Trăn trở về văn hóa - văn nghệ dân gian

arttime| 17/02/2022 10:47

Văn hoá, văn nghệ nói chung và những người làm văn hóa, văn nghệ dân gian nói riêng đang đứng trước những thách thức không nhỏ với những vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc ra sao? Bảo tồn và phát triển như thế nào? Hội nhập với thế giới đến đâu, ở trình độ như thế nào?

Đặc thù của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam là một hội của những người sưu tầm, nghiên cứu, giảng dạy văn hoá, văn nghệ dân gian trong cả nước. Hội được thành lập năm 1967 giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở giai đoạn vô cùng ác liệt. Chính vì vậy, khi nghe tin Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam được thành lập, báo chí phương Tây, cụ thể là đài BBC đã đưa tin đại ý nói rằng trong khi bận bịu vì cuộc chiến gay go như vậy mà cộng sản Bắc Việt vẫn coi trọng việc giữ gìn văn hoá, chứng tỏ họ đã biết khai thác tiềm năng văn hoá cho cuộc kháng chiến cứu nước.

Thực tế đã chứng minh điều đó khi cả nước ra mặt trận, văn nghệ sĩ cũng là chiến sĩ, như một nhà thơ đã viết “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” để có một thắng lợi vẻ vang năm 1975. Từ đó đến nay, sự bùng nổ của văn hoá dân tộc và những thành tựu thu được của văn hoá, văn nghệ dân gian đã góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước.

anh-bai-duoit8-1644368357.jpeg

Từ việc sưu tầm được hàng ngàn tác phẩm văn hoá nghệ thuật của 54 dân tộc anh em sống trên dải đất Việt Nam, góp phần vào việc bảo tồn, lưu giữ được các giá trị văn hoá, nghệ thuật độc đáo và đa dạng của các dân tộc không bị mất đi, giúp cho sự phát triển văn hoá ngày nay. Qua đó góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, phát triển du lịch, thu hút khách quốc tế đem lại nguồn lợi kinh tế cho đất nước. 

Tuy nhiên, đứng trước sự bùng nổ của mạng internet toàn cầu và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, văn học nghệ thuật nói chung, văn hoá, văn nghệ dân gian nói riêng đang đối mặt với những tác động vô cùng mạnh mẽ, đặc biệt là nguy cơ mai một văn hoá dân tộc, xuống cấp đạo đức và các giá trị nhân bản của cha ông để lại. Những điều đó đã gây nên bức xúc cho nhân dân, cho lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tất cả những nhà nghiên cứu, quản lý trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật.

Hiện tại chúng ta đang đứng trước những thách thức về nhiều mặt.

Về mặt tổ chức ở các địa phương, ở góc độ Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, chúng tôi thấy, tình trạng hiện nay lớp trẻ không mặn mà với văn hoá dân gian. Việc tham gia hội của họ rất ít. Số hội viên lớn tuổi có sự say mê làm việc và có kinh nghiệm, nhưng sức khoẻ lại không cho phép. Do đó phần lớn chỉ làm những công việc tổng kết hay hệ thống lại những tư liệu đã cũ. Một số hội viên lớn tuổi có sự không tin tưởng các hội viên trẻ nên không ủng hộ việc kết nạp lớp trẻ. Do vậy mối quan hệ làm việc của họ có những bất cập.

Hội Văn nghệ dân gian là hội của những người sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy văn hoá văn nghệ dân gian, nên đòi hỏi ở những nhà sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy cần có kinh nghiệm, có trình độ nên số lượng đó ở các địa phương không nhiều. Nghề này lại cần có sự đào tạo chuyên môn và mất thời gian, nên ít người muốn tham gia. Hội trung ương do kinh phí hàng năm eo hẹp nên việc tổ chức tập huấn, trại viết, hội thảo, tài trợ sưu tầm nghiên cứu có hạn, không khuyến khích được các hội viên địa phương làm việc. Hầu hết những hội viên sưu tầm lại là những người nghiệp dư, điều kiện kinh tế khó khăn, lại là những người cao tuổi, làm việc vì say mê là chính.

Đối với các nhà nghiên cứu, chủ yếu là những người đã nghỉ làm việc tại cơ quan nhà nước, đời sống không cao nên điều kiện làm việc không tốt, lại không có tài trợ nên càng khó khăn. Vấn đề hỗ trợ cho các văn nghệ sĩ khó khăn chưa bao quát hết được những người khó khăn thật sự, bởi đa số họ là những người không được giải thưởng Nhà nước, bởi vậy xảy ra tình trạng nhiều văn nghệ sĩ có nhiều đóng góp nhưng do không có Giải thưởng Nhà nước hay Giải thưởng Hồ Chí Minh nên không được nhận sự tài trợ, giúp đỡ.

Đối với các thành phố lớn, ngoài một số trung tâm nghiên cứu và trường đại học, thì hội viên cao tuổi đang dần dần vắng bóng, số người trẻ, do sự khắc nghiệt của kinh tế thị trường làm cho họ không mặn mà với việc theo học các ngành khoa học xã hội nói chung, văn hóa nói riêng, bởi ra trường không xin được việc làm. Vì thế, đầu vào ngày một ít đi, người cũ dần vắng bóng, đầu ra ít ỏi nên số hội viên trẻ, say sưa, nhiệt huyết và có tâm với văn hoá, văn nghệ dân gian ngày càng ít, nguy cơ thế hệ kế cận ngày một suy giảm.

Đó là thực tế về mặt tổ chức, hoạt động và hội viên của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam. Còn nhìn rộng ra chung trong xã hội liên quan đến các lĩnh vực trong Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật chúng ta, chúng tôi thấy còn một số những thách thức như sau:

Một thách thức của toàn cầu hoá hiện nay là việc một bộ phận lớn thanh niên muốn chạy theo luồng văn hoá mới từ bên ngoài vào. Do bản lĩnh còn chưa vững vàng nên dễ bị tiêm nhiễm và đua đòi, ăn chơi nên bỏ quên, thậm chí coi thường văn hoá dân tộc, làm cho văn hoá dân tộc mất chỗ đứng trong bản thân họ và nguy hiểm hơn là đôi khi họ quay mặt lại với văn hoá truyền thống.

Đây cũng là một lỗi của các thế hệ đi trước trong giai đoạn bao cấp, kinh tế khó khăn vì mải mê đi kiếm sống nên lơ là với việc giáo dục con cái, nên khi nhận ra thì đã muộn. Có một vấn đề nữa là trong tâm thức của thế hệ đi trước, theo truyền thống cứ nghĩ rằng “trăng đến rằm trăng tròn” nên cũng có phần chủ quan, không uốn nắn từ lúc còn trẻ, giống như cái cây, đến khi đã lớn nếu uốn không cẩn thận thì gãy. Đây chính là vai trò của văn hoá gia đình, cộng đồng làng và các tổ chức phi quan phương, những bộ phận vô cùng quan trọng của văn hoá dân gian Việt Nam, để đến bây giờ truyền thống bị thách thức.

Thách thức của kinh tế thị trường đối với văn hoá truyền thống cũng là một vấn đề nan giải. Do mục đích kinh tế, vì lợi nhuận mà làm biến dạng những di sản truyền thống. Đó là việc khai thác những chi tiết, khía cạnh giật gân, trần tục của văn hoá truyền thống, vốn không phải thực chất là như vậy trong những sinh hoạt của cha ông ta ngày xưa ví như những bức phù điêu khoả thân, những phong tục mang tín ngưỡng phồn thực hay những thực hành tín ngưỡng mang tính “mật khẩn” tức là chỉ làm ở chỗ kín và chỉ một số người được tham dự với tính chất nghi lễ như việc chém lợn, đâm trâu... Hoặc những nghi lễ có tính biểu tượng như phát ấn, cho lộc…, nhưng được người đời nay coi như đó là thứ đem lại sự giàu sang, may mắn nên xảy ra mua bán, tranh cướp làm mất hết những giá trị văn hoá của nó. Nhiều giá trị văn hoá truyền thống bị hiểu sai lệch và dẫn đến những thực hành thiếu văn hoá, gây ra những phản cảm trong xã hội hiện đại.

Một thách thức khác đối với văn hoá đó là tốc độ đô thị hoá, hiện đại hoá diễn ra ở tất cả mọi nơi. Tấc đất tấc vàng nên không gian của đình, đền, chùa, miếu và những di sản khác bị lấn chiếm, thôn tính một cách không thương tiếc. Nhiều di sản vật thể bị phá huỷ kéo theo nó là các di sản phi vật thể cũng đi theo. Thêm nữa, do không có sự quy hoạch trước hoặc có quy hoạch nhưng do lợi ích kinh tế quá lớn nên người ta cố tình phá huỷ các di sản văn hoá trên những khu đất đã được quy hoạch xây dựng, nên từng ít, từng ít một di sản bị biến mất. 

Một vấn đề có ảnh hưởng khá lớn đến việc phát triển văn học nghệ thuật nói chung, văn hoá văn nghệ dân gian nói riêng đó là nguồn kinh phí tài trợ của nhà nước. Trong suốt 35 năm qua từ khi Đổi Mới, nhà nước đã tạo điều kiện cho văn học nghệ thuật một nguồn lực kinh phí, tuy nhiên do điều kiện khó khăn của đất nước nên nguồn kinh phí đó còn rất hạn hẹp. Vì thế, các hoạt động như hội thảo, trại viết, triển lãm, trại sáng tác… của tất cả các hội trong Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật, với Hội Văn nghệ dân gian là sưu tầm, nghiên cứu, tập huấn, tài trợ… đều bị hạn chế. Do đó, mặt bằng tri thức và việc phổ biến các kinh nghiệm, kĩ năng nghề nghiệp của các hội đều bị hạn chế.

Trong khi nền kinh tế còn khó khăn thì việc khai thác các nguồn tài trợ từ các nhà hảo tâm, các mạnh thường quân, doanh nghiệp còn chưa có nhiều, do vậy chủ yếu vẫn nhờ kinh phí của Nhà nước. Vẫn biết rằng không nên đòi hỏi giữa lúc đất nước còn nghèo, song rất cần những bước đi trước, tầm nhìn xa, bởi vì nhiều giá trị văn hoá, nhất là văn hoá truyền thống sẽ mất đi trước khi đất nước giàu lên, mà khi giàu rồi thì không thể nào có lại được. Tài sản đó là các nghệ nhân, những di sản phi vật thể, vật thể… cần phải có chiến lược khai thác, lưu giữ nó càng sớm càng tốt trong bối cảnh hiện nay.

Vậy giải pháp cho thời gian tới là gì? Theo chúng tôi, có thể nhìn nhận ở những điểm dưới đây:

Trước hết, tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về vai trò của văn hoá nói chung, văn học nghệ thuật nói riêng trong việc phát triển đất nước. Đảng đã xác định văn hoá là nền tảng, là động lực, là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển đất nước. Nhận thức này cần phải được thấm nhuần, sâu rộng trong toàn bộ xã hội và cụ thể hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội của đất nước.

Cần khai thác và phát huy tính dự báo những vấn đề nảy sinh của xã hội từ vai trò các văn nghệ sĩ như là các ăng ten của chế độ, sớm phát hiện và dự báo các hiện tượng, các vấn đề mà xã hội đặt ra, giúp cho Đảng và nhà nước trong việc quản lý và ứng phó với tình hình.

Các nhà văn hoá, các văn nghệ sĩ là những người có công trực tiếp vào việc bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống trước nguy cơ xâm lăng văn hoá ngày càng mạnh mẽ của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế. Từ đây có thể dùng văn hoá, nghệ thuật truyền thống để phát triển công nghiệp văn hoá và tạo ra nguồn lực kinh tế cho sự phát triển đất nước. Khuyến khích được tài năng và khát vọng sáng tạo của các văn nghệ sĩ, các nhà văn hoá thì bộ mặt văn hoá của đất nước sẽ chói sáng hơn trước quốc tế.

Nêu cao tính chủ động Liên hiệp và các hội thành viên trước các vấn đề xảy ra của đất nước, từ góc độ chuyên môn của mình, Liên hiệp bằng các tác phẩm nghệ thuật để tuyên truyền, định hướng cho xã hội trước những thay đổi hay tình huống khó khăn để tạo nên sự bình tĩnh, không hoang mang, dao động, vững vàng, đồng thuận và đoàn kết cho toàn xã hội trước biến cố lớn. Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật phải là nơi tập hợp, đoàn kết, kết nối tất cả các hội thành viên và các tỉnh thành trên cả nước vào một mối vì sự phát triển văn hoá nghệ thuật của nước nhà.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, do biến đổi khí hậu toàn cầu, cùng nhiều điều kiện phức tạp khác, nên những thảm họa đột xuất sẽ không tránh khỏi và không phải là hiếm xảy ra. Do vậy, bên cạnh các cơ quan khoa học và quản lý nhà nước, thì vai trò mới của Liên hiệp sẽ từ khả năng và vị trí đặc thù của mình, bằng tài năng nghệ thuật của các nghệ sĩ, tạo điều kiện để họ dùng nghệ thuật để an ủi, xoa dịu những nỗi đau của đồng loại khi gặp phải rủi ro trước những thiên tai, dịch bệnh như vừa qua.

Tạo điều kiện cho các hội, các văn nghệ sĩ được rộng đường sáng tạo và đóng góp trí tuệ và tâm huyết của mình cho đất nước. Sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị mang nhiều sự nhân ái, nặng lòng trắc ẩn, tính nhân văn, truyền thống dân tộc, đi vào lòng người, lan tỏa cho đông đảo nhân dân, tạo nên một xã hội tốt đẹp.

Mở rộng “sân chơi” cho các văn nghệ sĩ để họ có điều kiện sáng tạo ra các tác phẩm có chất lượng, mang tính thời đại… Tôn trọng nghệ sĩ, tôn trọng tự do sáng tác của họ, để họ chọn hướng đi, ý tưởng nghệ thuật được thăng hoa. Nếu thấy có vấn đề lệch lạc, bất thường thì nên có sự đối thoại, và dùng nghệ sĩ đối thoại với nghệ sĩ mà không phải dùng biện pháp hành chính để ngăn cấm hay áp đặt họ. Tôn trọng văn nghệ sĩ, tạo ra sự tự do sáng tác, đa dạng hình thức nghệ thuật…Đây là cách làm chính trị bằng văn hoá một cách khéo léo và sâu sắc.

Khai thác vai trò cá nhân của các nghệ sĩ nổi tiếng vào những hoạt động tuyên truyền, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục nhân cách (bởi họ có lượng fan đông đảo, nên lời nói của họ có trọng lượng, việc làm của họ nhiều người trông vào  và noi theo).

Khơi dậy lòng nhân ái, tính chất nhân văn qua các tác phẩm, các việc làm của họ để lôi kéo, đặc biệt là định hướng cho lối sống, tư tưởng của hàng triệu quần chúng, nhất là giới trẻ hiện nay trước bão táp của toàn cầu hoá.

Tăng cường việc giao lưu văn hoá với quốc tế để quảng bá các giá trị văn hoá Việt Nam ra thế giới và thu nhận những tinh hoa của văn hoá thế giới vào nước ta. Dùng văn hoá như một phương tiện để hội nhập sâu rộng với quốc tế và kêu gọi sự ủng hộ quốc tế cũng như đóng góp vào văn hoá thế giới bằng văn hoá dân tộc. Đẩy mạnh ngoại giao văn hoá, giao lưu văn hoá với tất cả các nước trên thế giới.

Biến văn hoá thành sản phẩm hàng hoá, mà là hàng hoá chất lượng cao mang lại nguồn lợi kinh tế cho đất nước.

Tóm lại, văn hoá, văn nghệ nói chung và những người làm văn hóa, văn nghệ dân gian nói riêng đang đứng trước những thách thức không nhỏ với những vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc ra sao? Bảo tồn và phát triển như thế nào? Hội nhập với thế giới đến đâu, ở trình độ như thế nào? Đóng góp gì vào bức tranh chung của văn hoá nhân loại? v.v. và v.v.

Họ là những người đóng vai trò lớn đối với việc bảo tồn, phát huy, cũng như quảng bá các giá trị di sản văn hoá dân tộc ở trong nước, với kiều bào ở nước ngoài, cũng như các chính phủ và người dân trên thế giới.

(0) Bình luận
  • Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt
    Chiều 20/6/2026, NXB Kim Đồng phối hợp cùng Học viện đào tạo Truyện tranh Comicola Academy và Cộng đồng họa sĩ truyện tranh Việt Nam PunkgaMe tổ chức tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt” và workshop “Quy trình chuyển thể tác phẩm văn học sang truyện tranh”. Tham dự sự kiện có đông đảo biên tập viên, họa sĩ chuyên nghiệp, các bạn trẻ đam mê sáng tác truyện tranh và độc giả yêu thích truyện tranh.
  • Nhà văn Hoàng Quốc Hải: “Một nhà văn đúng nghĩa phải đồng thời là một nhà văn hóa”
    Nhà văn Hoàng Quốc Hải sinh năm 1938 tại Hải Dương là một trong những cây bút tên tuổi của văn học Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực tiểu thuyết lịch sử. Trước khi chuyên tâm sáng tác, ông từng là phóng viên báo Vùng mỏ (nay là báo Quảng Ninh), rồi làm biên tập viên tập Sáng tác Hà Nội - tiền thân của tạp chí Người Hà Nội. Với sự nghiệp trải dài hơn nửa thế kỷ, ông đã để lại dấu ấn sâu đậm qua hai bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tám triều vua Lý” và “Bão táp triều Trần”. Những tác phẩm này không chỉ tái hiện chân thực lịch sử dân tộc mà còn thể hiện tình yêu sâu sắc của ông đối với Hà Nội - mảnh đất nghìn năm văn hiến. Hãy cùng lắng nghe nhà văn chia sẻ về hành trình sáng tác, những trăn trở về đề tài lịch sử và lời nhắn gửi tâm huyết đến thế hệ trẻ yêu nghề viết.
  • Nhà văn Tô Hoài: Người “thuyền trưởng” tâm huyết và bản lĩnh
    Trong chặng đường 40 năm của Tạp chí Người Hà Nội, dấu ấn của nhà văn Tô Hoài - Tổng Biên tập đầu tiên vẫn luôn hiện hữu sâu đậm. Không chỉ là người đặt nền móng, định hướng phát triển cho tờ báo, ông còn là người truyền cảm hứng về một cách làm báo cẩn trọng, tinh tế, nhân văn và tràn đầy trách nhiệm.
  • Người Hà Nội trong tôi
    Suốt hành trình 40 năm xây dựng và phát triển, Người Hà Nội luôn nhận được sự đồng hành, đóng góp các cây bút thuộc nhiều thế hệ, trong và ngoài nước, từ chuyên nghiệp đến không chuyên. Qua mỗi bài viết, họ đã mang đến những góc nhìn, cảm xúc mới mẻ góp phần gìn giữ bản sắc riêng của tạp chí. Dưới đây là những chia sẻ chân thành của một số cộng tác viên về kỷ niệm và sự gắn bó sâu sắc mà họ dành cho tạp chí Người Hà Nội trong suốt những năm qua.
  • Vài kỉ niệm với tập “Sáng tác Hà Nội”
    Chi hội Văn nghệ Hà Nội (sau là Hội Văn nghệ Hà Nội - tiền thân của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội) được thành lập vào tháng 10 năm 1966.
  • Người Hà Nội - 40 năm đồng hành với văn nghệ sĩ Thủ đô
    Tạp chí Người Hà Nội tiền thân là ấn phẩm Sáng tác Hà Nội do Chi hội Văn nghệ Hà Nội (nay là Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội) phát hành từ năm 1967. Ngay từ thuở ban đầu, ấn phẩm là một diễn đàn nhỏ nhưng có sức sống mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành nơi quy tụ các sáng tác của văn nghệ sĩ Hà Nội.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • “Mã văn hóa” điều chỉnh hành vi xã hội, định hình căn tính con người Việt Nam trong thời kỳ mới
    Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hơn cả tình yêu
    Hè năm thứ nhất, đang là sinh viên Đại học Xây dựng, theo lời rủ rê của hai cô bạn thân, Hằng đi Sầm Sơn cùng với họ. Vào đến Sầm Sơn, lúc thuê khách sạn, Hằng mới vỡ lẽ, hai cô bạn kia đã có đôi, họ âm thầm sắp đặt sẵn kế hoạch từ trước. Họ gán ghép Hằng với Bắc, một bạn nam cùng lớp vào ở chung phòng. Đêm ấy, Hằng lang thang trên bờ biển, vừa giận bạn, vừa định bụng sẽ không về khách sạn ngủ...
  • Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ
    Từ ngày 21-28/7, Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) sẽ chủ trì tổ chức Tuần phim kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) trên phạm vi toàn quốc. Danh sách các phim được chiếu gồm: "Đừng đốt", "Mùi cỏ cháy", "Những người viết huyền thoại", "Đường xuyên rừng", "Truyền thuyết về Quán Tiên" và "Bình minh đỏ".
  • Từ quyết tâm chính trị đến động lực phát triển mới của Hà Nội
    Sáu tháng đầu năm 2026 khép lại với nhiều kết quả tích cực, đồng thời cũng đặt ra không ít yêu cầu mới đối với sự phát triển của Hà Nội. Kết luận của đồng chí Bí thư Thành ủy tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm không chỉ xác định các nhiệm vụ trọng tâm của thành phố trong thời gian tới mà còn truyền đi thông điệp xuyên suốt về tinh thần đổi mới, trách nhiệm, hành động và khát vọng phát triển. Đó là yêu cầu tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của Nhân dân để tạo dựng nền tảng vững chắc cho chặng đường phát triển mới của Thủ đô.
  • Đánh thức nguồn lực văn hóa từ chương trình “Âm nhạc cuối tuần”
    Giữa những bản jazz kinh điển của thế giới, các ca khúc như “Em ơi Hà Nội phố”, “Bây giờ tháng mấy” và “Nhớ về Hậu Giang” đã đưa công chúng qua nhiều miền cảm xúc trong chương trình “Âm nhạc cuối tuần” chiều 12/7 tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ. Từ một sân khấu mở bên hồ Hoàn Kiếm, đời sống văn hóa Thủ đô thêm phong phú, cho thấy cách Hà Nội đưa nghệ thuật đến gần công chúng và từng bước xây dựng môi trường văn hóa đô thị văn minh, hiện đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế”, tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
    Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế” giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của áo dài Huế gắn liền với lịch sử, văn hóa và đời sống của người dân Cố đô, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Huế - Kinh đô Áo dài Việt Nam.
  • Triển khai đồng bộ các hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Nhằm kịp thời thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển văn hóa Việt Nam, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026. Quyết định này đi kèm kế hoạch hành động nhằm triển khai đồng bộ, toàn diện bốn hệ giá trị cốt lõi: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trên phạm vi cả nước, tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền văn hóa của dân tộc.
  • Phát động Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" lần thứ 2
    Cuộc thi ảnh "Nghệ thuật toàn quốc về Nghệ thuật Xiếc Việt Nam" năm 2026 được tổ chức nhằm tôn vinh vẻ đẹp và những giá trị đặc sắc của nghệ thuật xiếc Việt Nam; tạo sân chơi sáng tạo cho các nhiếp ảnh gia chuyên và không chuyên, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh nghệ thuật xiếc đến đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.
Trăn trở về văn hóa - văn nghệ dân gian
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO