Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều" Kỳ cuối: Kiệt tác "Truyện Kiều" - giao lưu, hội nhập quốc tế

PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn| 17/10/2020 08:27

Nếu mục đích của nghiên cứu so sánh nhằm đặt “Truyện Kiều” trong tương quan các tác phẩm xuất sắc trong nước và thế giới theo nhiều hệ hình quy chiếu khác nhau thì việc xác định quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế của “Truyện Kiều” lại bao gồm cả lịch sử phiên dịch, nghiên cứu, luận bình giá trị thi phẩm với quy mô ngày một chuyên sâu, chuyên nghiệp, phổ cập ở mức cao hơn.

Trên đường tiếp nhận

Trên đường tiếp nhận

Trên đường tiếp nhận
Một số cuốn sách nước ngoài nghiên cứu về “Truyện Kiều”. 
Ảnh: Hữu Sơn
20 thứ tiếng của 60 bản dịch

Ngay từ cuối thế kỷ XIX, “Truyện Kiều” đã được Abel des Michel dịch ra tiếng Pháp (3 tập, 1884). Điều đáng lưu ý là việc dịch “Truyện Kiều” sang các thứ tiếng có nhiều nhân duyên khác nhau: có người nước ngoài và người Việt Nam, có người nước ngoài từng ở Việt Nam và có người hoàn thành bản dịch khi chưa đặt chân đến nước Việt, có người trực dịch từ tiếng Việt và có người dịch qua ngôn ngữ khác (chủ yếu từ bản tiếng Pháp). Lại nữa, có người dịch vì ngẫu nhiên được giới thiệu, tiếp xúc với một truyện thơ hay; có người qua gợi ý của nhà chính trị, đồng nghiệp, bạn bè; có bản dịch độc lập, theo sự cộng tác song phương hoặc nhiều người. Thêm nữa, có người dịch “Truyện Kiều” khi còn rất trẻ, có người hoàn thành bản dịch khi đã mãn chiều xế bóng, có bản dịch in ở Việt Nam và có bản dịch in ở nước ngoài, có bản in đơn ngữ và loại song ngữ. 

Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến nay kiệt tác “Truyện Kiều” đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng với trên 60 bản dịch khác nhau và xuất bản ở các nước   Anh, Ả Rập, Ba Lan, Bungari, Đức, Hàn Quốc, Hunggari, Hy Lạp, Lào,  Mông Cổ, Nga, Nhật Bản, Pháp, Phần Lan, Rumani, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thụy Điển, Trung Quốc,... Nhiều thứ tiếng có số bản dịch phong phú: Anh ngữ 18 bản, Pháp 15 bản, Trung Quốc 11 bản, Nhật Bản 5 bản, Nga 2 bản… Đơn cử trường hợp bản dịch sang tiếng Đức “Das Mädchen Kiều/ Nàng Kiều” của Franz Faber (1917-2013), in lần đầu ở Berlin (Cộng hòa Dân chủ Đức) vào năm 1964 (tái bản vào các năm 1976, 1980, 2000 và in song ngữ Việt - Đức tại Việt Nam năm 2015). Cơ duyên của việc dịch này bắt đầu từ cuối năm 1954 khi Franz Faber sang Việt Nam công tác. Trước ngày ra về, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cuốn “Truyện Kiều” song ngữ Việt – Pháp kèm theo câu nói tựa như một lời đề nghị, khuyến khích, động viên, hy vọng: “Biết đâu anh có thể làm được một điều gì đó với cuốn sách này”. Về nước, từ một người chưa biết tiếng Việt, ông đã cùng vợ là Irene vừa học tiếng vừa nghiền ngẫm đọc hiểu, qua bảy năm thì hoàn thành việc dịch toàn văn “Truyện Kiều”… Điều này xác nhận vị thế và sức sống mãnh liệt của “Truyện Kiều” trong di sản tinh hoa văn học nhân loại và khả năng đồng cảm, lan toả, tiếp nhận sâu rộng trong thế giới hiện đại.

Bên cạnh hoạt động dịch thuật và nỗ lực giới thiệu, quảng bá của các thế hệ người Việt trong và ngoài nước cần đặc biệt chú ý đến thành tựu nghiên cứu của các nhà Việt học người nước ngoài về “Truyện Kiều” trong hơn một thế kỷ qua. Nhìn chung, họ là những nhà Việt học uy tín, am hiểu tiếng Việt và nền văn hoá Việt, am hiểu “Truyện Kiều” và các hiện tượng truyện thơ tương đồng ở phương Đông và thế giới.

Tinh thần đặc biệt của nước Nam

Trên tư cách người dịch “Truyện Kiều”, Abel des Michels (1833-1918) đã giới thiệu khái lược 5 phương diện so sánh: tương quan “Truyện Kiều” và “Kim Vân Kiều”, ngôn ngữ “Truyện Kiều” và ngữ liệu Trung Hoa, chữ Nôm tiếng Việt Bắc Bộ và Nam Bộ, phổ văn hóa phương Đông của “Truyện Kiều” và sự khác biệt Âu châu, từ đó nhấn mạnh hiện trạng ẩn dụ ngôn ngữ “Truyện Kiều” “chúng hoàn toàn đối nghịch với tinh thần các ngôn ngữ châu Âu” (1884)… So sánh hệ thống và trực diện hơn, René Crayssac (1883-1940) trước hết biện luận về vấn đề Nguyễn Du dựa theo “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân cũng tương tự như Molière soạn hài kịch “Người keo lận” (L’Avare) lấy từ “Aulularia” (Truyện cái nồi) của nhà soạn kịch La Mã Plôt; Raxiz soạn kịch cũng lấy truyện của Hy Lạp, La Mã, Do Thái; kịch Coócnây lấy tích từ Tây Ban Nha, La Phôngten bắt chước truyện Esore và đi đến xác định: “Phàm xét văn chương không cần phải xét rằng sự tích là mượn của ngoài hay là tự tác giả đặt ra, chỉ nên xét rằng tác giả kết cấu truyện ấy ra tiếng nước mình có thêm được cái đặc sắc gì không, có hóa theo được cái tinh thần của Tổ quốc mình không. Nay “Truyện Kiều” của cụ Nguyễn Du thật là có cái tinh thần đặc biệt của nước Nam ở đó”… đến tiếp tục so sánh và đối sánh các phương diện đạo đức, tôn giáo, tập quán, quan niệm chữ hiếu, hôn nhân, sắc dục, từ đó nhấn mạnh cả những nét tương đồng của thuyết nghiệp báo, nhân quả trong miêu tả nhân vật: “Mã Giám Sinh, gã buôn người, là một nhân vật cũng giống như Letellier hay là Philiberl trong tiểu thuyết Tây, thường ăn mặc chải chuốt điếm đót”; hoặc tương đồng trong ứng xử về đạo hiếu, ái tình và nghĩa vụ: “Không nói gì xa xôi cho lắm, nói ngay về thời đại ông Coócnây, và thử xét các hài kịch của ông xem. Phần nhiều các bài ấy, cốt truyện là thế nào? Là ở ái tình và nghĩa vụ xung đột nhau. Chàng Lộ Địch (Rôđrigơ) phải chọn một bên là lòng thương yêu nàng Chí Miên (Simen), một bên là nghĩa báo thù cho cha mình, cũng là bên hiếu bên tình phải quyết xem bên nào nặng hơn, há chẳng phải là anh em đồng bệnh với cô Kiều nước Nam đó dư?”, đồng thời xác định: “Cụ Nguyễn Du có ngọn bút tả cảnh rất tài, trong truyện có vô số những bức tranh nho nhỏ xinh xinh, nét vẽ vừa thanh tao mà vừa diễm lệ. Chỉ mấy nét bút, chỉ vài bốn câu thơ mà vẽ nên phong cảnh rất có khí sắc và rất có cảm tình, giống như lối thơ hai kai của Nhật Bản mà có ý tinh tế hơn… “Truyện Kiều” thật là một nền quốc văn hoàn toàn của nước Nam. Trong suốt văn chương nước Pháp, dễ không có một tập thơ văn nào phổ thông trong dân gian bằng “Truyện Kiều” ở nước Nam. Thật không có một người An Nam nào bất cứ sang hay hèn, giàu hay nghèo, mà lại không biết đến Truyện Kiều” (Truyện Kiều và xã hội Á Đông, 1926).

Nhà Việt Nam học người Nga N.I. Nikulin đi sâu lý giải: “Trong thiên trường ca của Nguyễn Du cũng có những mô-típ định mệnh chủ nghĩa. Theo ý nhà thơ, nguyên nhân đầu mối của những nỗi gian truân của Kiều là chữ mệnh, là cái "karma". Song điều đó không hề cản trở nhà thơ phản ánh một cách hiện thực cuộc sống và tính quy luật của nó. Các lực lượng huyền bí không hề can dự tới quá trình diễn biến của các sự việc trong thiên trường ca, nó chỉ là một phương tiện để tác giả giải thích nguyên nhân các nỗi thống khổ của nàng Kiều. Cách giải thích này chủ quan, võ đoán và không được cuộc sống hiện thực phản ánh trong tác phẩm xác nhận. Vì cũng cùng những sự việc ấy mà nhìn nhận theo một quan điểm khác thì có thể đưa ra một cách giải thích đúng đắn, duy vật. Trung thành với sự thật trong cuộc sống - đó là một thắng lợi lớn của khuynh hướng hiện thực vốn có trong bản chất của thiên trường ca “Đoạn trường tân thanh và toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du” (Nguyễn Du - nhà thơ nhân đạo lỗi lạc, 1971)… 

Hơn thế nữa, xúc cảm từ Nguyễn Du và “Truyện Kiều”, nhiều nhà thơ thế giới đã biết đến Thúy Kiều, làm thơ về Thúy Kiều và Việt Nam với tất cả niềm trân trọng, mến yêu. Đơn cử mấy câu thơ của nhà thơ Hunggari H. Andrasơ (1953-1992): Anh đừng nói: Trời cao/ Xin hãy nói: Màn xanh trùm bể khổ/... Anh đừng nói: Suối vàng/ Xin hãy nói: Tơ đời không thể dứt (Từ những điều Nguyễn Du dạy, 1984)...

Bước sang thiên kỷ 21, tiếp tục xuất hiện các công trình nghiên cứu về “Truyện Kiều” mới mẻ của nhiều nhà Việt học trên thế giới như K.C. Leung (Australia), Trần Ích Nguyên (Đài Loan), Yang Soo Bae, Ahn Kyong Hwan, Park Hyun Kyu (Hàn Quốc), Bountheng Souksavatd (Lào), Sonom-Ish Dashtsevel (Mông Cổ), Jaipal Tuttle, John Swensson (Mỹ), V.P. Larin, V.V. Remartruc, M. Tkatrov, A.A. Sokolov, V. Popov (Nga), Kawaguchi Kenichi, Nohira Munehiro, Sato Seiji, Kuroda Yoshiko, Kuroda Yoshiko (Nhật Bản),  Alain Guillemin (Pháp), Jan Komárek (Séc), Nhan Bảo, Lưu Chí Cường, Triệu Ngọc Lan,  La Trường Sơn, Lô Uý Thu (Trung Quốc),…  

Thay cho lời kết, xin dẫn lại tư liệu và bình luận của nhà nghiên cứu Bùi Mạnh Nhị về tầm vóc quốc tế và ý nghĩa “Truyện Kiều” trong mối quan hệ Việt - Mỹ: “Trở lại vấn đề “Truyện Kiều” trong diễn văn của các tổng thống Mỹ, đến nay những người đứng đầu nước Mỹ đã ba lần sử dụng tác phẩm vĩ đại này trong những bối cảnh trân trọng đặc biệt. Lần thứ nhất, trong diễn văn đáp từ của Tổng thống Bill Clinton tại cuộc chiêu đãi trọng thể của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tối 17/11/2000. Lần thứ hai, trong diễn văn của Phó tổng thống Mỹ Joe Binden, thay mặt Tổng thống Barack Obama chủ trì, tại buổi tiệc trưa ngày 7/7/2015 chiêu đãi trọng thể Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn đại biểu Việt Nam tại Nhà Trắng. Và, lần thứ ba, Tổng thống Barack Obama trích dẫn Truyện Kiều trong bài phát biểu trước 2.000 người Việt Nam tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ngày 25/5/2016… “Truyện Kiề”u của Nguyễn Du từ một tác phẩm nghệ thuật đã bước vào vũ đài chính trị (…) để nối con người, nối các dân tộc với nhau” (2018)…
(0) Bình luận
  • Lời hẹn mùa xuân
    Mùa đông năm nay đến sớm. Bầy chim én sửa soạn bay về phương Nam tránh rét khi hơi sương giá bắt đầu vương trên từng nhành lá. Én Nhỏ quàng lên cổ chiếc khăn cỏ mềm ấm áp, bịn rịn chia tay một mầm xanh bé xíu đang nép mình trên cành khẳng khiu. "Hẹn gặp lại cậu khi mùa xuân đến", Én Nhỏ vẫy vẫy đôi cánh.
  • Lời thì thầm mùa xuân
    Chiều muộn, Vân bước ra cầu thang dẫn xuống tầng một, thấy căn phòng nhỏ của nhà thơ Phan Đạt nằm phía cuối hàng lang vẫn còn sáng đèn. Trong phòng ông đang có khách, Vân chỉ định ghé vào chào ông trước khi về nhưng ông đã nhanh nhẹn lấy thêm một chiếc chén, rót nước mời: “Chị vào uống trà đã”.
  • Chuyện lạ đêm giao thừa
    Bố của Duy là một nhà sáng chế. Ông rất tài giỏi và thông minh. Duy cũng thông minh nhưng lại rất ham chơi.
  • Nhà phố
    Mắt nhắm mắt mở, Thao còn nằm trên giường đã nghe tiếng cãi vã nhau oang oang. Rõ ràng Thao đóng cửa kính mà âm thanh chát chúa từ dãy nhà phía sau vẫn giội vào rát cả tai. Cái xóm phố toàn nhà bốn tầng, ô tô hạng sang vây kín khoảng đất trống, ấy thế lời tuôn ra chả kém cạnh mấy kẻ côn đồ khi xô xát. Tiếng đồ đạc vung ra sân loảng xoảng.
  • Tiếng hát trong vỏ ốc
    Đêm. Run rủi thế nào hai người phụ nữ ấy lại gặp nhau ngay trên bãi cát. Biển về khuya vắng lặng. Những cặp tình nhân thậm chí cũng đã rời đi vì gió trời bắt đầu trở lạnh. Cô đang giẫm lên dấu chân xiêu vẹo của người phụ nữ đi trước mình. Người đàn bà ấy chậm rãi từng bước, dáng đi có phần nghiêng ngả như một kẻ say.
  • Quà trung thu của ba
    Khoa đang rất vui vì lần đầu tiên được cùng ba tự tay làm đồ chơi Trung thu. Những năm trước, cậu cũng có đèn lồng, đầu lân nhưng đều là quà mẹ mua sẵn vì ba phải đi công tác. Năm nay, ba được nghỉ phép, liền rủ Khoa cùng làm đầu lân bằng tre và giấy báo cũ.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • [Podcast] Tản văn: Những mùa xuân nối tiếp
    Mùa xuân vẫn về qua cây cầu vắt ngang sông. Một khúc sông rộng đủ để những chuyến đò ngang bối rối, chênh chao. Khi không còn chở đò nữa, bóng người lái đò cứ thế xa dần, mờ dần phía cuối con đê. Bến đỗ, nẻo về ngoằn ngoèo, xa tít tắp. Ai đó còn gọi với: thầy ơi, u ơi. Chiếc lá rơi vào chiều lỗi hẹn. Quê và những mùa xuân nối tiếp làm xao động tấm chân tình.
  • “Thi dĩ ngôn chí”, tôn vinh di sản thi ca của các Hoàng đế triều Nguyễn
    Chương trình nghệ thuật “Thi dĩ ngôn chí” được dàn dựng như một câu chuyện sử thi giàu cảm xúc, tái hiện đời sống xã hội Việt Nam thế kỷ XIX dưới thời Triều Nguyễn và tôn vinh di sản thi ca của các Hoàng đế.
  • Ba tập thơ thiếu nhi mới chào mừng Ngày thơ Việt Nam 2026
    Chào mừng Ngày thơ Việt Nam lần thứ 24 năm 2026, Nhà xuất bản Kim Đồng giới thiệu tới bạn đọc ba tập thơ thiếu nhi mới: “Chuyện Mây nhỏ đi tìm Bài Thơ” của Hoa Cúc, “Có một Trái Đất phẳng trong mắt em” của Lý Thăng Long và “Thế giới đảo ngược” của Nguyễn Quỳnh Mai. Những ấn phẩm mới mang đến những vần thơ trong trẻo, giàu nhạc tính và vần điệu, mở ra một thế giới giàu tưởng tượng, đa thanh, hòa cùng nhịp sống hiện đại của trẻ.
  • Vai trò của phụ nữ trong công tác bầu cử là vô cùng đặc biệt và quan trọng
    Đó là khẳng định của ông Vũ Văn Tiến, Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng ban Tuyên giáo Cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ứng cử viên Đại biểu Quốc hội khóa XVI, trong cuộc trao đổi với PV Báo Phụ nữ Việt Nam.
  • Herbalife Việt Nam tổ chức chương trình “Xuân yêu thương” 2026
    Herbalife Việt Nam vừa triển khai chuỗi hoạt động thường niên “Xuân yêu thương” 2026 tại các Trung tâm Casa Herbalife trên toàn quốc. Chương trình có sự tham gia của các tình nguyện viên là Thành viên Độc lập và nhân viên Herbalife Việt Nam, góp phần lan tỏa tinh thần sẻ chia, chăm lo cộng đồng trong dịp đầu năm mới.
Đừng bỏ lỡ
  • “Âm nhạc cuối tuần” Ngày 8/3: Giai điệu Jazz ngọt ngào gửi lời tri ân phái đẹp
    Chiều Chủ nhật, ngày 8/3, tại Nhà Bát Giác – Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Âm nhạc cuối tuần” tiếp tục trở lại với một buổi nhạc Jazz giàu cảm xúc do NSƯT Quyền Văn Minh cùng các nghệ sĩ Bình Minh Jazz Club biểu diễn. Đặc biệt, chương trình tuần này diễn ra đúng dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3), mang đến những giai điệu ngọt ngào như một lời tri ân tinh tế dành cho phái đẹp.
  • Hoa ban nở rộ trên đường Hoàng Diệu thu hút người dân tới check-in
    Những ngày đầu tháng Ba, khi tiết trời Hà Nội bắt đầu ấm dần sau những đợt mưa phùn cuối xuân, hoa ban lại nở rộ trên nhiều tuyến phố, nhuộm sắc trắng dịu dàng lên không gian Thủ đô. Chỉ kéo dài trong vài tuần ngắn ngủi, mùa hoa ban nhanh chóng trở thành điểm hẹn của người dân và du khách, tạo nên những khung cảnh nhộn nhịp trên các con phố vốn quen thuộc.
  • [Infographic] Đồng chí Phạm Tuấn Long ứng cử đại biểu HĐND TP Hà Nội khóa XVII tại đơn vị bầu cử số 1
    Theo Quyết định số 50/QĐ-UBBC của Ủy ban Bầu cử Thành phố Hà Nội, đồng chí Phạm Tuấn Long - Thành ủy viên, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hà Nội là 1 trong 5 ứng cử viên ứng cử Đại biểu HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tại đơn vị bầu cử số 1, gồm các phường: Hoàn Kiếm, Cửa Nam. Ngày 15/3/2026 (Chủ nhật), cử tri cả nước sẽ đi bầu ĐBQH khóa khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031.
  • Hà Nội vào top 50 thành phố đẹp nhất thế giới
    Condé Nast Traveler cho rằng, dù Hà Nội đang trải qua quá trình đô thị hóa nhanh chóng, thành phố vẫn giữ được “tâm hồn lãng mạn” và chiều sâu văn hóa – yếu tố làm nên bản sắc riêng, khác biệt so với nhiều đô thị lớn trong khu vực.
  • “Cẩm nang Bầu cử” hỗ trợ cử tri phường Ba Đình tiếp cận thông tin dễ dàng
    Hướng tới Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Ba Đình đã ra mắt sản phẩm truyền thông số mang tên “Cẩm nang Bầu cử” cùng các video AI hướng dẫn quy định bỏ phiếu và tiêu chuẩn đại biểu.
  • Phường Phú Thượng phát huy dân chủ trước ngày bầu cử
    Hướng tới Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031, các tổ dân phố trên địa bàn phường Phú Thượng đã đồng loạt tổ chức hội nghị tọa đàm, mạn đàm về cơ cấu, tiêu chuẩn đại biểu, danh sách và tiểu sử người ứng cử.
  • Trưng bày giới thiệu những di sản tư liệu quý trong không gian “Thưởng lãm Châu phê - Lưu dấu Mộc bản”
    Chuyên đề diễn ra trong 3 ngày (từ 3-5/3), mang đến cơ hội hiếm có để công chúng tận mắt chiêm ngưỡng những nét châu phê cùng lời chúc hanh thông, dấu triện cát tường của các vị Hoàng đế triều Nguyễn còn được bảo tồn nguyên vẹn trên Châu bản và Mộc bản triều Nguyễn – những tài liệu gốc có giá trị đặc biệt về lịch sử, pháp lý và văn hóa.
  • [Infographic] Đồng chí Phùng Thị Hồng Hà ứng cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND TP Hà Nội nhiệm kỳ 2026-2031
    Cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ diễn ra ngày 15/3/2026. Đồng chí Phùng Thị Hồng Hà, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội - Phó Bí thư Đảng ủy các cơ quan Thành phố Hà Nội, Bí thư Đảng ủy HĐND Thành phố Hà Nội, Chủ tịch HĐND Thành phố Hà Nội ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI (đơn vị bầu cử số 4) và đại biểu HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII (đơn vị bầu cử số 13), nhiệm kỳ 2026 - 2031.
  • Ra mắt tiểu thuyết “Thành thị - Ký ức di truyền”
    Tri Thức Trẻ Books phối hợp cùng NXB Văn học vừa ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Thành thị - Ký ức di truyền” của tác giả Tử Ảnh. Tác phẩm mang màu sắc hiện thực huyền ảo, đan xen yếu tố kinh dị, đặt thành phố vào vị trí một “cơ thể sống” - nơi lưu giữ ký ức, thương tích và những bí mật chưa từng được gọi tên.
  • Lễ hội đền Và xuân Bính Ngọ: Gìn giữ di sản văn hóa, gắn kết Nhân dân đôi bờ sông Hồng
    Sáng 3/3 (tức 15 tháng Giêng năm Bính Ngọ) nghi lễ quan trọng nhất trong kỳ chính hội Đền Và (phường Sơn Tây, TP. Hà Nội) - lễ rước long ngai bài vị Tam vị Đức Thánh Tản sang Đền Ngự Dội (xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ) được tổ chức long trọng với sự tham gia của nhân dân các làng: Vân Gia, Nghĩa Phủ, Mai Trai, Thanh Trì, Ái Mỗ, Phú Nhi, Phù Sa trước đây (nay là 7 tổ dân phố của phường Sơn Tây) cùng thôn Duy Bình, xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ.
Trên đường tiếp nhận "Truyện Kiều" Kỳ cuối: Kiệt tác "Truyện Kiều" - giao lưu, hội nhập quốc tế
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO