Tác giả - tác phẩm

Hồi ký “Đi tìm một vì sao": Sức hấp dẫn của sự chân thực

Hồ Quang Lợi 09/03/2023 05:24

Ngạn ngữ có câu: “Mở một cuốn sách, thấy một con người”. Đó là điều mà độc giả sẽ thấy khi đọc cuốn hồi ký tự truyện “Đi tìm một vì sao” của tác giả Phạm Quang Nghị, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội… - một chân dung, một chính khách đã đi qua 70 năm đầy biến động của xã hội, đất nước và những điểm nút thời cuộc không thể nào quên của lịch sử.

Tôi may mắn được anh Phạm Quang Nghị gửi cho đọc bản thảo chương “Mười năm- một lát cắt thời gian” ở phần cuối của cuốn sách “Đi tìm một vì sao” trước khi in. Đây là phần nói về quãng thời gian anh Nghị công tác ở Hà Nội. Tôi cũng là một trong những người đầu tiên được đón nhận cuốn sách khi vừa in xong.

Dù đã đọc kỹ bản thảo, tôi vẫn mải miết đọc cuốn sách từ trang đầu đến trang cuối. Một sức cuốn hút lạ kỳ, ít gặp ở loại sách hồi ký và tự truyện. Đây là một cuốn sách đẹp, cả nội dung và hình thức, càng đọc càng thấy thấm. Gần gũi, thấu cảm, lay động. Bao điều chiêm nghiệm thú vị và bổ ích khi gấp lại cuốn sách.

Ngạn ngữ có câu: “Mở một cuốn sách, thấy một con người”. Quả thật, độc giả thấy rõ nét, sáng đẹp chân dung Phạm Quang Nghị, một con người sinh ra ở làng Hoành, đi qua chặng đường suốt hơn 70 năm và giờ đây, trong từng trang sách, chia sẻ với chúng ta, không chỉ về cuộc đời anh, mà còn về xã hội, con đường đất nước ở những giai đoạn lịch sử, những điểm nút thời cuộc không thể nào quên.

“Đi tìm một vì sao” là câu chuyện về một con người, nhưng đọc cuốn sách , ta thấy trong đó đất nước, dân tộc mình trong cuộc trường chinh gian lao mà chói sáng, thấy làng xóm mình, thấy những người xung quanh mình trong sự kết nối máu thịt. Chúng ta thấy cả một thế hệ - thế hệ đáng ngưỡng mộ của anh Phạm Quang Nghị. Đó là các nam thanh, nữ tú với bầu máu nóng, từ các trường đại học, xếp bút nghiên đi vào chiến trường, hiến dâng tuổi thanh xuân cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Hòa bình lập lại, họ lại trở về tiếp tục học tập, lao động sáng tạo, cống hiến cho công cuộc dựng xây.

anh-2-bia-sach-cua-pqn.jpg
Bìa sách “Đi tìm một vì sao”.

Điều gì tạo nên sự chân thực?

Ấn tượng sâu sắc nhất, với tôi, là tính chân thực của cuốn sách. Chân thực làm cho quyển sách trở nên tin cậy và có giá trị - giá trị không chỉ đối với giáo dục mà còn đối với công tác nghiên cứu ở Việt Nam cũng như thế giới. Có thể tìm thấy trong cuốn sách những tư liệu lịch sử có sức sống của hiện thực. Bởi vì, anh Phạm Quang Nghị đi vào chiến trường, rồi tham gia công tác lãnh đạo ở các cương vị khác nhau, từ đó rút ra những chiêm nghiệm đắt giá. Ở nhiều trang, khi viết về cách giải quyết các vụ việc nhạy cảm và phức tạp, tôi cảm thấy, cuốn sách như có tính cẩm nang, rất bổ ích cho những ai đang làm công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành ở các cấp khác nhau.

Vì sao cuốn sách đạt tới sự chân thực như vậy?

Có thể là từ khả năng quan sát hết sức nhanh nhạy và cách ghi chép khoa học, cụ thể, tỉ mỉ của tác giả khiến những người làm báo chuyên nghiệp như chúng tôi cảm thấy ngạc nhiên, khâm phục. Được đào tạo, bồi dưỡng để làm phóng viên chiến trường, lại được học qua lớp viết văn Nguyễn Du, anh Phạm Quang Nghị có tác phong của người cầm bút mẫu mực. Vốn sống phong phú, vốn ngôn ngữ dồi dào, mạch văn hoạt và thoáng. Xuyên suốt hơn 600 trang sách khổ lớn là một cách nhìn hiện thực khách quan, không hề có việc tô vẽ, tuyên truyền lên gân một cách sống sượng, giáo điều. Nhưng trên hết, tôi nghĩ, điều cốt yếu nhất là anh có một lẽ sống cao đẹp, tự nguyện quăng mình trong khói lửa chiến tranh khốc liệt, sống chết cùng với nhân dân và đồng đội; rồi anh lại trải nghiệm qua thực tiễn công tác rất đa dạng. Cái đáng quý nhất, làm ta xúc động nhất ở anh là lòng nhân ái, bao dung, hết mực yêu thương con người, cảm thấu con người trong mọi cảnh ngộ… Vì thế, những điều được viết ra trong cuốn sách có sức thuyết phục, nhiều trang lay động trái tim ta.

Tôi cũng là con nông dân, sinh ra ở nông thôn, 6 anh em tôi bé lít nhít, mồ côi cha từ nhỏ, đã từng chịu cảnh đói rét, bần hàn, khổ cực nên rất thấu những câu chuyện về làng Hoành quê anh ngày thơ bé. Nhưng chi tiết sau đây, đọc một lần là nhớ mãi: “Những lúc không biết gửi tôi cho ai, mẹ đành cho tôi theo đi làm. Một bên quang gánh là phân gio, mạ giống; một bên mẹ đặt tôi ngồi trong chiếc thúng, quảy ra đồng. Tới ruộng mẹ để tôi ngồi dưới gốc cây. Chốc chốc mẹ dừng tay, chạy lên di chuyển chỗ tôi ngồi cho khỏi nắng. Tôi ngoan ngoãn ngồi trên bờ ruộng, mải mê ngắm nhìn từng đàn kiến vàng, kiến đen lũ lượt chạy xung quanh… Thỉnh thoảng tôi trêu ghẹo lũ kiến bằng cách lấy que ngăn cản đường đi của chúng…Tôi trông chờ đến giờ mẹ cho tôi được ăn nắm cơm mang theo ra ruộng. Một nắm cơm được mẹ úp chặt trong lòng bàn tay, không lớn hơn quả ổi là bao…” ( trang 36- 37)

  Hay như chuyện cậu bé Nghị bưng chiếc nồi đất đi xếp hàng xin nước xuýt, được mô tả lại: “Ông Thực mổ lợn vào những ngày chợ phiên. Hàng xóm láng giềng thường kéo nhau tới xin nước luộc lòng, quê tôi gọi là nước xuýt. Nhìn chiếc chảo gang to tướng dùng để luộc nguyên cả một cỗ lòng đang sôi ùng ục. Những làn khói thơm lựng nghi ngút bốc lên. Nào là dồi, là phổi, là tiết, là gan nhào lộn trong chảo, trông thật hấp dẫn. Mọi người chờ đợi giây phút sau khi cỗ lòng đã được vớt ra. Ông Thục tự tay cầm chiếc gáo phân phát cho những người đang đứng vây quanh. Tuỳ theo số lượng nhân khẩu, nhà thì được ông múc cho một gáo, nhà thì hai, ba. Tôi háo hức chờ đến lượt từng gáo nước luộc lòng nóng hổi, thơm phưng phức được ông đổ vào chiếc nồi đất của mình. Ánh mắt tôi đổ dồn vào nồi nước xuýt. Nồi nước ấy bây giờ đã là của tôi. Những váng mỡ lấp lánh cùng với những mẩu tiết vụn đã nằm trong chiếc nồi đất tôi đang bưng trên tay. Tôi bước đi rón rén sao cho nồi nước xuýt không bị sóng sánh, mong nhanh về tới nhà để khoe với mẹ…”(trang 46- 47).

Viết như thế thì sống động đến từng chi tiết, lột tả được cả vẻ mặt, tâm trạng háo hức của người trong cuộc, như trong một bộ phim điện ảnh.

anh-1-bai-tg-ho-quang-loi.jpg
Nhà báo Hồ Quang Lợi chúc mừng tác giả Phạm Quang Nghị tại lễ ra mắt cuốn sách “Đi tìm một vì sao”.

Rồi câu chuyện mất mát, đau thương của chính gia đình anh khi hai đứa em gái của anh đã bị bom Mỹ giết chết trong một buổi chiều nắng tà. “Tôi tức tốc chạy ào về nhà. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là một hố rốc-két khoan sâu vào thân đê ngay trước ngõ. Chuồng bò nhà tôi bị tốc mái. Con bò chết nằm quay lơ trong chuồng. Hai con lợn vừa nuôi được vài tháng cũng bị bom và rốc-két xé toang ra từng mảnh, ruột gan vung vãi khắp nơi. Vào tới sân, tôi không trông thấy bóng một ai. Lúc này bà nội tôi còn đang ẩn nấp dưới hầm chưa kịp chui lên. Mẹ tôi đang vừa chạy vừa kêu la thất thanh gọi tìm hai em: “Ối Nghệ ơi, ối Hà ơi, hai đứa ở đâu? Tôi cũng vội đi tìm hai em trong ngôi nhà hàng xóm. Tôi choáng váng không dám tin vào mắt mình. Hai em gái của tôi cùng với một đứa trẻ nhà bên đã chết trong tư thế cả ba cùng ôm chặt lấy nhau trên nền nhà đầy máu. Những đứa trẻ đã chết trong nỗi sợ hãi đến tột cùng vì không được ai che chở… Không chỉ mất hai đứa con đang còn thơ dại, mà chính mẹ cũng đang mang trên mình hai vết thương, một mảnh bom xuyên qua đầu gối và một mảnh găm trên trán. Đã có những đêm khuya mẹ lặng lẽ trốn ra ngoài bến sông với ý định gieo mình xuống dòng nước. May sao, linh tính đã mách bảo tôi vội chạy ra sông dìu mẹ trở về nhà” ( trang 55-56-57).

Nhiều tác phẩm có tính hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn đã viết khá thành công về sự khốc liệt của chiến tranh. Nhưng trong hồi ký, người thật, chuyện thật mà viết thật, không ngần ngại như anh Nghị là điều tôi chưa được biết: “Trên đường hành quân, có lần đang đi bỗng mọi người thấy mùi hôi thối. Linh tính mách bảo có bộ đội hy sinh quanh đấy. Mấy người chia nhau lùng sục dọc theo các lối mòn liền phát hiện thi thể một chiến sĩ nằm trên võng đã chết từ bao giờ. Tôi rón rén bước đến gần, một đàn ruồi hàng triệu, hàng triệu con vù vù bay lên như một cuộn khói đen đặc hình chiếc nấm khổng lồ. Mùi hôi thối toả lan càng thêm nồng nặc. Tôi không dám nhìn lâu vào thi thể người chiến sĩ đã thối rữa. Quá nửa phần thịt da người nằm đất đã bị giòi bọ ăn. Hai hố mắt sâu hoắm. Phần sọ người đã hiện ra. Khoang bụng thì nhung nhúc đầy giòi, có thể dùng bát, dùng tô mà múc được. Chắc đây là trường hợp bộ đội đi đường quá mệt tạt vào rừng mắc võng nằm nghỉ. Người chiến sĩ ấy đã không bao giờ tỉnh dậy” (trang 134).

Chiến tranh là như vậy, mất mát, đau thương, tàn khốc, nhưng không phải ai cũng đã biết, đã thấu. Phải biết, phải thấu thì thấy hết sự cống hiến hy sinh của các thế hệ đi trước, mới hiểu được giá trị của hoà bình và trách nhiệm với đất nước ngày hôm nay.

bia-sach-2.jpg
Cuốn sách “Đi tìm một vì sao” là một câu chuyện đẹp về văn hóa

Lấp lánh ánh sáng văn chương

Hồi ký, tự truyện được xuất bản khá nhiều, nhưng không phải cuốn sách nào cũng mang lại nhiều cảm xúc như “Đi tìm một vì sao”. Tôi cho rằng tự truyện mà anh Phạm Quang Nghị viết đã đạt đến độ “nghệ thuật” của thể loại này mặc dù có thể anh không có ý thức về điều đó . Một cuốn sách, như tác giả nói nôm na là “tự kể chuyện mình” nhưng lại là tác phẩm đầy chất văn. Anh Phạm Quang Nghị đã xuất bản nhiều sách, hầu hết là sách có tính chính luận, cuốn nào cũng gây ấn tượng tốt. Nhưng đến cuốn sách này thì đây là một tác phẩm văn học đích thực với những trang văn đẹp, từ trang đầu đến trang cuối đều lấp lánh ánh sáng văn chương. Chân thật, tinh tế và nhân văn.

Tôi rớm lệ khi đọc đoạn văn anh viết về một cuộc “tiễn chân” độc nhất vô nhị khi anh rời Bù Đốp về Lộc Ninh, không phải giữa những người ruột thịt, đồng đội mà là… một đàn chó, vốn được anh nhường cho đôi ba chén cơm trong những ngày đói kém. Chúng nối nhau thành một hàng dài đưa tiễn, lúc đầu hàng trăm con, về sau cứ ít dần và cuối cùng chỉ còn một con màu lông nhạt cứ đi theo anh suốt một chặng đường dài. Trời nắng gắt, thương con vật, anh giơ nắm cơm ra hiệu rồi bẻ một miếng để lại bên đường cho nó, nhưng kỳ lạ thay, con vật chỉ ngửi một cách vội vàng rồi lại chạy theo cho đến khi anh rẽ vào rừng cao su. Như hiểu được cuộc chia ly, từ ngoài đường, con chó đứng nhìn theo cho đến khi anh mất hút trong rừng…( trang 184)

Với 4 khoá là Uỷ viên Trung ương Đảng, hai khoá Uỷ viên Bộ Chính trị, dường như mọi việc “quốc gia đại sự” đều có sự tham dự của anh, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Điều đó có thể hiểu rằng hầu như không có chuyện gì anh không biết, kể cả những chuyện thuộc loại “thâm cung bí sử” của chính trường. Nhưng cuốn sách không hề khơi gợi sự tò mò cho người đọc theo hướng đó, mà hướng người đọc đến những không gian cảm xúc và suy tưởng trong sáng, đến các chiêm nghiệm bổ ích, đến các giá trị Chân- Thiện – Mỹ. Đó là một ngòi bút có trách nhiệm của một chính khách cấp cao. Đó là một nhân cách văn hoá!  

Tầm vóc và phẩm cách văn hóa

Trong cuốn sách có chương “Mười năm, một lát cắt thời gian”. Đây là chặng đường cuối cùng trong sự nghiệp công tác của anh Phạm Quang Nghị. Tôi may mắn được đồng hành trong chặng đường 10 năm đó của anh. Trong lịch sử 1.000 năm thăng Long - Hà Nội thì thời kỳ từ năm 2005 đến 2015 là một chặng đường đầy dấu ấn, trong đó có cột mốc vàng lịch sử Đại lễ 1.000 năm. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành Thủ đô Hà Nội quãng thời gian này gắn với tên tuổi anh Phạm Quang Nghị. Có thể nói, những câu chuyện trong cuốn sách vẫn chưa kể hết những gì anh đã trải qua và chỉ đạo công việc Hà Nội trong 10 năm đó. Đây là một thời kỳ rất đặc biệt của Thủ đô Hà Nội, một thời kỳ rất huy hoàng nhưng cũng đối mặt với vô vàn khó khăn thách thức. Đó là một thời kỳ phải giải quyết những công việc đồ sộ, trong đó có nhiều việc khó, việc mới, việc chưa có tiền lệ. Triển khai bất cứ chương trình, kế hoạch, đề án gì; giải quyết bất cứ vụ việc gì, anh Phạm Quang Nghị đều đặc biệt coi trọng yếu tố văn hoá, dùng văn hoá soi chiếu mọi việc. Anh khẳng định: Hà Nội không nhất thiết phải đi đầu về kinh tế, nhưng nhất thiết phải đi đầu và làm gương cho cả nước về văn hoá.

Tôi biết, có những việc phải anh Phạm Quang Nghị thì mới giải quyết xong, như chuyện “cắt ngọn” những ngôi nhà sai phép, tháo dỡ các công trình bịt mặt vườn thú, đình chỉ việc xây 10 sân golf chiếm nhiều diện tích trồng lúa, đình chỉ xây dựng khách sạn SAS trong Công viên Thống Nhất, Trung tâm thương mại tại đường 19/12, các vụ đòi đất có nguồn gốc tôn giáo ở Nhà Chung, Thái Hà, Núi Chẽ, rồi trận mưa lịch sử suốt 72 giờ, biến phố thành sông, cả Hà Nội chìm trong biển nước… Và đặc biệt là sự kiện mở rộng địa giới hành chính, hợp nhất Hà Tây vào Hà Nội - một câu chuyện quá lớn không chỉ của Hà Nội mà của cả đất nước tại thời điểm đó. Những năm tháng ấy không chỉ có chuyện vui, mà còn có cả những chuyện phức tạp vô cùng. Anh Phạm Quang Nghị là người đã nỗ lực chỉ đạo, vận hành guồng máy Hà Nội theo kiểu “vừa chạy vừa sắp hàng” nhưng vẫn nề nếp, đồng thuận, kỷ cương và hiệu quả.

Tôi nghĩ, 10 năm công tác tại Hà Nội là 10 năm rất đáng tự hào trong sự nghiệp của anh Phạm Quang Nghị. Hà Nội thời điểm đó, dù có chuyện này chuyện kia, nhưng Hà Nội phát triển mạnh, Hà Nội rạng rỡ thế Rồng bay và Hà Nội vững niềm tin khi hướng tới tương lai. Riêng tôi, sau gần 30 năm công tác tại Báo Quân đội Nhân dân với chức vụ Phó tổng biên tập, tôi được lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Thành uỷ Hà Nội thống nhất điều động về làm Tổng Biên tập Hà Nội Mới. Chưa được 2 năm rưỡi, Thành uỷ lại điều động tôi về làm Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, một chức vụ thông thường phải là Uỷ viên Ban Thường vụ Thành uỷ trong khi tôi lại chưa là Thành uỷ viên, điều mà như anh Nghị nói là “chưa có tiền lệ” trong lịch sử Đảng bộ Hà Nội. Lúc đó, tôi chỉ muốn tiếp tục công việc ở Hà Nội Mới chứ không muốn làm công việc gì khác. Tôi tha thiết đề nghị “Anh chiếu cố cho nguyện vọng được làm nghề báo của em”, nhưng anh ôn tồn bảo: “Về Ban Tuyên giáo thì có ai cấm “ông” viết báo đâu”. Và thực tế, tôi đã không rời xa cây bút một ngày nào. Tôi cảm nhận sâu sắc là anh Nghị và lãnh đạo Hà Nội đặt niềm tin ở tôi thì tôi phải nỗ lực cao nhất. Đến cuối tháng 10 năm 2010, tại Đại hội XV Đảng bộ Hà Nội, tôi được bầu vào Thành uỷ và Ban Thường vụ Thành uỷ, tiếp tục làm Trưởng Ban Tuyên giáo Thành uỷ nên lại càng có điều kiện gần gũi, gắn bó với anh Nghị trong công việc, được chứng kiến và học hỏi phong cách lãnh đạo của anh.

  Trong 10 năm anh Phạm Quang Nghị làm Bí thư Thành ủy Hà Nội, đã có khoảng hơn 100 cuộc họp của Ban thường vụ Thành ủy, nhiều cuộc họp của Ban Chấp hành để giải quyết các công việc của Hà Nội. Bao nhiêu chuyện không thể kể hết, nhưng có một câu chuyện đối ngoại rất nổi bật của anh mà quyển sách này có nhắc đến nhưng chỉ lướt qua.

Tôi nhớ, mùa hè năm 2014, anh Phạm Quang Nghị dẫn đầu đoàn đại biểu của Đảng ta thăm Hoa Kỳ. Đây là người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức Hoa Kỳ, tính đến thời điểm bấy giờ. Chuyến đi đó, tôi đã được trực tiếp chứng kiến một cuộc đối thoại vô cùng thú vị tại Viện Châu Á ở nước Mỹ giữa các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về quốc tế, về quan hệ Việt - Mỹ với Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị. Với tư cách là thành viên chính thức của đoàn và là một nhà báo, tôi đã ghi lại cuộc đối thoại đó trong bài viết” “Hai giờ đối thoại ở Niu Yoóc”. Tôi viết đúng những gì diễn ra. Sau khi bài báo được đăng tải, nhiều người đọc xong đã nói: “Sao lại có một cuộc đối thoại hay như thế của một người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với các học giả Hoa Kỳ”. Cuộc đối thoại đã giúp hiểu sâu sắc hơn thế giới ngày hôm nay như thế nào, quan hệ Việt Nam - Mỹ nên giải quyết theo hướng nào và cả những vấn đề rất phức tạp ở biển Đông… Cuộc đối thoại đã thể hiện khả năng ứng phó nhanh nhạy, linh hoạt, uyển chuyển, thoải mái của anh, qua đó có thể thấy được tầm nhìn, tư duy chính trị của Phạm Quang Nghị.

Trong chuyến công du đó, tôi được cùng anh Nghị vào gặp Thượng nghị sỹ nổi tiếng Giôn Mắc-kên tại phòng làm việc của ông trong toà nhà Quốc hội Mỹ trên Đồi Capitol. Năm 2015, đúng một năm sau cuộc gặp ở Oa-sinh- tơn, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, Thượng nghị sỹ Giôn Mắc- kên đã tới trụ sở Thành uỷ Hà Nội thăm anh Nghị với sự trân trọng dành cho một chính khách cộng sản Việt Nam. Được dự cuộc gặp này, tôi đã viết bài báo “Một năm, hai cuộc gặp, nửa vòng trái đất” đăng trên báo Hà Nội Mới.

  Tôi nghĩ, 10 năm công tác tại thủ đô Hà Nội đã nâng nhà lãnh đạo Phạm Quang Nghị lên tầm vóc mới. Phạm Quang Nghị là một nhà hoạt động tư tưởng, một nhà chính trị và là một nhà báo. Anh tiếp xúc với giới báo chí như một người bạn và bản thân tôi cũng được anh cho ý kiến rất nhiều trong công việc báo chí.

Qua cuốn sách này, chúng ta thấy ở Phạm Quang Nghị không chỉ bút lực của một nhà văn, nhà báo mà còn thấy phẩm cách của một nhà văn hóa, vì tư tưởng chính trị của anh bao giờ cũng gắn với văn hóa, gắn với con người. Phẩm cách văn hoá của anh Phạm Quang Nghị thật sự có sức thuyết phục.

Vậy nên, việc ra mắt cuốn sách “Đi tìm một vì sao” là một câu chuyện đẹp về văn hóa. Tác phẩm này là món quà mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà Phạm Quang Nghị dâng tặng cho bạn đọc, dâng tặng cho cuộc đời.

Xin cảm ơn Anh. Xin chúc mừng Anh!

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • Ra mắt sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”
    Chiều 4/7, tại VNU Bookstore (Đại học Quốc gia Hà Nội), Công ty Cổ phần Xuất bản và Giáo dục Quảng Văn tổ chức ra mắt cuốn sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”. Thông qua hành trình của một chú voi nhỏ, cuốn sách gửi gắm những thông điệp ý nghĩa về tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm với thế giới xung quanh.
  • Nhà thơ Hữu Thỉnh ra mắt tiểu thuyết “Thép dưới cỏ”
    Nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt độc giả tiểu thuyết đầu tay có tên "Thép dưới cỏ". Đây là cuốn sách viết về sự kiện Tà Mây - Làng Vây của binh chủng Tăng thiết giáp. Cuốn tiểu thuyết ra mắt đầu tháng 7, như món quà tri ân không chỉ độc giả, mà còn dành tặng cho những người lính đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, cùng những cựu chiến binh, những thương bệnh binh đã có một thời thanh xuân “hoa lửa” đáng tự hào của mình.
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • Lan tỏa những điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Ban Chuyên đề - Báo Nhân Dân phối hợp Ban sách Lý luận, Kinh điển - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Hoa vườn Bác” (Những điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh). Cuốn sách tuyển chọn 70 bài viết về những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác Hồ, tích cực lao động, sản xuất, học tập, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến trên nhiều lĩnh vực của đời
  • Tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của Hồ Anh Thái sắp được xuất bản bằng tiếng Trung
    Trong khuôn khổ Hội sách Quốc tế Bắc Kinh 2026 (BIBF 2026), chiều ngày 17/6/2026, Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam và Nhà xuất bản Lijiang (Trung Quốc) đã tổ chức lễ ký kết hợp tác bản quyền xuất bản tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của nhà văn Hồ Anh Thái bằng tiếng Trung.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Văn học nghệ thuật góp phần bồi đắp hình ảnh người Hà Nội thanh lịch, văn minh
    Hà Nội tự hào là nơi hội tụ, kết tinh và tỏa sáng của vùng đất địa linh nhân kiệt, hội tụ nhân tài của đất nước, một "Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người" và là "Thành phố anh hùng, Thành phố vì hòa bình". Đây chính là nguồn sức mạnh nội sinh, động lực tinh thần to lớn để phát triển Thủ đô hôm nay và thời gian tới. Từ ngàn xưa, nơi đây luôn luôn khơi dậy tinh thần tự hào, tình yêu, trách nhiệm; xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, hiện đại, tôn trọng pháp luật và lối sống nhân ái, nghĩa tình, trong sáng: "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An".
  • [Podcast] Tản văn: Mùa hoa vông nem
    Mỗi lần xe bus dừng lại ngay con dốc để tôi rẽ vào xóm nhỏ, bao giờ cũng vậy tôi thường đi bộ thật chậm, bởi trong mỗi bước đi là cả một vùng trời ký ức. Tôi đi giữa hai hàng vông, đã chứng kiến bao sự đổi thay trên chính cuộc đời của chúng. Ban đầu chúng chỉ là những đoạn thân gỗ được vạt trụi lá rồi cắm dọc theo hai bên con đường nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, được làn mưa phùn tẩm ướt, từng chồi xanh bắt đầu nhú lên. Những chiếc lá kết chụm nhau tạo thành ché xanh mơn mởn.
  • Thơ về người lính: Khi quá khứ và hiện tại cùng soi bóng
    Lịch sử là một chuỗi ký ức. Nói như nhà văn Pháp Marcel Proust, ký ức chính là con đường dẫn đến quá khứ, giúp con người nhận diện cội nguồn, “Đi tìm thời gian đã mất”. Trong tâm thức mỗi người Việt Nam, ký ức về những năm tháng đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là ký ức không thể phai nhòa. Đó không chỉ là ký ức của những cá nhân mà là ký ức chung của cả cộng đồng, dân tộc.
  • Màng bảo vệ PE - Giải pháp nhỏ, giá trị lớn
    Màng bảo vệ PE ngày càng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn như một giải pháp bảo vệ bề mặt hiệu quả.
  • Phường Tây Hồ tri ân người có công nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Sáng 24/7/2026, Đảng ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ phường Tây Hồ tổ chức Hội nghị tri ân người có công với cách mạng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và gia đình chính sách nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026).
Đừng bỏ lỡ
  • Công bố Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest 2026
    Lễ hội Di sản và Âm nhạc Quốc tế Huế - Huế Wonderverse Music Fest nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa của Chính phủ và định hướng xây dựng Huế trở thành Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam.
  • Ca khúc “Hàng bia trắng”: Khi giai điệu hóa thành nén tâm nhang tri ân
    Kỷ niệm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), nhạc sĩ Nguyễn Thành Trung vừa ra mắt ca khúc “Hàng bia trắng”. Tác phẩm vừa được giới thiệu trong chương trình nghệ thuật chính luận “Một thời hoa lửa” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức tại Hà Nội tối 22/7. Qua chất giọng giàu nội lực và cảm xúc của Quán quân Sao Mai 2017 Thu Thủy cùng tiếng cello của nghệ sĩ Thiên Nga, tiếng guitar của nghệ sĩ Thanh Tùng, ca khúc đã góp phần lan tỏa thông điệp tri ân sâu sắc.
  • Khai mạc tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Tối 21/7, tại Trung tâm Chiếu phim Quốc gia (Hà Nội), Bộ VHTTDL tổ chức Lễ khai mạc Tuần phim Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2026). Tuần phim sẽ diễn ra từ ngày 21 – 28/7/2026 tại hơn 190 cụm rạp trên toàn quốc.
  • Đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng hội tụ bản sắc văn hóa dân tộc
    Việc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với thiết chế văn hóa đặc biệt này mà còn tạo thêm động lực để Thủ đô hiện thực hóa mục tiêu đưa văn hóa trở thành nguồn lực phát triển. Đó là định hướng được nhấn mạnh trong Thông báo số 573-TB/TU ngày 16/7/2026 của Văn phòng Thành ủy về kết luận của đồng chí Trần Đức Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy tại buổi làm việc với Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.
  • Khởi động Cuộc thi sáng tác Ca khúc và Logo về phường Mường Thanh năm 2026
    Ban tổ chức mong muốn thu hút, khuyến khích đội ngũ nhạc sĩ, họa sĩ chuyên nghiệp lẫn không chuyên trên toàn quốc đóng góp tài năng, trí tuệ. Từ đó, địa phương sẽ lựa chọn được một biểu trưng chính thức cùng những ca khúc tiêu biểu mang tính khái quát cao, phản ánh chân thực bản sắc độc đáo và dòng chảy phát triển của phường.
  • Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
    Các nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý... trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm cùng các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại TP Huế.
  • Vinh danh 23 tấm gương “Người tốt, việc tốt” tiêu biểu trên địa bàn thành phố Hà Nội
    Thành phố Hà Nội trao tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt” cho 23 cá nhân xuất sắc thuộc ba cơ quan, đơn vị gồm: Sở Y tế thành phố Hà Nội; Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội.
  • Phường Sơn Tây: Nhiều hoạt động ý nghĩa lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”
    Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Đảng bộ, chính quyền, MTTQ Việt Nam phường Sơn Tây (TP Hà Nội) tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, thể hiện và lan tỏa đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cũng như người Hà Nội thanh lịch, văn minh nói riêng.
  • Từ một lần lạc đường đến một tình yêu Hà Nội
    Tôi nhớ Hà Nội không phải bởi những danh thắng nổi tiếng hay những con phố cổ rêu phong, mà bởi một lần lạc đường của tuổi sinh viên. Ngày ấy, giữa thành phố xa lạ, khi loay hoay tìm lối đi, tôi đã gặp những con người bình dị với cách ứng xử nhẹ nhàng, lịch thiệp và đầy thiện ý. Chính những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi ấy đã giúp một cậu sinh viên miền Trung hiểu rằng, vẻ đẹp của Hà Nội không chỉ nằm ở cảnh sắc mà còn hiện hữu trong sự tử tế của những người đang sống nơi đây.
  • Hương vị mùa hè Hà Nội
    Những ngày giữa mùa hè, tôi tạm gác lại việc giảng dạy, theo bạn bè đi du ngoạn Cửu Trại Câu. Vùng đất này khi bước vào hè đẹp như một thế giới cổ tích giữa núi rừng Tây Tứ Xuyên. Bản thân tôi vốn yêu thiên nhiên nên cứ thế đi miên man giữa những hồ nước xanh ngọc bích trong veo phản chiếu bầu trời, thác nước trắng xóa đổ xuống giữa rừng nguyên sinh, phảng phất không khí mát lạnh của cao nguyên. Đi giữa Cửu Trại Câu mùa này, cảm giác như đang bước vào một bức tranh thiên nhiên khổng lồ. Chắc đó là lí do khiến nơi đây trở thành một trong những điểm đến đẹp nhất mùa hè ở Trung Quốc.
Hồi ký “Đi tìm một vì sao": Sức hấp dẫn của sự chân thực
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO