Văn hóa – Di sản

Nguyễn Giản Thanh – sứ thần, thi nhân

Nguyễn Huy Bỉnh 30/11/2023 11:22

Nguyễn Giản Thanh (1482 - ?), tự Cự Nguyên, hiệu Phác Hiên, người làng Ông Mặc, tục gọi là làng Me, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc, nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ khoa thi Đoan Khánh năm thứ tư (1508), đời vua Lê Uy Mục. Giản Thanh là con trai của Tiến sĩ Nguyễn Giản Liên; nhưng cha mất sớm, ngay từ nhỏ, mặt mũi khôi ngô, hình dung thanh tú. Từ bé, Giản Thanh đã thông minh, ý nhị khác người, có phong tư tài mạo sáng sủa. Tài văn chương ứng đối của ông cũng thật nhanh nhẹn và kỳ lạ.

nguyen-gian-thanh.jpg
Họa hình giai thoạt về trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh.

Bấy giờ, Tiến sĩ Đàm Thận Huy nổi tiếng hay chữ, là thành viên của Tao đàn Nhị thập bát tú của vua Lê Thánh Tông, khi nghỉ việc quan đã mở lớp dạy học trò. Nguyễn Giản Thanh may mắn được nhận vào học. Có giai thoại kể lại rằng, một hôm, học xong thì trời đổ mưa, học trò không ai ra về được. Nhân đấy cụ Nghè ra câu đối thử tài học trò của mình. Vế đối ra là: Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách (Mưa không khóa cửa mà giữ được khách ở lại). Mấy trò đều đưa câu đối dâng lên thầy, trong đó có câu đối nổi tiếng của Giản Thanh: Sắc bất ba đào dị nịch nhân (Sắc đẹp không phải sóng gió mà làm đắm được người). Cụ Nghè tỏ ý khen vế đối tài hoa, đối rất chỉnh, về sau, cậu học trò này sẽ đỗ đạt, nhưng sẽ có tính đa tình, say mê sắc đẹp.

Đến kỳ thi đại khoa năm Mậu Thìn đời vua Lê Uy Mục (1508), các quan giám khảo chấm được hai người xuất sắc nhất là Hứa Tam Tỉnh và Nguyễn Giản Thanh. Cả hai đều cân sức cân tài, xem ra Nguyễn Giản Thanh văn hay, bay bổng hơn, nhưng Hứa Tam Tỉnh lại thâm trầm, sâu sắc hơn. Các quan trường có ý chọn Tam Tỉnh đứng đầu, nhưng vẫn còn khâu cuối cùng do nhà vua trực tiếp sát hạch. Vua cho vời hai vị vào chầu.

Buổi chầu hôm ấy có mặt hoàng thái hậu, mẹ nuôi của vua. Bà thấy Hứa Tam Tỉnh lùn thấp, đen đủi, trong khi Nguyễn Giản Thanh người cao ráo, trắng trẻo, thư sinh, bà chỉ ngay mà nói: “Ồ, đây hẳn là Trạng nguyên tân khoa. Xứng đáng quá đi rồi!”.

Vua cũng đã xem các văn bài của cả hai người và thấy bài của Hứa Tam Tỉnh nhỉnh hơn cả, nhưng hoàng thái hậu làm cho bị động, đành cho tiến hành thêm một bước thử tài nữa. Nhà vua ban giấy bút và phán, bảo cả hai người làm bài phú Phụng thành xuân sắc ngay tại chỗ.

Hứa Tam Tỉnh uyên thâm làm một bài phú bằng Hán văn. Trong khi đó, Giản Thanh phóng bút viết bài phú bằng tiếng Nôm, vốn là thế mạnh của mình. Quả nhiên, nghe Tam Tỉnh trầm trầm đọc bài phú, thái hậu không hiểu gì cả. Đến lượt Giản Thanh cất tiếng đọc sang sảng, tả cảnh phồn hoa của chốn đế độ có những đoạn rất bay bướm, Thái hậu nắc nỏm khen hay. Chiều lòng bà, vua Uy Mục bèn chấm cho Nguyễn Giản Thanh đỗ Trạng.

Biết được chuyện chỉ vì đẹp trai mà Nguyễn Giản Thanh đoạt mất chức Trạng nguyên của Hứa Tam Tỉnh, các nho sĩ đất Kinh Bắc tỏ ra không hài lòng, thường vẫn chê Giản Thanh là “Mạo Trạng nguyên”, nghĩa là “Trạng nguyên mặt”, vì đẹp trai mà đậu Trạng, đồng thời cũng có nghĩa là giả mạo, không xứng đỗ. Còn dân gian thì lưu truyền câu nói đùa lâu nay thành ngạn ngữ “Trạng Me đè Trạng Ngọt”.

Trong những năm tháng làm quan đời Lê, Nguyễn Giản Thanh đã làm được nhiều việc, ông được nhà vua tin tưởng giao cho chức Hàn lâm viện Thị thư kiêm Đông các Đại học sĩ thời Lê. Sau đó, ông lại ra làm quan với nhà Mạc và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc) để cầu phong cho Mạc Đăng Dung. Khi trở về, ông được thăng Thượng thư Bộ Lễ kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Chưởng viện sự, tước Trung Phụ bá. Khi mất, ông được ban tặng cho tước hầu.

Nguyễn Giản Thanh là người có tài chính trị nên rất chú trọng về đường công danh, dẫu làm quan nhưng ông vẫn ham mê thơ phú văn chương, sáng tác nhiều tác phẩm hay. Ông là tác giả của bài phú nổi tiếng Phụng thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng). Bài phú bằng chữ chữ Nôm tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng thành hay Phượng thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.

Ngao từ chia cực

Phụng đã xây thành

Sum một chốn ý quan lễ nhạc,

Vầy một nơi văn vật thanh danh

Trời đượm khí xuân, sắc tươi tốt khắp hòa thế giới;

Nước mừng thịnh trị, thế vững vàng, chống cột thần kinh.

Theo cấu trúc của thể phú, Nguyễn Giản Thanh từ cảm hứng trước thực tại đã soi nhìn về truyền thống:

Nhớ xưa:

Cõi giữa bang trung;

Đứng trên thượng quốc

Đinh Tản Sơn hùm chiếm Tây Nam

Dòng Nhị Thủy rồng chầu Đông Bắc.

Nghìn dặm giang sơn đặt hiểm, tượng đá có danh;

Bốn mùa cảnh vật đều xuân, hoa càng thêm sắc.

Đặc biệt Nguyễn Giản Thanh chú ý mô tả, phác thảo cảnh vật, cuộc sống con người chốn kinh kỳ:

Từng thấy:

Đòi nơi nghễu ngật,

Mấy chốn lạ lùng.

Chín bức lâu đài ngọc chúc,

Ngàn lần la ý cẩm lung.

Chợ chợ, nhà nhà, trăm dáng tựa có bôi tám bức,

Thành thành, thị thị, muôn tử chen thức ánh ngàn hồng.

Trong thời:

Điện ngọc thâm nghiêm

Cửa vàng ngang ngửa

Liễu Chương Đài mây ngọc dờn dòn

Đào Thượng Uyển má hồng rỡ rỡ.

Địch phượng, lầu kia mới thổi, lòng nguyệt dễ xui;

Trống rồng, điểm nọ lại thôi, nhị hoa đua nở.

Ngoài thời:

Chợ hòe đầm ấm

Phố ngọc tần vần

Trai lanh lẹ đá cầu vén áo,

Gái éo le rủ yếm dôi quần.

Khách Tràng An cưỡi ngựa xem hoa, rợp đường tử mạch;

Chàng công tử ngự xe trương tán, rạng mực thanh vân.

Đến cuối bài phú, Nguyễn Giản Thanh nâng cấp vẻ đẹp kinh thành lên tầm “thiên nhiên quốc huy”, đất nước vững bền muôn thuở:

Lành thay:

Vận mở thái hòa,

Đường thông chức cống

Đêm xuân vầy họp hây hây,

Cõi thọ bước lên thong thông

Nẻo hợp châu xa, ngọc bạch, dân mến về chầu;

Tộ mừng bàn thạch, Thái Sơn, thế bề khôn động.

Nước yên vững đặt âu vàng,

Đất thịnh vốn chung thành phụng.

Vậy mới hay:

Thành Phụng ấy chốn yêu, chốn lạ,

Sắc xuân này dường tốt, dường thanh.

Dầu chẳng có “sắc xuân” đua tốt.

Sao cho nên “Thành Phụng” nổi danh?

Hướng bốn phương cùng hợp đất này, giữa chưng thiên hạ;

Hòa mỗi chốn đều làm đô đấy, ngăn được thế hình.

Song le:

Có xuân tượng bởi có thành

Cậy hiềm chẳng bằng cậy đức.

Tuy đã nhìn non nhiều nước, mạnh thửa thành trì.

Sao bằng lấy nghĩa lấy nhân, bền làm phong vực.

Những thấy;

Đời đời thành phụng ấy

Kiếp kiếp sắc xuân này

Con con cháu cháu dõi truyền đến chung muôn vạn ức.

Ngoài bài phú nổi tiếng trên, Nguyễn Giản Thanh còn có một số bài thơ khác, thơ ông bày tỏ nỗi lòng của một người có trách nhiệm với nhân dân.

Thiên phú sinh dân nhược hữu hằng,

Sơ cuồng ư ngã độc gia tăng.

Sĩ đồ lạc phách trường vi khách,

Sinh kế tiêu điều bán dĩ tăng.

Phúc ngã thùy ngôn lân bất phệ,

Kỹ cùng tự tiếu thử vô năng.

Nhất hào khổ dũ vô di khí,

Toàn lại hồng quân bá vật hoằng.

(Thuật hoài)

Dịch nghĩa:

Trời phú sinh dân ai cũng có tính thường,

Chỉ riêng ta ngày tháng một thêm ngông cuồng.

Long đong trên con đường làm quan mãi mãi là khách,

Cuộc sống nghèo nàn, một nửa đã thành sư.

Bụng đói ai nói “không có cá ăn”,

Năng lực đã cạn kiệt tự cười như con chuột không tài.

Một mảy may dẫu kém cỏi cũng không bị bỏ sót,

Hoàn toàn trông nhờ tạo hóa ban phát cho rộng khắp.

(Thuật nỗi lòng)

Nguyễn Giản Thanh là một người tài giỏi. Từ thi cử đến chốn quan trường, ông luôn tỏ ra là một người nhanh nhạy, thức thời và chính xác trong các quyết định của mình. Ông cũng để lại một dấu ấn cá nhân đậm nét trong một giai đoạn lịch sử phức tạp của dân tộc. Qua những việc ông làm và qua cả những sáng tác văn chương cho thấy, Nguyễn Giản Thanh là một người có tâm hồn cao thượng, biết vượt lên những trở ngại trong quan niệm phong kiến để làm những việc có ích cho nhân dân, cho đất nước./.

Theo Danh nhân Thăng Long - Hà Nội

Bài liên quan
  • Lý Nhân Tông – vị vua giỏi của triều Lý
    Tháng Chạp năm Đinh Mùi (1127), hoàng đế Lý Nhân Tông viết di chiếu: “Trẫm xét phận tuổi thơ đã phải lên ngôi báu, ở trên các vương hầu, lúc nào cũng nghiêm kính sợ hãi, đã 56 năm nay…”.
(0) Bình luận
  • Kiêng kỵ thờ thần ở Viên Nội
    Làng Viên Nội thuộc tổng Tuân Lệ, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên trước năm 1945. Sau đó thuộc xã Liên Hiệp, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên (từ năm 1950 thuộc tỉnh Vĩnh Phúc). Năm 1961, làng được sáp nhập vào Hà Nội. Năm 1965, Viên Nội thuộc xã Vân Nội; từ ngày 1/7/2025 thuộc xã Phúc Thịnh, Hà Nội. Viên Nội thờ hai vị thần là Đống Băng và Uông Tá (thời Hùng Vương thứ 18) cùng Diệu La công chúa, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Hàng nghìn người tôn vinh vẻ đẹp cổ phục "Việt Phong Hội Tụ" ở Cố đô Huế
    Hàng nghìn người yêu văn hóa và cổ phục từ khắp mọi miền đất nước đã tụ hội về Cố đô Huế tham gia "Việt Phong Hội Tụ" và trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng.
  • Phường Tây Hồ đón nhận Bằng công nhận làng nghề và nghề truyền thống ướp trà sen
    Sáng 27/6, tại Đình làng Quảng Bá, UBND phường Tây Hồ tổ chức Lễ công bố và trao Bằng công nhận làng nghề truyền thống "Làng nghề ướp trà sen Quảng Bá" và nghề truyền thống "Nghề ướp trà sen Quảng An", gắn với các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch hồ Tây năm 2026.
  • Hà Nội có thêm 12 di tích được xếp hạng cấp thành phố
    Nhằm thực hiện công tác bảo tồn, tôn vinh và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3005/ QĐ-UBND về việc xếp hạng một loạt di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn thành phố.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nửa chân trời trong sương
    Làng tôi ven sông Yên, một nhánh sông quanh năm lững lờ chảy qua những bãi bồi ngập cỏ. Con đường đất dẫn vào làng uốn cong cong, bốn mùa nồng nàn hương hoa cỏ. Những buổi hoàng hôn, khi nắng đã dịu xuống phía cuối sông, đám hoa tím lại thẫm màu như có ai vừa rắc lên một lớp khói.
  • Di sản làng nghề “kết duyên” sáng tạo
    Là nơi lưu giữ ký ức, kỹ năng và bản sắc cộng đồng, các làng nghề Hà Nội dần trở thành nguồn lực cho sáng tạo. Sự gặp gỡ giữa nghệ nhân và nhà thiết kế, nghệ sĩ đang mở ra những khả năng phát triển mới cho thủ công đương đại trên nền tảng di sản. Từ những cuộc “kết duyên” đầy cảm hứng ấy, Hà Nội đang khơi thông mạch ngầm của hệ sinh thái thủ công, biến vốn cổ thành động lực bền vững cho tương lai.
  • Phát huy vai trò của văn nghệ sĩ Thủ đô: Khơi dậy nguồn lực sáng tạo cho phát triển công nghiệp văn hóa
    Trong nền kinh tế sáng tạo, tài năng và sức sáng tạo của con người chính là nguồn vốn quan trọng nhất. Đối với Hà Nội, đội ngũ văn nghệ sĩ không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn giữ vai trò trung tâm trong quá trình hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khơi dậy, phát huy và tạo điều kiện để nguồn lực sáng tạo ấy phát triển sẽ là “chìa khóa” để Hà Nội khai thác hiệu quả tiềm năng văn hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế của một trung tâm sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
  • HHT chào đón hơn 3.000 tân sinh viên K17, mở đầu hành trình chinh phục công nghệ
    Ngày 3/8, Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội (HHT) chính thức chào đón 3.000 tân sinh viên K17 nhập học. Đây là kỳ tuyển sinh có quy mô lớn nhất sau 17 năm thành lập, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của nhà trường.
  • Phường Thượng Cát tích cực hưởng ứng “Ngày Văn hóa Việt Nam” năm 2026
    Thông tin UBND phường Thượng Cát (TP Hà Nội) cho biết, thực hiện Chương trình hành động số 08-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển Văn hóa Việt Nam; Kế hoạch của UBND Thành phố Hà Nội, phường Thượng Cát tổ chức nhiều hoạt động trong tháng 11/2026 hưởng ứng “Ngày Văn hóa Việt Nam” năm 2026 trên địa bàn.
Đừng bỏ lỡ
Nguyễn Giản Thanh – sứ thần, thi nhân
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO