Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều" Kỳ cuối: Kiệt tác "Truyện Kiều" - giao lưu, hội nhập quốc tế

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 17/10/2020 08:27

Nếu mục đích của nghiên cứu so sánh nhằm đặt “Truyện Kiều” trong tương quan các tác phẩm xuất sắc trong nước và thế giới theo nhiều hệ hình quy chiếu khác nhau thì việc xác định quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế của “Truyện Kiều” lại bao gồm cả lịch sử phiên dịch, nghiên cứu, luận bình giá trị thi phẩm với quy mô ngày một chuyên sâu, chuyên nghiệp, phổ cập ở mức cao hơn.

Trên đường tiếp nhận

Trên đường tiếp nhận

Trên đường tiếp nhận
Một số cuốn sách nước ngoài nghiên cứu về “Truyện Kiều”. 
Ảnh: Hữu Sơn
20 thứ tiếng của 60 bản dịch

Ngay từ cuối thế kỷ XIX, “Truyện Kiều” đã được Abel des Michel dịch ra tiếng Pháp (3 tập, 1884). Điều đáng lưu ý là việc dịch “Truyện Kiều” sang các thứ tiếng có nhiều nhân duyên khác nhau: có người nước ngoài và người Việt Nam, có người nước ngoài từng ở Việt Nam và có người hoàn thành bản dịch khi chưa đặt chân đến nước Việt, có người trực dịch từ tiếng Việt và có người dịch qua ngôn ngữ khác (chủ yếu từ bản tiếng Pháp). Lại nữa, có người dịch vì ngẫu nhiên được giới thiệu, tiếp xúc với một truyện thơ hay; có người qua gợi ý của nhà chính trị, đồng nghiệp, bạn bè; có bản dịch độc lập, theo sự cộng tác song phương hoặc nhiều người. Thêm nữa, có người dịch “Truyện Kiều” khi còn rất trẻ, có người hoàn thành bản dịch khi đã mãn chiều xế bóng, có bản dịch in ở Việt Nam và có bản dịch in ở nước ngoài, có bản in đơn ngữ và loại song ngữ. 

Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến nay kiệt tác “Truyện Kiều” đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng với trên 60 bản dịch khác nhau và xuất bản ở các nước   Anh, Ả Rập, Ba Lan, Bungari, Đức, Hàn Quốc, Hunggari, Hy Lạp, Lào,  Mông Cổ, Nga, Nhật Bản, Pháp, Phần Lan, Rumani, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thụy Điển, Trung Quốc,... Nhiều thứ tiếng có số bản dịch phong phú: Anh ngữ 18 bản, Pháp 15 bản, Trung Quốc 11 bản, Nhật Bản 5 bản, Nga 2 bản… Đơn cử trường hợp bản dịch sang tiếng Đức “Das Mädchen Kiều/ Nàng Kiều” của Franz Faber (1917-2013), in lần đầu ở Berlin (Cộng hòa Dân chủ Đức) vào năm 1964 (tái bản vào các năm 1976, 1980, 2000 và in song ngữ Việt - Đức tại Việt Nam năm 2015). Cơ duyên của việc dịch này bắt đầu từ cuối năm 1954 khi Franz Faber sang Việt Nam công tác. Trước ngày ra về, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cuốn “Truyện Kiều” song ngữ Việt – Pháp kèm theo câu nói tựa như một lời đề nghị, khuyến khích, động viên, hy vọng: “Biết đâu anh có thể làm được một điều gì đó với cuốn sách này”. Về nước, từ một người chưa biết tiếng Việt, ông đã cùng vợ là Irene vừa học tiếng vừa nghiền ngẫm đọc hiểu, qua bảy năm thì hoàn thành việc dịch toàn văn “Truyện Kiều”… Điều này xác nhận vị thế và sức sống mãnh liệt của “Truyện Kiều” trong di sản tinh hoa văn học nhân loại và khả năng đồng cảm, lan toả, tiếp nhận sâu rộng trong thế giới hiện đại.

Bên cạnh hoạt động dịch thuật và nỗ lực giới thiệu, quảng bá của các thế hệ người Việt trong và ngoài nước cần đặc biệt chú ý đến thành tựu nghiên cứu của các nhà Việt học người nước ngoài về “Truyện Kiều” trong hơn một thế kỷ qua. Nhìn chung, họ là những nhà Việt học uy tín, am hiểu tiếng Việt và nền văn hoá Việt, am hiểu “Truyện Kiều” và các hiện tượng truyện thơ tương đồng ở phương Đông và thế giới.

Tinh thần đặc biệt của nước Nam

Trên tư cách người dịch “Truyện Kiều”, Abel des Michels (1833-1918) đã giới thiệu khái lược 5 phương diện so sánh: tương quan “Truyện Kiều” và “Kim Vân Kiều”, ngôn ngữ “Truyện Kiều” và ngữ liệu Trung Hoa, chữ Nôm tiếng Việt Bắc Bộ và Nam Bộ, phổ văn hóa phương Đông của “Truyện Kiều” và sự khác biệt Âu châu, từ đó nhấn mạnh hiện trạng ẩn dụ ngôn ngữ “Truyện Kiều” “chúng hoàn toàn đối nghịch với tinh thần các ngôn ngữ châu Âu” (1884)… So sánh hệ thống và trực diện hơn, René Crayssac (1883-1940) trước hết biện luận về vấn đề Nguyễn Du dựa theo “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân cũng tương tự như Molière soạn hài kịch “Người keo lận” (L’Avare) lấy từ “Aulularia” (Truyện cái nồi) của nhà soạn kịch La Mã Plôt; Raxiz soạn kịch cũng lấy truyện của Hy Lạp, La Mã, Do Thái; kịch Coócnây lấy tích từ Tây Ban Nha, La Phôngten bắt chước truyện Esore và đi đến xác định: “Phàm xét văn chương không cần phải xét rằng sự tích là mượn của ngoài hay là tự tác giả đặt ra, chỉ nên xét rằng tác giả kết cấu truyện ấy ra tiếng nước mình có thêm được cái đặc sắc gì không, có hóa theo được cái tinh thần của Tổ quốc mình không. Nay “Truyện Kiều” của cụ Nguyễn Du thật là có cái tinh thần đặc biệt của nước Nam ở đó”… đến tiếp tục so sánh và đối sánh các phương diện đạo đức, tôn giáo, tập quán, quan niệm chữ hiếu, hôn nhân, sắc dục, từ đó nhấn mạnh cả những nét tương đồng của thuyết nghiệp báo, nhân quả trong miêu tả nhân vật: “Mã Giám Sinh, gã buôn người, là một nhân vật cũng giống như Letellier hay là Philiberl trong tiểu thuyết Tây, thường ăn mặc chải chuốt điếm đót”; hoặc tương đồng trong ứng xử về đạo hiếu, ái tình và nghĩa vụ: “Không nói gì xa xôi cho lắm, nói ngay về thời đại ông Coócnây, và thử xét các hài kịch của ông xem. Phần nhiều các bài ấy, cốt truyện là thế nào? Là ở ái tình và nghĩa vụ xung đột nhau. Chàng Lộ Địch (Rôđrigơ) phải chọn một bên là lòng thương yêu nàng Chí Miên (Simen), một bên là nghĩa báo thù cho cha mình, cũng là bên hiếu bên tình phải quyết xem bên nào nặng hơn, há chẳng phải là anh em đồng bệnh với cô Kiều nước Nam đó dư?”, đồng thời xác định: “Cụ Nguyễn Du có ngọn bút tả cảnh rất tài, trong truyện có vô số những bức tranh nho nhỏ xinh xinh, nét vẽ vừa thanh tao mà vừa diễm lệ. Chỉ mấy nét bút, chỉ vài bốn câu thơ mà vẽ nên phong cảnh rất có khí sắc và rất có cảm tình, giống như lối thơ hai kai của Nhật Bản mà có ý tinh tế hơn… “Truyện Kiều” thật là một nền quốc văn hoàn toàn của nước Nam. Trong suốt văn chương nước Pháp, dễ không có một tập thơ văn nào phổ thông trong dân gian bằng “Truyện Kiều” ở nước Nam. Thật không có một người An Nam nào bất cứ sang hay hèn, giàu hay nghèo, mà lại không biết đến Truyện Kiều” (Truyện Kiều và xã hội Á Đông, 1926).

Nhà Việt Nam học người Nga N.I. Nikulin đi sâu lý giải: “Trong thiên trường ca của Nguyễn Du cũng có những mô-típ định mệnh chủ nghĩa. Theo ý nhà thơ, nguyên nhân đầu mối của những nỗi gian truân của Kiều là chữ mệnh, là cái "karma". Song điều đó không hề cản trở nhà thơ phản ánh một cách hiện thực cuộc sống và tính quy luật của nó. Các lực lượng huyền bí không hề can dự tới quá trình diễn biến của các sự việc trong thiên trường ca, nó chỉ là một phương tiện để tác giả giải thích nguyên nhân các nỗi thống khổ của nàng Kiều. Cách giải thích này chủ quan, võ đoán và không được cuộc sống hiện thực phản ánh trong tác phẩm xác nhận. Vì cũng cùng những sự việc ấy mà nhìn nhận theo một quan điểm khác thì có thể đưa ra một cách giải thích đúng đắn, duy vật. Trung thành với sự thật trong cuộc sống - đó là một thắng lợi lớn của khuynh hướng hiện thực vốn có trong bản chất của thiên trường ca “Đoạn trường tân thanh và toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du” (Nguyễn Du - nhà thơ nhân đạo lỗi lạc, 1971)… 

Hơn thế nữa, xúc cảm từ Nguyễn Du và “Truyện Kiều”, nhiều nhà thơ thế giới đã biết đến Thúy Kiều, làm thơ về Thúy Kiều và Việt Nam với tất cả niềm trân trọng, mến yêu. Đơn cử mấy câu thơ của nhà thơ Hunggari H. Andrasơ (1953-1992): Anh đừng nói: Trời cao/ Xin hãy nói: Màn xanh trùm bể khổ/... Anh đừng nói: Suối vàng/ Xin hãy nói: Tơ đời không thể dứt (Từ những điều Nguyễn Du dạy, 1984)...

Bước sang thiên kỷ 21, tiếp tục xuất hiện các công trình nghiên cứu về “Truyện Kiều” mới mẻ của nhiều nhà Việt học trên thế giới như K.C. Leung (Australia), Trần Ích Nguyên (Đài Loan), Yang Soo Bae, Ahn Kyong Hwan, Park Hyun Kyu (Hàn Quốc), Bountheng Souksavatd (Lào), Sonom-Ish Dashtsevel (Mông Cổ), Jaipal Tuttle, John Swensson (Mỹ), V.P. Larin, V.V. Remartruc, M. Tkatrov, A.A. Sokolov, V. Popov (Nga), Kawaguchi Kenichi, Nohira Munehiro, Sato Seiji, Kuroda Yoshiko, Kuroda Yoshiko (Nhật Bản),  Alain Guillemin (Pháp), Jan Komárek (Séc), Nhan Bảo, Lưu Chí Cường, Triệu Ngọc Lan,  La Trường Sơn, Lô Uý Thu (Trung Quốc),…  

Thay cho lời kết, xin dẫn lại tư liệu và bình luận của nhà nghiên cứu Bùi Mạnh Nhị về tầm vóc quốc tế và ý nghĩa “Truyện Kiều” trong mối quan hệ Việt - Mỹ: “Trở lại vấn đề “Truyện Kiều” trong diễn văn của các tổng thống Mỹ, đến nay những người đứng đầu nước Mỹ đã ba lần sử dụng tác phẩm vĩ đại này trong những bối cảnh trân trọng đặc biệt. Lần thứ nhất, trong diễn văn đáp từ của Tổng thống Bill Clinton tại cuộc chiêu đãi trọng thể của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tối 17/11/2000. Lần thứ hai, trong diễn văn của Phó tổng thống Mỹ Joe Binden, thay mặt Tổng thống Barack Obama chủ trì, tại buổi tiệc trưa ngày 7/7/2015 chiêu đãi trọng thể Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn đại biểu Việt Nam tại Nhà Trắng. Và, lần thứ ba, Tổng thống Barack Obama trích dẫn Truyện Kiều trong bài phát biểu trước 2.000 người Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ngày 25/5/2016… “Truyện Kiề”u của Nguyễn Du từ một tác phẩm nghệ thuật đã bước vào vũ đài chính trị (…) để nối con người, nối các dân tộc với nhau” (2018)…
(0) Bình luận
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
  • Đôi mắt xuyên bão
    Buổi sáng đầu thu, gió vương chút lạnh và lá trên hàng sấu trước cửa văn phòng Hương bắt đầu úa vàng. Hương pha một ấm trà sen. Thói quen ấy cô đã giữ suốt bao năm cho dù cô chẳng nghiện.
  • Chuyện người đàn bà
    Chín năm về trước, vào khoảng chiều tối, anh phó công tố viên Py-ốt-tơ-rơ Xia-rơ-dếch và tôi ngồi xe ngựa băng qua đồng cỏ đang mùa phơi để đưa mấy lá thư từ trạm về.
  • Sau bão
    Tiếng ấm đun sôi ùng ục. Chị toan mở nắp, chợt nghe có tiếng bước chân. Lại thế. Bà Thịnh giật lấy quả trứng khỏi tay chị. Bà miết ngón trỏ lên vỏ trứng nhẵn bóng như muốn truyền vào đó một thứ nôn nóng khó tả, rồi đập vỡ bằng cái bực dọc đang hừng hực dâng lên. Chẳng ai được ăn quá hai quả trong tuần. “Mì còn dư, lại muốn trương ra rồi húp?” - bà liếc sắc lẹm, ánh nhìn như lưỡi móc câu thọc thẳng vào miệng cá.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
    Sáng 20/1, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chính thức khai mạc với sự tham dự của 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên trên cả nước. Tại phiên khai mạc, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã trình bày Báo cáo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Tạp chí Người Hà Nội trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo.
  • Thủ đô Hà Nội với sứ mệnh tiên phong, sẵn sàng hiện thực hóa tầm nhìn Đại hội XIV của Đảng
    Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Duy Ngọc đã trả lời phỏng vấn Báo Hànộimới về những thành tựu nổi bật của Hà Nội trong nhiệm kỳ qua, đồng thời khẳng định trách nhiệm chính trị tiên phong của Thủ đô trong việc quán triệt và cụ thể hóa tầm nhìn, định hướng chiến lược của Trung ương. Với phương châm “Kỷ cương, chuyên nghiệp - Đột phá, sáng tạo - Hiệu quả, bền vững”, Hà Nội xác định quyết tâm hành động mạnh
  • Trung tâm Hội nghị Quốc gia sẵn sàng cho Đại hội XIV của Đảng
    Hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nhiều tuyến phố và không gian công cộng tại Hà Nội được trang hoàng rực rỡ cờ hoa, pano, áp phích, thể hiện niềm tin, kỳ vọng và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
  • Nhân dân Thủ đô hướng về Đại hội XIV của Đảng
    Trong không khí trang nghiêm và xúc động, nhân dân Thủ đô Hà Nội theo dõi truyền hình trực tiếp phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng, gửi gắm niềm tin, kỳ vọng vào những quyết sách chiến lược, mở ra chặng đường phát triển mới cho đất nước và Thủ đô Hà Nội.
  • Thông cáo báo chí phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
    Sáng 20/1/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khai mạc tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội.
Đừng bỏ lỡ
  • Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Đình Khang: Chăm lo, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh
    Đại hội Đảng lần thứ XIV là sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa định hướng chiến lược cho sự phát triển của đất nước. Đối với giai cấp công nhân, Đại hội được kỳ vọng sẽ tiếp tục xác định rõ những định hướng lớn nhằm gắn giai cấp công nhân với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội... Trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIV, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Đình Khang đã chia sẻ với phóng viên báo Lao động về việc chăm lo, xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh vì sự phát triển của
  • Thông cáo báo chí phiên trù bị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
    Sáng 19/1/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam họp phiên trù bị tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội.
  • Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII hiệu quả, tạo đà phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
    Đánh giá thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh, trong bối cảnh rất nhiều khó khăn, thách thức, với ý chí, khát vọng phát triển, kiến tạo tương lai, tư duy đổi mới, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII. Đảng ta vững vàng lãnh đạo đất nước tiếp tục đạt được những kết quả rất quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật.
  • Hà Nội trang hoàng rực rỡ chào mừng Đại hội XIV của Đảng
    Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19 đến 25/1, không khí chào mừng thể hiện rõ qua hệ thống cờ, băng rôn, panô, áp phích... được bố trí đồng bộ trên các tuyến phố và khu dân cư.
  • Khai mạc chương trình "Tết Việt - Tết Phố" 2026
    Sáng 17/1, tại Trung tâm Văn hóa nghệ thuật (số 22 Hàng Buồm, Hà Nội), hoạt động văn hóa mừng Đảng, mừng xuân Bính Ngọ 2026 với chủ đề “Tết Việt - Tết Phố” đã chính thức khai mạc, đưa công chúng và du khách trở lại không gian Tết truyền thống trong lòng khu phố cổ và khu vực hồ Hoàn Kiếm.
  • Đưa các loại hình nghệ thuật chất lượng, giàu giá trị thẩm mỹ đến gần hơn với đông đảo công chúng
    Tiếp nối thành công và sức lan tỏa tích cực từ chương trình "Âm nhạc cuối tuần", Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội tiếp tục giới thiệu tới công chúng Thủ đô chương trình "Tạp kỹ cuối tuần", diễn ra vào lúc 19h30 ngày 18/1, hứa hẹn mang đến một không gian nghệ thuật đa sắc, gần gũi và giàu tính trải nghiệm.
  • Điểm đến tiếp cận di sản văn chương của nhà văn Tô Hoài giữa lòng Hà Nội
    Với hàng trăm hiện vật, tư liệu, hình ảnh và tác phẩm gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp cầm bút của nhà văn Tô Hoài (1920 – 2014), Nhà lưu niệm nhà văn Tô Hoài (số 21B ngõ Đoàn Nhữ Hài, phường Cửa Nam, TP. Hà Nội) hứa hẹn là điểm đến văn hóa dành cho công chúng tiếp cận di sản văn chương của nhà văn Tô Hoài.
  • Hòa nhịp với "Ngẫu hứng Tây nguyên" cùng "Âm nhạc cuối tuần" chiều ngày 18/1
    Chiều Chủ nhật ngày 18/1, "Âm nhạc cuối tuần" tiếp tục mở ra một cuộc hẹn âm nhạc mới, nơi jazz trở thành ngôn ngữ chung kết nối con người với không gian đô thị. Bên cạnh các tác phẩm quốc tế, điểm nhấn của buổi biểu diễn là những sáng tác và ca khúc gắn với Việt Nam như "Hà Nội mùa vắng những cơn mưa" với phần solo saxophone và "Ngẫu hứng Tây Nguyên", cho thấy khả năng kết hợp giữa jazz với âm hưởng truyền thống.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Tiếng “tút tút” cuối cùng (Kỳ 2)
    Xóm Tìm nằm nép mình bên dòng sông Trà Lý, nơi bầu trời dường như sà xuống thấp hơn, và mùi bùn non cứ thế quyện vào hơi thở, vào máu thịt của những người dân lam lũ. Ở cái xóm nhỏ ven đê này, mỗi buổi sáng, vào lúc sáu giờ, một chuỗi âm thanh quen thuộc “tút tút…” lại vang lên từ chiếc loa truyền thanh của xã đặt trên đỉnh cột làm từ một cây xoan già.
  • Ra mắt Không gian văn hóa Trấn Vũ quán
    Phường Ba Đình đã ra mắt Không gian văn hóa - Trấn Vũ quán tại di tích đền Quán Thánh, sự kiện càng có ý nghĩa hơn khi Thủ đô đang tràn ngập không khí vui tươi của những ngày đầu năm mới, chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và chuẩn bị đón Tết cổ truyền của dân tộc
Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều" Kỳ cuối: Kiệt tác "Truyện Kiều" - giao lưu, hội nhập quốc tế
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO