạc “Hòa nhạc năm châu”, Làng Văn hóa Thế giới, Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”, Lễ hội “Ẩm thực năm châu”, chương trình chiếu phim, cùng khu vực trải nghiệm sáng tạo từ di sản với Festival Games Quốc tế...
  • [Podcast] Tản văn: Quán cóc
    Gọi là “quán trà/ quán cóc” theo thói quen chứ thực ra hầu hết là các hàng trà chén ngồi ghé đầu hè, đầu ngách, nép bên cột điện, gốc cây..., chứ chẳng có lều có quán gì! Không nhẽ gọi là “quán trà - không quán”!
  • Trao giải cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”
    Vào 19h30, ngày 4/9 tại Thái Học, Văn Miếu – Quốc Tử Giám sẽ diễn ra Đêm Chung kết và Lễ trao giải Cuộc thi “Thiết kế trang phục từ cảm hứng Văn Miếu – Quốc Tử Giám: Khoa phục Việt Nam”.
  • Chương trình nghệ thuật “Giai điệu Tổ quốc” lan tỏa tình yêu quê hương, đất nước
    Tối 31/8, tại xã Bát Tràng, Nhà hát Cải lương Hà Nội tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt với chủ đề "Giai điệu Tổ Quốc", chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026).
  • Cận cảnh lăng mộ vị vua thứ 6 triều Nguyễn trị vì 130 ngày
    Trị vì được 130 ngày thì mất, vị vua thứ 6 triều Nguyễn có lăng mộ nằm giữa rừng thông khá khiêm tốn nhưng vẫn đảm bảo tính uy nghiêm về khu lăng mộ của một bậc hoàng đế.
  • Tọa đàm phân loại rác tại nguồn: Phụ nữ Phú Lương biến rác thải thành tài nguyên
    Nhằm đưa việc phân loại rác tại nguồn trở thành một thói quen thường xuyên trong từng gia đình, mới đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) đã phối hợp cùng Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị tổ chức thành công chương trình Tọa đàm với chủ đề "Vai trò của phụ nữ trong bảo vệ môi trường - phân loại rác tại nguồn". Sự kiện không chỉ thu hút đông đảo cán bộ, hội viên tham gia mà còn mang đến những nội dung vô cùng thiết thực, gần gũi, gắn kết trực tiếp với đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân.
Thơ về chiến tranh cách mạng 1946 - 1954 từ hướng nhìn Thủ đô Hà Nội
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO