Nhớ sao thời đi học trường làng

Nguyễn Thanh Vũ| 31/08/2017 09:53

Đối với học sinh bây giờ, chuyện khai giảng năm học mới là điều hết sức bình thường, tâm trạng không có gì phải nôn nao, lo lắng. Nhưng đối với thời của chúng tôi, chuyện tựu trường là cả một vấn đề to lớn. Hẳn ai từng đọc truyện ngắn “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh cũng hiểu được nỗi niềm của học sinh thời trước. Cảm giác háo hức, nôn nao trông cho tới ngày vào lớp đến lạ kỳ!

Nhớ sao thời  đi học trường làng
Ảnh minh họa
Trước ngày nhập học một tháng, bọn trẻ con xóm tôi đã chuẩn bị dụng cụ học tập và một số đồ dùng liên quan. Ba mẹ chỉ mua cho vở đen (hồi đó vở trắng rất đắt tiền), bút mực, ngoài ra, những thứ còn lại chúng tôi phải tự làm lấy. Để bọc vở sách cho gọn gàng, chúng tôi đi xin các tờ báo cũ của người lớn và bọc lại. Nhãn được kẻ bút mực những hình ô-van nhỏ trên một tờ giấy trắng hiếm hoi, sau đó thì cắt ra và dán vào sách vở. Nguyên liệu để dán giấy không phải là những hộp keo nước, hồ khô… như bây giờ mà chính là bột mì tinh (bột năng) khuấy đều trên bếp, hoặc là cơm nóng. Những trang giấy đen còn dư lại của năm học trước, chúng tôi cắt ra và đóng thành một quyển tập mới dùng làm vở nháp.

Thời đó, chỉ có những gia đình khá giả mới mua tập trắng và sách giáo khoa mới cho con cái dùng. Còn nghèo như nhà tôi thì chỉ dùng sách cũ từ những anh chị lớp trước để lại hoặc đi xin của những nhà giàu trong xóm bỏ đi. Đó cũng là lý do vì sao tôi luôn sử dụng sách giáo khoa một cách kỹ càng, không bôi bẩn hay viết linh tinh vào đó để cho các bạn năm sau dùng tiếp.

Ngoài ra, màu dùng để học thủ công được trẻ con chúng tôi sáng kiến từ nhân của quả trâm bầu làm màu vàng, từ màu xanh lá dứa giã nhuyễn lấy nước, màu đỏ từ hoa mười giờ, màu xanh dương từ cây cỏ mực… Nếu muốn có một màu mới đẹp hơn, bắt mắt hơn thì chỉ việc trộn hai màu, hoặc ba màu lại với nhau. Tất cả được bơm vào các cây bút lông cũ, và đương nhiên là xin từ anh chị năm trước. Khi hết mực viết bài, chúng tôi thường hái các quả mồng tơi chín mọng cho vào mảnh vải mùng để vắt lấy nước làm mực tím…

Quần áo đi học của tôi ít được ba mẹ sắm sửa, chỉ trừ vào dịp tết. Thường những chiếc áo trắng tôi mặc phải rách nhiều chỗ thì mẹ mới may đồ mới, chứ nó ngả màu cháo lòng… đậm đặc vẫn phải mặc đến trường. Quần tây có tuổi thọ cao hơn áo, nên có khi ba năm, đũng quần mòn bóng loáng nhưng tôi vẫn còn mặc. Nhớ những lúc mưa bão tầm tã, hai chiếc quần tây sử dụng cho việc đi học, đi đám tiệc, đi chơi tết bị ướt nhẹp, buộc mẹ phải lấy bàn ủi than ủi gấp cho tôi kịp giờ đến lớp. Mãi cho tới khi tôi nhổ giò, mẹ mới sắm cho những chiếc quần khác. Thỉnh thoảng có những người quen làm trên Sài Gòn về, họ mang những bao đồ to tướng cho gia đình tôi. Lựa ra những chiếc áo, chiếc quần vừa với thân hình mình, tôi ướm thử rồi cười ngất ngư vì thích thú. Những bộ đồ cũ của người Sài thành còn mới hơn cả những bộ “đồ mới” của tôi đang mặc.

Trước khi khai giảng một ngày, ba dẫn tôi đi hớt tóc. Hồi đó cả xóm chỉ có được một hoặc hai ông thợ cạo (cách gọi người hớt tóc thời trước) nên lúc nào tiệm hớt tóc cũng đông khách, nhất là vào mùa tựu trường, ai cũng dẫn con em đến để “úp miểng vùa”. Tôi gọi như thế vì những đứa trẻ thời đó không có nhiểu kiểu tóc để lựa chọn, chỉ hớt ba vá miểng vùa, cạo trụi hoặc để xùm xụp (nghĩa là chưa hớt). Tất nhiên kiểu ba vá miểng vùa hợp thời trang với trẻ con lúc trước nên hay được ba mẹ chọn lựa.

Học trò chúng tôi đến trường trên con đường làng rợp bóng tre già và những cây bàng trải lá dài chằng chịt ngút mắt. Chúng tôi, đa phần đều đi chân trần chứ không mang dép hoặc nếu mang dép thì cũng được xâu kẽm hoặc vá chỉ vì nó quá cũ và rách nhiều nơi. Những chiếc cặp của chúng tôi là các bọc ni-lon, túi giấy cũ của ba mẹ đựng đồ thường ngày. Dù chật vật, thiếu thốn nhiều thứ nhưng chúng tôi vẫn hồn nhiên, vẫn say mê học tập mà không đòi hỏi bất cứ thứ gì từ ba mẹ. Nếu sáng hôm đó mẹ có tiền, tôi được một gói xôi, ổ bánh mì, tô cháo lòng… hay đơn giản chỉ là củ khoai của bà bán gánh ngay đầu chợ xã. Còn nếu ba mẹ rỗng túi, tôi phải lục cơm nguội ăn với nước tương rồi nhanh chân chạy theo lũ bạn cho kịp giờ vào lớp.

Chúng tôi không đi đánh lẻ mà tụ nhóm độ mười đứa, vừa đi vừa trò chuyện, hát hò suốt hai cây số dài. Cũng vì nghêu ngao ca hát mà suốt một quãng đường dài, chúng tôi không cảm thấy mệt, cũng chẳng chùn chân. Nhiều đứa còn tranh thủ thời gian này để ôn lại bại thuộc lòng đã học tối qua, hoặc trao đổi với bạn bè một bài tập toán nào đó mà mình không hiểu…

Việc học ngày xưa khó khăn là thế! Còn trẻ con bây giờ thật sung sướng. Chuyện học tập của chúng quá tiện nghi, tất cả đều được ba mẹ lo chu toàn từ A đến Z. Ấy thế mà một số đứa trẻ lại biếng học, làm nũng, chẳng chịu đi học để vòi vĩnh thêm tiền quà từ ba mẹ. Có lẽ những đứa trẻ thời nay do được ăn sung mặc sướng, cung phụng vật chất quá nhiều nên chẳng biết quý trọng chuyện học hành như xưa, mà chỉ học cho có học! Bỗng dưng nghĩ đến mà thương những học trò thuở đó làm sao!  nĐối với học sinh bây giờ, chuyện khai giảng năm học mới là điều hết sức bình thường, tâm trạng không có gì phải nôn nao, lo lắng. Nhưng đối với thời của chúng tôi, chuyện tựu trường là cả một vấn đề to lớn. Hẳn ai từng đọc truyện ngắn “Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh cũng hiểu được nỗi niềm của học sinh thời trước. Cảm giác háo hức, nôn nao trông cho tới ngày vào lớp đến lạ kỳ! 

Trước ngày nhập học một tháng, bọn trẻ con xóm tôi đã chuẩn bị dụng cụ học tập và một số đồ dùng liên quan. Ba mẹ chỉ mua cho vở đen (hồi đó vở trắng rất đắt tiền), bút mực, ngoài ra, những thứ còn lại chúng tôi phải tự làm lấy. Để bọc vở sách cho gọn gàng, chúng tôi đi xin các tờ báo cũ của người lớn và bọc lại. Nhãn được kẻ bút mực những hình ô-van nhỏ trên một tờ giấy trắng hiếm hoi, sau đó thì cắt ra và dán vào sách vở. Nguyên liệu để dán giấy không phải là những hộp keo nước, hồ khô… như bây giờ mà chính là bột mì tinh (bột năng) khuấy đều trên bếp, hoặc là cơm nóng. Những trang giấy đen còn dư lại của năm học trước, chúng tôi cắt ra và đóng thành một quyển tập mới dùng làm vở nháp.

Thời đó, chỉ có những gia đình khá giả mới mua tập trắng và sách giáo khoa mới cho con cái dùng. Còn nghèo như nhà tôi thì chỉ dùng sách cũ từ những anh chị lớp trước để lại hoặc đi xin của những nhà giàu trong xóm bỏ đi. Đó cũng là lý do vì sao tôi luôn sử dụng sách giáo khoa một cách kỹ càng, không bôi bẩn hay viết linh tinh vào đó để cho các bạn năm sau dùng tiếp. Ngoài ra, màu dùng để học thủ công được trẻ con chúng tôi sáng kiến từ nhân của quả trâm bầu làm màu vàng, từ màu xanh lá dứa giã nhuyễn lấy nước, màu đỏ từ hoa mười giờ, màu xanh dương từ cây cỏ mực…

Nếu muốn có một màu mới đẹp hơn, bắt mắt hơn thì chỉ việc trộn hai màu, hoặc ba màu lại với nhau. Tất cả được bơm vào các cây bút lông cũ, và đương nhiên là xin từ anh chị năm trước. Khi hết mực viết bài, chúng tôi thường hái các quả mồng tơi chín mọng cho vào mảnh vải mùng để vắt lấy nước làm mực tím…

Quần áo đi học của tôi ít được ba mẹ sắm sửa, chỉ trừ vào dịp tết. Thường những chiếc áo trắng tôi mặc phải rách nhiều chỗ thì mẹ mới may đồ mới, chứ nó ngả màu cháo lòng… đậm đặc vẫn phải mặc đến trường. Quần tây có tuổi thọ cao hơn áo, nên có khi ba năm, đũng quần mòn bóng loáng nhưng tôi vẫn còn mặc. Nhớ những lúc mưa bão tầm tã, hai chiếc quần tây sử dụng cho việc đi học, đi đám tiệc, đi chơi tết bị ướt nhẹp, buộc mẹ phải lấy bàn ủi than ủi gấp cho tôi kịp giờ đến lớp. Mãi cho tới khi tôi nhổ giò, mẹ mới sắm cho những chiếc quần khác. Thỉnh thoảng có những người quen làm trên Sài Gòn về, họ mang những bao đồ to tướng cho gia đình tôi. Lựa ra những chiếc áo, chiếc quần vừa với thân hình mình, tôi ướm thử rồi cười ngất ngư vì thích thú. Những bộ đồ cũ của người Sài thành còn mới hơn cả những bộ “đồ mới” của tôi đang mặc.

Trước khi khai giảng một ngày, ba dẫn tôi đi hớt tóc. Hồi đó cả xóm chỉ có được một hoặc hai ông thợ cạo (cách gọi người hớt tóc thời trước) nên lúc nào tiệm hớt tóc cũng đông khách, nhất là vào mùa tựu trường, ai cũng dẫn con em đến để “úp miểng vùa”. Tôi gọi như thế vì những đứa trẻ thời đó không có nhiểu kiểu tóc để lựa chọn, chỉ hớt ba vá miểng vùa, cạo trụi hoặc để xùm xụp (nghĩa là chưa hớt). Tất nhiên kiểu ba vá miểng vùa hợp thời trang với trẻ con lúc trước nên hay được ba mẹ chọn lựa.

Học trò chúng tôi đến trường trên con đường làng rợp bóng tre già và những cây bàng trải lá dài chằng chịt ngút mắt. Chúng tôi, đa phần đều đi chân trần chứ không mang dép hoặc nếu mang dép thì cũng được xâu kẽm hoặc vá chỉ vì nó quá cũ và rách nhiều nơi. Những chiếc cặp của chúng tôi là các bọc ni-lon, túi giấy cũ của ba mẹ đựng đồ thường ngày. Dù chật vật, thiếu thốn nhiều thứ nhưng chúng tôi vẫn hồn nhiên, vẫn say mê học tập mà không đòi hỏi bất cứ thứ gì từ ba mẹ. Nếu sáng hôm đó mẹ có tiền, tôi được một gói xôi, ổ bánh mì, tô cháo lòng… hay đơn giản chỉ là củ khoai của bà bán gánh ngay đầu chợ xã. Còn nếu ba mẹ rỗng túi, tôi phải lục cơm nguội ăn với nước tương rồi nhanh chân chạy theo lũ bạn cho kịp giờ vào lớp. Chúng tôi không đi đánh lẻ mà tụ nhóm độ mười đứa, vừa đi vừa trò chuyện, hát hò suốt hai cây số dài. Cũng vì nghêu ngao ca hát mà suốt một quãng đường dài, chúng tôi không cảm thấy mệt, cũng chẳng chùn chân. Nhiều đứa còn tranh thủ thời gian này để ôn lại bại thuộc lòng đã học tối qua, hoặc trao đổi với bạn bè một bài tập toán nào đó mà mình không hiểu…

Việc học ngày xưa khó khăn là thế! Còn trẻ con bây giờ thật sung sướng. Chuyện học tập của chúng quá tiện nghi, tất cả đều được ba mẹ lo chu toàn từ A đến Z. Ấy thế mà một số đứa trẻ lại biếng học, làm nũng, chẳng chịu đi học để vòi vĩnh thêm tiền quà từ ba mẹ. Có lẽ những đứa trẻ thời nay do được ăn sung mặc sướng, cung phụng vật chất quá nhiều nên chẳng biết quý trọng chuyện học hành như xưa, mà chỉ học cho có học! Bỗng dưng nghĩ đến mà thương những học trò thuở đó làm sao!  
(0) Bình luận
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Hà Nội đẹp dịu dàng mùa hoa giáng hương
    Khi những chùm hoa bằng lăng tím bắt đầu nhuộm sắc phố phường, khi nắng đầu hạ trở nên vàng hơn và ve khe khẽ gọi mùa, Hà Nội lại bước vào thời khắc chuyển mình quen thuộc. Giữa bản giao hưởng của muôn loài hoa báo hiệu mùa hè tới, giáng hương nở rộ mang theo hương thơm dịu dàng, khiến người đi đường không khỏi vấn vương.
  • Nghề nặn tò he làng Xuân La qua trang viết của nhà giáo Cao Xuân Quế
    Sau nhiều năm ấp ủ, nghiên cứu và tìm tòi, nhà giáo Cao Xuân Quế (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội) đã cho ra mắt cuốn sách “Độc đáo nghề nặn tò he làng Xuân La” (NXB Lao động, 2026). Với dung lượng 152 trang, cuốn sách phác họa tương đối đầy đủ diện mạo nghề nặn tò he của làng Xuân La, từ nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, qua đó góp phần lưu giữ những giá trị đặc sắc của một nghề truyền thống trên mảnh đất Kinh kỳ.
  • Giáo sư Hà Minh Đức “kể chuyện ngày xưa” ở tuổi 92
    Sáng mùng 4 Tết Bính Ngọ (2026), tôi đến thăm Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Minh Đức. Thầy tặng tôi một số cuốn sách do chính mình biên soạn, trong đó có tác phẩm “Kể chuyện ngày xưa”. Cuốn sách vừa xuất bản, dày chưa đến trăm trang, nội dung phong phú, hấp dẫn. Đây cũng là cuốn sách thứ 109 của Giáo sư Hà Minh Đức khi ông bước sang tuổi 92. Món quà đầu năm từ người thầy đáng kính khiến tôi xúc động, bởi đó là kết tinh của một đời lao động bền bỉ, say mê với văn chương và học thuật.
  • Phường Phú Lương trao Huy hiệu Đảng cho 24 đảng viên đợt 19/ 5
    Nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), ngày 28/4, Đảng ủy phường Phú Lương (Hà Nội) đã tổ chức trọng thể Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 19/5/2026 cho 24 đảng viên thuộc Đảng bộ phường.
  • Hội nghị tổng kết xây dựng đời sống văn hóa cơ sở năm 2026: Nâng cao hiệu quả dân chủ trực tiếp tại Thủ đô
    Sáng 28/4, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội phối hợp với UBND Thành phố tổ chức Hội nghị tổng kết triển khai Hội nghị đại biểu Nhân dân bàn việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở năm 2026. Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết nối trực tuyến với điểm cầu 126 xã, phường, với gần 10.000 đại biểu tham dự.
Đừng bỏ lỡ
  • Hà Nội phê duyệt Phương án Tái cấu trúc thủ tục hành chính lĩnh vực Văn hóa và Nghệ thuật
    UBND Thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định 530/QĐ-TTPVHCC phê duyệt phương án tái cấu trúc thủ tục hành chính trong lĩnh vực Mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm và Nghệ thuật biểu diễn thuộc phạm vi quản lý của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hà Nội. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc số hóa và cải thiện hiệu quả hoạt động của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật tại Hà Nội.
  • Chương trình nghệ thuật “Âm vang Tổ quốc” thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa
    Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), Thành phố Hà Nội trở thành điểm hẹn của những chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đầu tư công phu, bài bản và sáng tạo bám sát tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
  • Những bài thơ bất yên
    Đi qua ba tập thơ trong thời gian ngắn, nhà thơ Đinh Minh Thiện như không bằng lòng với những gì đã có, để phải cất lên một tập thơ mới. Ở đó, tác giả gửi gắm nhiều suy niệm về cuộc sống, mơ vọng về nơi an trú, ngẫm ngợi những tỉnh thức, hoài niệm với quê nhà, với mẹ và những niềm thân thiết thôn dã, mùa màng…
  • Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa từ không gian cộng đồng
    Chiều 26/4, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục diễn ra, thu hút đông đảo người dân và du khách dừng chân thưởng thức trong suốt hơn một giờ đồng hồ với chất lượng nghệ thuật cao mà vẫn gần gũi.
  • Việt Nam - Hàn Quốc hợp tác làm phim lịch sử về Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn
    Bộ phim tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, vị danh tướng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, người đã ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên Mông.
  • Phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong thời đại kỹ thuật số
    Theo GS.TS. Nguyễn Chí Bền - nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong bối cảnh của thời đại kỹ thuật số thông minh, cần sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý. Việt Nam đang đứng trước thời cơ và thách thức, song có thể tạo ra sức mạnh mềm có ảnh hưởng sâu rộng bằng văn hóa, nếu sử dụng tốt mặt ưu thế các thành tố của thời đại kỹ thuật số thông minh.
  • Nghệ nhân ba miền “Cung tiến Kỳ hoa Dị thảo” vào Hoàng cung Huế
    Các câu lạc bộ, hội nhóm và nghệ nhân tự nguyện dâng tiến nhiều tác phẩm phong lan, cây kiểng tiêu biểu vào Hoàng cung Huế.
  • Phường Ba Đình số hóa di sản ẩm thực, lan tỏa giá trị văn hóa Thủ đô
    Tại hội nghị sơ kết công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm diễn ra ngày 24/4, phường Ba Đình triển khai dự án số hóa ẩm thực với nhiều nội dung, xây dựng dữ liệu số về các món ăn đặc trực; gắn mã QR giới thiệu thông tin, nguồn gốc món ăn; quảng bá ẩm thực gắn với du lịch và văn hóa; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và phát duy giá trị truyền thống.
  • Đảm bảo tính truyền thống và văn minh trong Lễ hội Thăng Long Tứ trấn - đền Kim Liên
    Thông tin từ UBND phường Văn Miếu – Quốc Tử Giám cho biết, Lễ hội truyền thống di tích Thăng Long tứ trấn đền Kim Liên năm 2026 sẽ được tổ chức trong 3 ngày, từ 30/4 đến 2/5/2026 (tức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 năm Bính Ngọ) tại di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đặc biệt đền Kim Liên (phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám).
  • Liên hoan Yosakoi Việt Nam 2026: Kết nối văn hóa, lan tỏa năng lượng tích cực
    Tiếp nối thành công của Liên hoan Yosakoi những năm trước, Liên hoan Yosakoi Việt Nam lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Giao lưu văn hóa - Khơi nguồn năng lượng - Hướng đến tương lai” chính thức diễn ra trong hai ngày 25 - 26/4 tại Ninh Bình và Hà Nội, quy tụ đông đảo nghệ sĩ, vũ công và công chúng yêu nghệ thuật.
Nhớ sao thời đi học trường làng
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO