Văn hóa – Di sản

Phù Thúc Hoành – tình người, tình thơ đằm thắm

Phạm Văn Hưng 14/11/2023 15:20

Phù Thúc Hoành sinh khoảng đầu thế kỷ XV và lớn lên tại làng Phù Xá, huyện Kim Hoa, xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội). Từ thời Lê, vùng này đã nổi tiếng là đất học, đất khoa bảng, vùng văn hiến nổi danh với nhiều người thông minh xuất chúng.

Từ trước đến nay, khi nhắc đến các bậc danh sĩ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật chúng ta thường nghĩ ngay đến những gương mặt nổi bật “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”, văn chương cái thế lừng lẫy một thời, những bậc đại khoa danh lưu thiên cổ mà dễ quên mất rằng để làm nên “thương hiệu” sĩ phu Bắc Hà, kẻ sĩ Thăng Long còn có sự đóng góp của nhiều người, nhiều nhân vật mà họ chỉ xuất hiện lướt qua những trang quốc sử như một sự tình cờ với rất ít những “huy chương”, “bằng cấp” đi kèm. Nếu không có họ, Thăng Long có lẽ sẽ thiếu đi một phần nào đó chất kinh kì của mình. Giáo thụ Quốc Tử Giám Phù Thúc Hoành là một người như vậy.

phu-thuc-hoanh.jpg
Tranh minh họa Phù Thúc Hoành.

Phù Thúc Hoành sinh khoảng đầu thế kỷ XV và lớn lên tại làng Phù Xá, huyện Kim Hoa, xứ Kinh Bắc (nay thuộc huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội). Từ thời Lê, vùng này đã nổi tiếng là đất học, đất khoa bảng, vùng văn hiến nổi danh với nhiều người thông minh xuất chúng. Gần bên đó là làng Phù Lỗ có con sông Cà Lồ chảy bên cũng nổi tiếng là đất học, đất văn hiến. Trong địa bàn đó, ba dòng họ lớn có truyền thống là họ Ngô, họ Nguyễn và họ Phù thường hay qua lại với nhau. Mối duyên Châu Trần của Phù Thúc Hoành và Ngô Chi Lan khởi lên từ đó. Hai vợ chồng danh sĩ này là một trong những cặp đôi trai tài gái sắc đẹp nhất của Thăng Long ngày đó. Trong các tài liệu, sách vở còn lại đến giờ, thông tin về Ngô Chi Lan đã khó tìm, thông tin về Phù Thúc Hoành lại càng hiếm. Cho đến ngày nay chúng ta chỉ biết Phù Thúc Hoành tên tự là Nhâm Nhân, ông có đức, học giỏi nhưng không đỗ đạt gì, được Lê Thánh Tông cử làm Bác sĩ hay còn gọi là Giáo thụ chuyên giảng Kinh Dịch ở Quốc Tử Giám và sau được vào làm Học sĩ ở Viện Hàn lâm. Thơ của ông chỉ còn lại hai bài tuyệt cú ngũ ngôn được chép trong Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn.

Xã hội Việt Nam trong giai đoạn nửa sau thế kỉ XV dưới triều Lê Thánh Tông đã bắt đầu đi vào quan liêu hóa, trong đó người ra làm quan hầu như đều phải được kiểm chứng qua các kì thi từ đại khoa trở xuống, dù là đường quan hay học quan. Từ đây có thể thấy hai điều: Thứ nhất, ông là người tài cao học rộng, có đức độ; thứ hai, đương thời ông nổi tiếng trong giới sĩ phu tới mức “vua biết mặt” và nhận được sự trọng thị, ủy nhiệm vào cương vị học quan tại trung tâm văn hóa - giáo dục bề thế nhất của cả nước. Hiện tượng này chỉ thấy xảy ra đối với rất ít nhân vật trong lịch sử mà thôi. Đặc biệt hơn nữa, ông và vợ là Ngô Chi Lan, cả hai chưa từng có một học vị gì nhưng đều được tôn phong là Học sĩ: một là Nữ học sĩ giảng dạy cho cung nhân, một là Học sĩ Viện Hàn lâm - đã từng là Giáo thụ dạy Kinh Dịch cho sĩ tử “chất lượng cao” tại Quốc Tử Giám. Thăng Long là đất nghìn năm văn hiến, là chốn kinh kỳ, nơi hội tụ nhân kiệt, thu hút tinh hoa văn hóa, nghệ thuật và tri thức của cả nước. Có được điều đó một phần là nhờ có sự góp sức của những nhà giáo tâm huyết với nghề, với đời như Chu Văn An, Bùi Xương Trạch, Lê Đức Mao, Nguyễn Quý Đức... và trong đó không thể không kể đến hai vợ chồng học sĩ họ Phù.

Trong Truyền kì mạn lục, thông qua truyện Kim Hoa thi thoại (Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa), Nguyễn Dữ có dựng lại cuộc nói chuyện giữa Lã Đường Sái Thuận (người Kinh Bắc) với hai vợ chồng Phù Thúc Hoành. Điều này cho thấy được mối quan hệ mật thiết của vợ chồng Phù Thúc Hoành với các bậc danh sĩ đương thời, và dinh thất của họ, rất có thể, là nơi lui tới thường xuyên của các văn nhân dưới thời Hồng Đức, có thể đó cũng là một hội Tao đàn thu nhỏ trong thời thịnh của văn chương. Câu chuyện mang màu sắc “thi thoại” này thực ra chỉ tập trung vào hai nhân vật: Ngô Chi Lan và Sái Thuận. Ngô Chi Lan thì nói về thơ mình, về những điều mà thời nhân đơm đặt xung quanh mối quan hệ giữa bà và Lê Thánh Tông, Sái Thuận thì hào hứng nhận xét về thơ Ức Trai, Cúc Pha, Chuyết Am... và thơ mình. Riêng Phù Thúc Hoành gần như không xuất hiện. Có lẽ đó là ấn tượng mà Phù Thúc Hoành để lại trong lòng hậu thế, tượng về một vị Giáo thụ trường Giám, vị Học sĩ Viện Hàn lâm, chuyên án giảng Kinh Dịch, quán thông được đại đạo của trời đất, là một danh sĩ nổi tiếng mà điềm đạm, thong dong đến an nhiên, tự tại và cũng khá kiệm lời.

Nhìn vào hành trạng và tiểu sử của Phù Thúc Hoành, hẳn không ít người sẽ tưởng tượng về ông trong vai trò một nhà giáo khá “cổ điển” và một học sĩ có phần kinh viện. Tuy nhiên qua hai bài thơ của ông may mắn còn được lại trong Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn, chúng ta càng hiểu thêm một khía cạnh riêng tư, rất giàu tình cảm và lãng mạn của một danh sĩ đất kinh kì, một nốt nhạc khác lạ giữa thời đại Nho giáo lên ngôi. Sự bâng khuâng của một tâm hồn nhạy cảm được thể hiện khá tinh tế trong bài thơ Dã hành (Đi trong đồng):

Vũ quá vân sơn bích,

Lâm u khê thủy thanh.

Đoạn kiều hành khách thiểu,

Thời hữu dã kê thanh.

(Mưa tạnh mây núi biếc,

Rừng sâu nước suối trong.

Cầu hỏng người qua ít,

Văng vẳng tiếng gà đồng)

và có khi trực tiếp hơn như trong bài Cổ ý (Ý xưa):

Hà diệp lục như cái,

Hà hoa hồng tự nhan.

Tư quân vị đắc kiến,

Trì thượng không bàn hoàn.

(Lá sen như lọng biếc,

Hoa sen như má đào.

Nhớ ai không gặp mặt,

Thơ thẩn hoài bên ao)

Xung quanh hai thi phẩm này đã có khá nhiều đoán định. Có người cho rằng Phù Thúc Hoành viết để tưởng nhớ Lê Thánh Tông vì ông và vợ rất gắn bó với Thuần hoàng đế. Có thuyết cho rằng hai bài thơ dẫn điển Tạ Linh Vận đời Tống và em là Huệ Liên, rồi cho rằng Phù Thúc Hoành đang nhớ người yêu là Nguyễn Hạ Huệ (Ngô Chi Lan). Trên cơ sở văn bản và những gì được ghi lại trong Kim Hoa thi thoại, chúng ta có thể đồng tình với giả thiết thứ hai. Trên thực tế, hai vợ chồng Phù Thúc Hoành cùng làm học sĩ trong kinh, khoảng cách địa lí gần như không có, tuy nhiên, rất có thể việc Ngô Chi Lan được vua vời vào làm nữ học sĩ, chầu hầu ở bên đã tạo ra những trạng thái tâm lí phức tạp của Phù Thúc Hoành. Hai bài thơ, đặc biệt là bài Cổ ý, nếu đoán định một cách chủ quan, rất có thể là sự “hờn mát” bóng gió của Phù Thúc Hoành gửi tới người vợ vốn tất bật với những công việc và sinh hoạt văn học cùng yến tiệc cung đình. Con người Phù Thúc Hoành là thế, nhẹ nhàng, kín đáo nhưng không kém phần lãng mạn, có thể sánh cùng với bài thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Trãi:

Loàn đan ướm hỏi khách lầu hồng,

Đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng.

Ngoài ấy dù còn áo lẻ,

Cả lòng mượn đắp lấy hơi cùng.

Cả hai thi phẩm thực sự là những bài “thơ tình” đặc sắc, hiếm hoi trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam.

Phù Thúc Hoành đi qua lịch sử Thăng Long với những bước chân thong dong, tự tại như cái chất vốn có của một kẻ sĩ không đỗ đạt, không cao khoa hiển hoạn, không mũ áo cân đai nhưng thực sự là một danh sĩ Bắc Hà. Ở con người ông có chất triết lí của một người chuyên tâm với Kinh Dịch, có sự mô phạm, nghiêm cẩn của một bậc danh sư, có chất hàn lâm của một học sĩ và thấm đẫm phong thái tài hoa, lãng mạn của một nghệ sĩ. Ông vô duyên với khoa cử như phần nhiều kẻ sĩ theo đuổi đường cử nghiệp, không có nhiều thứ nhưng cũng có rất nhiều điều mà khoa cử, công danh không thể đổi lại được. Còn về nội tướng của ông, chắc ông cũng thấy chẳng có gì phải làm to chuyện bởi, nói theo cách nói bây giờ, ông đã có khả năng đề kháng đủ mạnh khi sống trong cảnh “nổi tiếng cùng người nổi tiếng”./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số”
    Qua ứng dụng công nghệ số, triển lãm “Cửu Đỉnh triều Nguyễn: Di sản tư liệu qua hình ảnh và tài liệu lưu trữ – Hướng tiếp cận giáo dục di sản bằng trải nghiệm số” đã mang đến cho công chúng một cách tiếp cận di sản trực quan, sinh động và gần gũi hơn.
  • Hà Nội đón Bằng công nhận Bảo vật quốc gia chuông chùa An Xá
    Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự), còn gọi là chùa An Xá, là di tích lịch sử – văn hóa tiêu biểu của vùng đất Bồ Đề. Trong hệ thống di vật của chùa, chuông chùa An Xá là hiện vật nổi bật, được đúc vào tháng 11 năm 1690 dưới thời Lê Trung hưng bằng phương pháp thủ công truyền thống, mang tính độc bản.
  • Lễ hội Bình Đà 2026: Trang nghiêm nghi lễ Quốc Tổ, lan tỏa hào khí cội nguồn dân tộc
    Sáng 22/4 (tức ngày mùng 6 tháng 3 năm Bính Ngọ), tại Đền Nội, Bình Đà, xã Bình Minh, thành phố Hà Nội, Lễ rước, tế và dâng hương Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đã được tổ chức trang nghiêm trong khuôn khổ Lễ hội Bình Đà 2026, thu hút đông đảo nhân dân địa phương, du khách thập phương cùng cộng đồng người Việt hướng về cội nguồn.
  • Bình Đà rộn ràng mùa hội Quốc Tổ
    Những ngày tháng Tư, khi tiết trời Hà Nội bước vào thời khắc đẹp nhất của mùa xuân muộn, vùng đất Bình Đà lại rộn ràng cờ hội, đón người dân và du khách thập phương về dự Lễ hội Bình Đà 2026. Diễn ra từ ngày 19 đến 22/4 tại xã Bình Minh, đây là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của Thủ đô, gắn với tín ngưỡng thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân - vị thủy tổ trong huyền sử dân tộc Việt Nam.
  • Hai Bàn thờ Phật bằng đá ở xã Dương Hòa được công nhận Bảo vật Quốc gia
    Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Bảo vật Quốc gia đối với Bàn thờ Phật bằng đá tại chùa Hương Trai và chùa Đại Bi diễn ra tại sân Ải Cả, xã Dương Hòa (Hà Nội) vào ngày 17/4/2026. Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà đã tới dự.
  • Văn hóa dân gian cần được xem như một nguồn lực phát triển đất nước
    Từ thực tế di sản văn hóa truyền thống của dân tộc, GS.TS Lê Hồng Lý – Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho rằng, chúng ta cần xem xét văn hóa dân gian như một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc, đúng với định hướng phát triển văn hóa Việt Nam mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Dấu son trang sử hào hùng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
    Trong hai năm 1970 – 1971, những thắng lợi của chiến tranh cách mạng ba nước Đông Dương gồm Việt Nam – Lào – Campuchia đã tạo thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc, cứu nước của Nhân dân ta đi đến ngày toàn thắng: miền Nam được giải phóng, non sông nối liền một dải.
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • TP Huế: Phát triển kinh tế đêm gắn với văn hóa, nghệ thuật và ẩm thực cung đình
    TP Huế định hướng phát triển kinh tế đêm gắn với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực, hàng lưu niệm, chú trọng phát huy giá trị ẩm thực cung đình, văn hóa áo dài và các sản phẩm đặc trưng.
  • Ninh Bình khai mạc mùa du lịch biển năm 2026
    Vừa qua, tại Khu du lịch biển Thịnh Long, xã Hải Thịnh, tỉnh Ninh Bình tổ chức chương trình khai mạc mùa du lịch biển năm 2026, với chủ đề “Ninh Bình-Từ non thiêng đến biển rộng”.
Đừng bỏ lỡ
  • Đưa tri thức, công nghệ và văn hóa thành “hạt nhân” bứt phá của Thủ đô Hà Nội
    Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính bước ngoặt về triết lý phát triển Thủ đô Hà Nội trong thế kỷ XXI. Đứng trước thời điểm của lịch sử và thách thức thời đại, Nghị quyết số 02 đã đặt ra một chiến lược bước ngoặt thiết lập một mô hình tăng trưởng hoàn toàn mới.
  • Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ 2 với chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage flow”
    Chủ tịch UBND Thành phố Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Kế hoạch số 173/KH-UBND ngày 28/4/2026 về tổ chức “Festival Thăng Long - Hà Nội lần thứ II, năm 2026”. Festival nhằm bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội và văn hóa Việt Nam, đồng thời góp phần thực hiện các Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô.
  • Triển lãm “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi”: Bồi đắp, lan tỏa Hà Nội - Thành phố Sáng tạo
    Chiều 29/4, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội phối hợp với Câu lạc bộ Họa sĩ màu nước Hà Nội (HWA), Ban vận động mỹ thuật và ngoại giao văn hóa tổ chức triển lãm mỹ thuật “Giai điệu Thống nhất” và “Việt Nam quê hương tôi” tại tầng 1 - tòa nhà 47 Hàng Dầu ( Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội).
  • Trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”
    Chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) và 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2026), Trung tâm Văn hóa và Thư viện Hà Nội giới thiệu không gian trưng bày sách, báo với chủ đề: “Việt Nam – Vang mãi những chiến công”.
  • Lên chuyến tàu đoàn viên mừng 51 năm ngày thống nhất đất nước
    Khác với những chuyến tàu thông thường, xuất phát từ ga Hà Nội, chuyến tàu đoàn viên diễn ra từ 27/4 tới hết 3/5, đưa người dân và du khách trở về với những dấu mốc thiêng liêng của toàn thể dân tộc giữa lòng Thủ đô.
  • Lan tỏa niềm tự hào, kết nối giá trị văn hóa và khát vọng Việt Nam
    Tối 28/4, tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, chương trình nghệ thuật đặc biệt “Âm vang Tổ quốc” đã diễn ra quy mô lớn, thu hút khoảng 40.000 khán giả trực tiếp cùng hàng triệu người theo dõi qua truyền hình và các nền tảng số.
  • Hà Nội tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến
    Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 24/4/2026 về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026). Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu tuyên truyền sâu rộng ý nghĩa lịch sử trọng đại của sự kiện, giáo dục truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực xây dựng và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
  • Hà Nội rực rỡ cờ hoa vào những ngày tháng Tư lịch sử
    Những ngày cuối tháng 4, Hà Nội khoác lên mình diện mạo mới với cờ hoa, pano, áp phích khổ lớn, chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026). Các tuyến phố trung tâm như Tràng Tiền, Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, đặc biệt khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm, đã được trang trí nổi bật với các biểu tượng lịch sử, khẩu hiệu lớn, mang thông điệp về một mốc son quan trọng trong lịch sử dân tộc.
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Phù Thúc Hoành – tình người, tình thơ đằm thắm
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO