Văn hóa – Di sản

Nguyễn Trọng Hợp – nhà thơ đi sứ tây

Tạ Ngọc Liễn 20/11/2023 16:06

Thơ của các sứ thần nước ta sáng tác khi đi sứ phương Bắc từ thời Lê tới thời Nguyễn để lại rất nhiều, nhưng thơ đi sứ Tây dường như khá hiếm. Tập Tây phù thi thảo của Phạm Phú Thứ (1820 - 1880) viết thời gian ông làm Phó sứ trong phái bộ Phan Thanh Giản sang Pháp năm 1863 và tập Tây tra thi thảo của Nguyễn Trọng Hợp là hai tập còn lại trong số ít ỏi ấy.

nguyen-trong-hop.jpg
Danh nhân Nguyên Trọng Hợp.

Cả hai tập thơ này đều có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử tiếp xúc, giao lưu giữa người Việt Nam và Pháp, nói rộng hơn là giữa hai nền văn minh Á - Âu hồi cuối thế kỷ XIX.

Nguyễn Trọng Hợp hiệu là Kim Giang, người làng Kim Lũ, Thanh Trì, Hà Nội, sinh năm 1834, đỗ Tiến sĩ năm 1865, làm quan dưới các triều Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái, tới chức Văn minh điện đại học sĩ, Cơ mật viện đại thần, Kinh lược sứ Bắc Kỳ, Thượng thư Bộ Lại... Ông mất ngày 29 tháng 4 năm 1902, thọ 69 tuổi. Nguyễn Trọng Hợp là người trước thuật nhiều, tác phẩm để lại, về sử có Đại Nam thực lục, Đệ tứ kỷ, Minh Mệnh chính yếu; về văn có Kim Giang văn tập, Kim Giang thi tập, Tây tra thi0 thảo...

Tây tra thi thảo nghĩa là Thơ đi sứ Tây. Năm 1894, Nguyễn Trọng Hợp làm Chánh sứ sang Pháp và Tây tra thi thảo đã được ông sáng tác trong chuyến đi sứ này. Về nước, năm 1895, Nguyễn Trọng Hợp cho in Thơ đi sứ Tây tại kinh đô Huế, do nhà thơ, nhà lý luận văn học tài hoa Tuy Lý vương Miên Trinh (con thứ 11 Minh Mệnh) đề tựa. Đánh giá Tây tra thi thảo, Tuy Lý vương cho rằng ở đây có nhiều vẻ mới lạ, từ lối hành văn đến cách tả việc, tả hình, tả cảnh, núi sông, thành quách... trong thơ Đường, Tống, Nguyên, Minh cũng chưa từng có.

Thơ đi sứ xưa là thơ vịnh cảnh, tả tình. Từ Việt Nam sang Trung Quốc, tất cả các đoàn sứ thần đều đi theo đường Quảng Tây. Họ xuất phát từ kinh đô Thăng Long - Hà Nội qua các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn rồi trấn Nam Quan và tiến vào Trung Quốc. Để tới Yên Kinh (Bắc Kinh) sứ đoàn Việt Nam phải đi qua nhiều nơi như Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, phủ Trường An, Vũ Xương, Hán Khẩu, thành Nam Kinh, phủ Hoài An, phủ Thái Bình... Những địa danh trên cùng những thắng tích như Nhạc Dương lâu, Hoàng Hạc lâu..., không sứ trình thi tập nào không nói tới. Nó đã trở nên khá quen thuộc. Ngược lại, con đường đi sứ sang “Tây dương” hoàn toàn khác lạ. Sứ bộ Nguyễn Trọng Hợp khởi hành từ Cần Hải, một cửa bể Nam Bộ, giong buồm vượt sóng qua Tân Gia Ba, Tích Lan, Ấn Độ Dương, E-ti-ô-pia, Y-ê-men, Hồng Hải, Địa Trung Hải... Một buổi sớm đứng trên lầu thuyền ngắm mặt trời mọc, Nguyễn Trọng Hợp đã làm bài thơ Thuyền lâu thượng quan nhật xuất:

Ngũ dạ thiên kê xướng,

Phù tang đại hải đông.

Sa kinh vân khí lạn,

Hốt dũng thủy tâm hồng.

(Canh năm gà gáy vang,

Phía đông biển lớn Phù Tang.

Mây thoắt tan khí trời tỏa sáng,

Nước bỗng vọt lên giữa một vầng hồng)

Cái cảnh huy hoàng của một buổi sáng trên biển cả như vậy thật không thể tìm thấy trong thơ đi sứ phương Bắc. Nguyễn Trọng Hợp tới Paris vào mùa xuân, khoảng tháng 4 dương lịch, và trong thời gian lưu tại đây, ông sáng tác 36 bài thơ vịnh kinh thành Paris. Vào thập niên cuối thế kỷ XIX, Paris đã là một thủ đô tráng lệ, được Nguyễn Trọng Hợp vẽ lại thành bức tranh toàn cảnh với những nét nổi bật nhất:

Thành khuyết tham sai ý bích tiêu,

Ngân lưu nhất đới thủy thiều thiều.

Kỳ đa du thưởng tăng hào khí,

Dạ dạ đăng quang trấp tứ kiều.

(Kỳ nhị)

(Thành quách chen nhau nhấp nhô cao ngất trời xanh,

Nước sông như dải bạc lấp lánh chảy xa xuôi.

Bao du khách tới đây thăm viếng làm tăng thêm hào khí,

Đêm đêm ánh đèn rực sáng trên hai mươi bốn chiếc cầu)

Ở Paris có bao nhiêu điều hấp dẫn Nguyễn Trọng Hợp, gợi hứng thơ ông, và ngọn bút vịnh cảnh của ông Nghè làng Lũ đã tìm được những thi liệu mới không có trong thơ Đường, thơ Tống. Đó là tháp Ép-phen, đài thiên văn, các viện bảo tàng, các công viên, thảo cầm viên... Những thứ hấp dẫn Nguyễn Trọng Hợp nhất có lẽ vẫn là thành tựu của kỹ thuật điện khí, đặc biệt là ngọn đèn điện. Cái ánh sáng điện kỳ diệu chan hòa đường phố Paris khi đêm xuống từng nhiều lần hòa vào thơ ông. Nhìn trăm ngàn ngọn điện nhấp nháy hai bên lầu gác chạy dọc phố mà Nguyễn Trọng Hợp phải thốt lên:

Hốt nghi tinh đẩu không trung lạc,

Vạn trản đăng quang bất dạ thiên.

(Cứ ngỡ muôn sao từ không trung rơi xuống,

Ánh đèn từ vạn cái chén tỏa ra khiến đêm hóa ngày)

Trong thơ Nguyễn Trọng Hợp, tính chất “kỷ sự” (ghi việc) là đặc điểm nổi bật. Tuy nhiên, đọc Tây tra thi thảo, chúng ta không chỉ thấy một người luôn luôn muốn tìm hiểu, quan sát, ghi chép mà còn gặp một tấm lòng ưu thời mẫn thế, một nỗi niềm không ít trăn trở. Nỗi niềm ấy, tấm lòng ấy được bộc lộ rõ ở bài thơ ông viết sau khi đọc thi tập của Trúc Đường, Giá Viên Phạm Phú Thứ (Độc giá viên thi tập cảm thành).

Thùy tòng đại địa trắc toàn cầu,

Tam thập niên lai lịch bắc ưu.

Quế hải sứ tra chiêm Bắc Đẩu,

Trúc Đường thi thảo ký Tây phù.

Thần nan hàn mặc ưng đồng khái,

Tài bạc nham lang quý viễn du.

Thanh lậu minh đăng tân quán dạ,

Trầm ngâm phủ quyền độc du du.

(Ai đi khắp trái đất để đo cả địa cầu,

Ba mươi năm qua trải bao nỗi lo buồn.

Đi sứ nơi biển nam ngẩng trông sao Bắc Đẩu,

Tập thơ của Trúc Đường ghi việc sang Tây Dương.

Thời gian nan người văn nhân nên cùng thương nhau,

Tài mỏng, bên hang dốc thẹn chuyện mưu tính xa.

Đêm nơi quán khách ngọn đèn tỏ, giọt nước trong thầm rơi,

Trầm ngâm cầm quyển sách một mình lòng vời vợi)

Nguyễn Trọng Hợp là sử gia, một trong những tổng tài của bộ Đại Nam thực lục đồ sộ. Đọc Tây tra thi thảo, chúng ta thấy ở đây có dấu ấn sử bút, thể hiện rõ qua những lời tiểu chú dưới mỗi bài thơ. Chính những tiểu chú này cung cấp cho độc giả ngày nay nhiều thông tin bổ ích về con đường biển từ Việt Nam sang Pháp hồi cuối thế kỷ XIX. Trên hải trình muôn dặm, khi thuyền chở sứ bộ Việt Nam qua nơi nào, ghé đỗ ở đâu, Nguyễn Trọng Hợp đều hỏi han tỉ mỉ vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu, phong tục tập quán những nơi đó rồi ghi lại chính xác. Thí dụ khi đến cảng A-diên thuộc nước cộng hòa Y-ê-men, Nguyễn Trọng Hợp có làm bài thơ vịnh A-diên với lời tiểu chú sau: “Núi A-diên thế cao đột ngột, hiểm dữ, đất đỏ, không có cây cối, là cửa chắn của Hồng Hải. Thuyền bè qua lại Ấn Độ tất phải theo con đường này. Người Anh ở chỗ cao trên núi, xây dựng pháo đài, ngang núi lại khoét đường để đi. Trong đồn binh trấn giữ có hai ngàn tên lính. Khí hậu chỗ này nóng, hai ba năm mới mưa một lần. Người Anh ở các núi đào ao khúc khuỷu, lợi dụng hang làm giếng. Gặp trời mưa, chứa nước trong hang, dùng gầu múc lấy nước ăn uống, tắm giặt, vất vả như vậy…”.

Nguyễn Trọng Hợp sống trong một giai đoạn lịch sử bi tráng, đầy thử thách của dân tộc; ở đó cuộn xoáy lên những cơn lốc tư tưởng ngược chiều nhau chủ chiến và hòa, bảo thủ và canh tân... Tuy không nằm trong dòng canh tân mạnh mẽ của Nguyễn Trượng Tộ, Nguyễn Lộ Trạch..., song Nguyễn Trọng Hợp là nhân vật có khuynh hướng muốn học hỏi kỹ thuật phương Tây, muốn mở rộng tầm mắt ra bên ngoài. Tây tra thi thảo là tập thơ ít nhiều phản ánh được khuynh hướng ấy./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Trần Khánh Dư – danh tướng thủy binh
    Trần Khánh Dư người huyện Chí Linh (Hải Dương), chưa rõ năm sinh, mất năm 1339, dòng dõi tôn thất nên được phong tước Nhân Huệ vương. Khi quân Nguyên mới sang xâm lược nước ta, ông thường nhằm chỗ sơ hở đánh úp, Trần Thánh Tông khen là có chí lược, lập làm thiên tử nghĩa nam (con nuôi vua). Khi đánh dẹp ở miền núi thắng lớn, được phong chức Phiêu kỵ đại tướng quân. Rồi từ tước hầu, do được vua yêu, thăng mãi lên Thượng vị hầu áo tía, giữ chức phán thủ. Sau vì tư thông với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Quốc Tuấn nên bị cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, phải lui về ở Chí Linh làm nghề bán than.
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Triển lãm “Ngàn năm di sản” quy tụ hơn 120 tác phẩm hội họa
    Hướng tới chuỗi sự kiện trọng đại kỷ niệm 950 năm Quốc Tử Giám (1076 – 2026) cùng 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, triển lãm mỹ thuật mang tên “Ngàn năm di sản” sẽ chính thức khai mạc vào ngày 8/8 tại Nhà Thái Học, Di tích Quốc gia đặc biệt Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Sự kiện kéo dài đến ngày 25/9/2026 hứa hẹn trở thành điểm đến văn hóa đầy sức hút, góp phần làm phong phú đời sống nghệ thuật của Thủ đô trong mùa thu này.
  • Di sản làng nghề “kết duyên” sáng tạo
    Là nơi lưu giữ ký ức, kỹ năng và bản sắc cộng đồng, các làng nghề Hà Nội dần trở thành nguồn lực cho sáng tạo. Sự gặp gỡ giữa nghệ nhân và nhà thiết kế, nghệ sĩ đang mở ra những khả năng phát triển mới cho thủ công đương đại trên nền tảng di sản. Từ những cuộc “kết duyên” đầy cảm hứng ấy, Hà Nội đang khơi thông mạch ngầm của hệ sinh thái thủ công, biến vốn cổ thành động lực bền vững cho tương lai.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • Hà Nội chính thức công nhận điểm du lịch Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông
    Ngày 03/8/2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 3971/QĐ-UBND công nhận Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc - Hà Đông là điểm du lịch chính thức. Đây là mốc son quan trọng trong hành trình bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời tạo cơ hội lớn để làng nghề khẳng định vị thế, phát triển du lịch văn hóa bền vững và lan tỏa tinh hoa lụa Việt.
  • HHT chào đón hơn 3.000 tân sinh viên K17, mở đầu hành trình chinh phục công nghệ
    Ngày 3/8, Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội (HHT) chính thức chào đón 3.000 tân sinh viên K17 nhập học. Đây là kỳ tuyển sinh có quy mô lớn nhất sau 17 năm thành lập, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của nhà trường.
Đừng bỏ lỡ
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Tôn vinh âm nhạc truyền thống tại “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026”
    Ban tổ chức yêu cầu các tác phẩm tham dự “Cuộc thi Độc tấu và Hòa tấu nhạc cụ dân tộc toàn quốc - 2026” phải giữ được phong cách, âm hưởng dân gian đặc trưng hoặc được hòa âm, phối khí mới trên nền tảng làn điệu âm nhạc truyền thống Việt Nam, đồng thời phải được trình diễn trực tiếp bằng nhạc cụ dân tộc.
  • Chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim
    Tạp chí Người Hà Nội xin trân trọng giới thiệu chùm thơ của tác giả Nguyễn Thanh Kim.
  • Âm nhạc cuối tuần: “Chất men” văn hóa giữa lòng Hà Nội
    Chiều cuối tuần tại Nhà Bát Giác, những thanh âm đầu tiên của "Hà Nội - Niềm tin và hy vọng" vang lên như một lời chào quen thuộc dành cho người dân và du khách. Tiếp sau đó, những giai điệu jazz kinh điển của thế giới lần lượt cất lên qua phần biểu diễn của NSƯT Quyền Văn Minh và các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club, mở ra một không gian âm nhạc giàu cảm xúc ngay giữa trung tâm Thủ đô.
  • Đưa nghệ thuật truyền thống đến gần công chúng, bồi đắp tình yêu lịch sử qua “Âm nhạc cộng đồng”
    Tối 2/8, tại Nhà Bát Giác, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện đã mang đến cho đông đảo người dân và du khách một không gian nghệ thuật đa sắc, nơi những làn điệu cải lương, ca cổ, tân cổ và các tiết mục múa hòa quyện trong không gian của phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm. Đặc biệt, chương trình có sự giao lưu của các nghệ sĩ đến từ phương Nam, góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ nghệ thuật giàu cảm xúc.
  • “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội”: Kích cầu du lịch văn hóa, kinh tế đêm Thủ đô
    “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” - chương trình nghệ thuật do Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long thực hiện, đã ra mắt công chúng vào tối 30/7 tại Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long (số 31 - 33 phố Lương Văn Can, phường Hoàn Kiếm).
  • [Podcast] Tản văn: Một ly tỉnh và nhớ
    Người ta có muôn vàn cách để quên một điều gì đó nhưng để nhớ về kỷ niệm thì lại chẳng có nhiều. Tôi hay chọn buổi sáng thứ Bảy trong tuần để được thư thả về phố núi quê hương, ngồi đợi giọt đắng của đất đai, mưa nắng điểm từng nhịp xuống chiếc ly sứ như đợi thời gian mở cánh cửa diệu kì của mình.
  • Phường Bồ Đề ra mắt mô hình "Không gian văn hoá công đoàn": Kết nối tri thức, lan toả văn hoá đọc
    Chào mừng kỷ niệm 97 năm Ngày thành lập Công đoàn Việt Nam (28/7/1929 – 28/7/2026), vừa qua, Công đoàn phường Bồ Đề phối hợp với Công đoàn Trường THCS Ngọc Thụy và Công đoàn Trường Tiểu học Ái Mộ B tổ chức Lễ ra mắt Mô hình “Không gian văn hóa công đoàn”.
  • Triển khai xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia “Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam”
    Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND TP Huế triển khai Đề án xây dựng, quảng bá thương hiệu Quốc gia "Thành phố Nhiếp ảnh Việt Nam".
  • [Podcast] Canh dải khoai - Đặc sản trứ danh xứ Đoài
    Trải qua thăng trầm thời gian, người Hà Nội vẫn luôn biết gìn giữ những món ăn truyền thống từ công thức gia truyền, đồng thời họ còn nâng niu những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng món ăn, từ cách chọn nguyên liệu, chế biến đến cách thưởng thức. Và canh dải khoai là một món ăn như thế.
Nguyễn Trọng Hợp – nhà thơ đi sứ tây
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO