Nghệ sĩ nhân dân Lương Đức: Nhớ một thuở làm phim

Đặng Thủy| 09/08/2022 16:44

Nghệ sĩ nhân dân Lương Đức được ví von là “ông vua” của thể loại phim khoa học Việt Nam. Đến với “nghệ thuật thứ bảy” từ thuở hoa niên, với sự say mê và bền bỉ, ông đã gặt hái được nhiều giải thưởng điện ảnh danh giá cả trong và ngoài nước… Qua tuổi bát thập, NSND Lương Đức chưa chịu nghỉ ngơi mà vẫn cùng đoàn làm phim rong ruổi khắp những nẻo đường đất nước. Và mỗi khi nhắc tới chuyện nghề năm xưa, trong ông lại rộn rã bao niềm vui.

Nghệ sĩ nhân dân Lương Đức: Nhớ một thuở làm phim

1. NSND Lương Đức sinh năm 1939 trong một gia đình nông dân nghèo ở một làng nhỏ nằm bên dòng sông Mã (làng Phượng Đình, xã Hoằng Anh, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ngay từ khi còn nhỏ, Lương Đức đã nổi tiếng là một cậu bé ham học và học giỏi. Nghe theo lời bố dạy: “Chỉ có cách duy nhất để thoát khỏi cái nghèo là học, học thật giỏi”, cậu bé Lương Đức đã nỗ lực để có một kết quả xứng đáng. Năm 14 tuổi, với thành tích học sinh gương mẫu, Lương Đức đã được nhận học bổng là 24kg gạo mỗi tháng và sau đó được chọn lên Hà Nội học phổ thông để chuẩn bị sang nước ngoài đào tạo.
Tạm biệt quê hương để tới Lezich (CHDC Đức) học tập, thời kỳ đầu khi theo học tiếng, Lương Đức cũng chưa định hình mình sẽ theo đuổi ngành học gì. Nhưng sau buổi xem phim “Người thứ 41” rồi tiếp đó là phim “Số phận một con người”, từ ngỡ ngàng đến say sưa trước những cảnh quay đẹp như mơ của 2 tác phẩm điện ảnh Nga này mà Lương Đức đã nhen nhóm ý nghĩ sẽ thử sức với điện ảnh. Cuối năm đó, ông đăng ký theo học chuyên ngành quay phim nhưng trường “hết chỉ tiêu”. Chướng ngại vật ấy không khiến Lương Đức nản chí, sang năm thứ 2 ông tiếp tục đăng ký ngành học này và toại nguyện ước mơ khi vượt qua thử thách của kỳ thi tuyển gắt gao.
Sau hơn 6 năm đèn sách, Lương Đức trở về nước với tấm bằng đỏ chuyên ngành quay phim của trường Đại học Điện ảnh và vô tuyến truyền hình CHDC Đức. Ông trở thành người đầu tiên cùa ngành điện ảnh Việt Nam được đào tạo chính quy ở Đông Âu.
2. Cuối năm 1962, trở về nước, Lương Đức được phân công công tác tại Xưởng phim Tài liệu, Thời sự Trung ương và cử biệt phái 2 năm làm giảng viên dạy lớp quay phim cho nước bạn Lào. Sau đó, ông được điều về Đội làm phim khoa học của Xưởng phim. Nhớ lại buổi ban đầu gắn bó với điện ảnh, NSND Lương Đức vẫn chẳng thể nào quên những ngày tháng “ba cùng” với người dân thị trấn Then ở tỉnh Phú Thọ. Ông kể, có lần sau khi đi xem phim về ông đã nghe lỏm được những nhận xét của 2 khán giả trung niên. Câu chuyện tưởng như vu vơ, nhưng đã cho ông bài học thấm thía về nghề. Cũng từ đó, Lương Đức luôn nhủ lòng, trong mỗi một bộ phim phải quan tâm đến đối tượng mà phim phục vụ, bởi nếu không đứng ở góc độ khán giả mà cảm nhận, đánh giá thì rất dễ chủ quan. “Người đạo diễn phải có thói quen nghe nhiều hơn nói, nhất là nghe những ý kiến đánh giá, nhận xét ngược chiều để phân tích sàng lọc tiếp thu từ đó hoàn thiện tác phẩm. Có như vậy thì mới có phim hay” - NSND Lương Đức chia sẻ.
3. Những năm 60 của thế kỷ trước, khi mà Lương Đức mới bắt đầu làm phim cũng là những năm đất nước còn bộn bề gian khó. Phim khoa học khi ấy chỉ na ná như các phim phóng sự và thường được làm theo chỉ đạo của các nhà khoa học, kỹ thuật nông nghiệp và các chuyên gia y tế. Với sự đau đáu và cả bầu nhiệt huyết, chàng trai trẻ Lương Đức đã dồn hết tâm sức để nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi thể nghiệm nghệ thuật hóa phim khoa học, từng bước mở đường cho phim khoa học Việt Nam tiếp cận với quốc tế.
Nghệ sĩ nhân dân Lương Đức: Nhớ một thuở làm phim
“Chuyện đời, chuyện nghề” - cuốn sách đầu tay của NSND Lương Đức.
Ông chia sẻ, để xây dựng một bộ phim khoa học nghệ thuật theo đúng nghĩa rất công phu. Đôi khi chỉ năm, bảy giây hình ảnh nhưng đòi hỏi cả một thiết bị hệ thống chuyên dùng và kinh nghiệm nghề nghiệp cùng với sự kiên trì. Vì không có thiết bị chuyên dùng nào phục vụ cho việc làm phim khoa học ngoài mấy chiếc máy quay phim thời sự, tài liệu, nên suốt mấy chục năm ông cùng các đồng nghiệp đã phải vật lộn với bao khó khăn; xoay xở, tận dụng mọi khả năng kỹ thuật để làm phim, thậm chí “gia công” nhiều cảnh quay để lột tả những điều mà đạo diễn muốn chuyển tải.
Là một người khó tính nên công đoạn sản xuất nào ông cũng đều cố gắng bám sát từ khâu xây dựng kịch bản, quay phim rồi dựng phim. Phần lớn ông trực tiếp quay, hoặc nếu có quay phim khác hỗ trợ thì ông đều trao đổi bàn bạc rất kỹ và yêu cầu rất cụ thể xem phải quay thế nào, lựa chọn ống kính, góc máy, động tác máy ra sao. Đối với công đoạn dựng phim, ông cũng rất cẩn trọng, ít khi tháo khoán cho người dựng mà thường trực tiếp tham gia từ việc chọn cảnh đến nối ghép thứ tự các cảnh, các trường đoạn và tạo dựng bố cục của phim.
Nhìn lại những bộ phim khoa học mà Lương Đức đã làm, có thể thấy rõ niềm say mê và trách nhiệm mà ông đã gửi gắm trong mỗi tác phẩm. Để “mềm hóa” phim khoa học và tăng sức thuyết phục đối với khán giả, ông cố gắng vận dụng các thủ pháp biểu hiện của nhiều loại hình khác nhau từ hoạt hình, ngôn ngữ phim tài liệu đến các tiểu phẩm, kịch, phim truyện... Cũng bởi thế mà phim khoa học của ông không chỉ đảm bảo tính khoa học, chính xác mà còn tạo được dấu ấn, thể hiện chất thơ, đậm đà phong vị trữ tình (phim “Đất Hạ Long”, “Cá mè đẻ nhân tạo”, “Cá trôi Ấn”...); chất hài hước, hóm hỉnh (phim “Nói và làm”, “Yên trí không sao”, “Tôi sử dụng ngày công như thế nào”); mang sắc thái, tiết tấu của điện ảnh hiện đại (phim “Chớ coi thường”, “Năng lượng khí sinh vật”); khơi gợi niềm tự hào dân tộc (phim “Đất Tổ ngàn xưa”)... Đáng chú ý, nhiều bộ phim còn đặt ra những vấn đề mang tính dự báo và tới hôm nay vẫn còn nguyên giá trị (phim “Chú ý thuốc trừ sâu”, “Vì tính mạng con người”...).
4. Không chỉ thành công với thể loại phim khoa học, khi thử sức với phim truyện và phim tài liệu, NSND Lương Đức cũng tiếp tục ghi dấu ấn. Minh chứng là bốn tập phim truyện video “Bỉ vỏ”, ông làm cùng đạo diễn Vũ Lệ Mỹ và Lê Mạnh Thích. Ngay sau khi khởi chiếu, bộ phim này đã thu hút được đông đảo công chúng khắp trong Nam ngoài Bắc, và đến bây giờ vẫn là một bộ phim hấp dẫn của điện ảnh Viêt Nam. Hay như hai bộ phim ngắn mà ông là quay phim chính cũng mang về nhiều giải thưởng danh giá (Phim “Nơi chiến tranh đi qua”: Giải thưởng Lớn Liên hoan phim quốc tế Freiburg CHLB Đức năm 1997, giải Nhì Liên hoan phim toàn cầu tại Tokyo năm 2000; phim “Vì cuộc sống bình yên”: Giải Nhất Liên hoan phim Fica III tại Brazil năm 2001, giải Đặc biệt Liên hoan phim Canada năm 2001).
Năm 2000, khi nhận quyết định về hưu, NSND Lương Đức không chịu nghỉ ngơi mà vẫn tham gia giảng dạy, hướng dẫn luận văn cho các sinh viên trường Đại học Sân khấu Điện ảnh, rồi cả làm phim. Gần đây nhất, ông nhận lời Viện phim Việt Nam tham gia làm bộ phim tài liệu chính luận “Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam”. Để có kịch bản cho 3 tập của bộ phim này (tập 1- Tín ngưỡng truyền thống; tập 2 - Tôn giáo đồng hành cùng dân tộc; tập 3 - Di sản văn hóa đặc sắc của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam), ông đã phải đọc, khai thác, tìm hiểu biết bao tư liệu từ các nguồn, rồi tranh thủ sự góp sức của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực này. Bộ phim bấm máy đúng thời điểm đại dịch Covid diễn biến phức tạp nhưng để hoàn thiện đúng tiến độ, ông cùng các đồng nghiệp vẫn miệt mài khắp nhiều vùng miền trên cả nước, thậm chí phải “đánh du kích” để có được những cảnh quay, những hình ảnh phù hợp.
Giờ thì bộ phim đã hoàn thiện và chuẩn bị trình làng công chúng, NSND Lương Đức như cũng thấy nhẹ nhõm hơn. Ông bảo, có lẽ đây là bộ phim cuối của mình vì sức khỏe không cho phép đi nhiều nữa. Nhưng ông vẫn còn một dự định nữa, đó là sẽ trình làng cuốn sách thứ hai về những kỷ niệm thuở làm nghề. Hi vọng sau “Chuyện đời, chuyện nghề” (NXB Thế giới, 2020), cuốn sách mà “ông vua” phim khoa học đang ấp ủ này sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về NSND Lương Đức trên nhiều cương vị: Quản lý xưởng phim khoa học, đạo diễn, nhà quay phim, biên kịch, viết lời bình và cả diễn viên..

Nghệ sĩ nhân dân Lương Đức: Nhớ một thuở làm phim
NSND Lương Đức (người thứ 3 từ trái qua) chụp cùng đoàn làm phim “Tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam”.

(0) Bình luận
  • Ra mắt sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”
    Chiều 4/7, tại VNU Bookstore (Đại học Quốc gia Hà Nội), Công ty Cổ phần Xuất bản và Giáo dục Quảng Văn tổ chức ra mắt cuốn sách tranh “Finneas trong thế giới rộng lớn”. Thông qua hành trình của một chú voi nhỏ, cuốn sách gửi gắm những thông điệp ý nghĩa về tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường và trách nhiệm với thế giới xung quanh.
  • Nhà thơ Hữu Thỉnh ra mắt tiểu thuyết “Thép dưới cỏ”
    Nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt độc giả tiểu thuyết đầu tay có tên "Thép dưới cỏ". Đây là cuốn sách viết về sự kiện Tà Mây - Làng Vây của binh chủng Tăng thiết giáp. Cuốn tiểu thuyết ra mắt đầu tháng 7, như món quà tri ân không chỉ độc giả, mà còn dành tặng cho những người lính đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ, cùng những cựu chiến binh, những thương bệnh binh đã có một thời thanh xuân “hoa lửa” đáng tự hào của mình.
  • Truyện tranh “Thần Giấy Hlabar”: Đưa lịch sử chữ viết Bahnar đến với thiếu nhi
    Hơn ba năm sau “Hành trình sáng tạo chữ Quốc ngữ”, bộ đôi tác giả Phạm Thị Kiều Ly - Tạ Huy Long tiếp tục giới thiệu truyện tranh “Thần Giấy Hlabar - Sử thi nhỏ về chữ viết Bahnar”. Tác phẩm được chuyển thể từ một công trình nghiên cứu về lịch sử chữ viết Bahnar, qua đó góp phần đưa đề tài ngôn ngữ học đến gần độc giả nhỏ tuổi.
  • Tiểu thuyết “Phi công” - kiệt tác văn học đương đại Nga ra mắt độc giả Việt
    Công ty Cổ phần Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam vừa giới thiệu tới bạn đọc tiểu thuyết “Phi công” của nhà văn Nga đương đại Evgeny Vodolazkin, do dịch giả Phan Xuân Loan chuyển ngữ. Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết Nga nổi bật nhất của thập niên 2010.
  • Lan tỏa những điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
    Nhân kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2026), Ban Chuyên đề - Báo Nhân Dân phối hợp Ban sách Lý luận, Kinh điển - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách “Hoa vườn Bác” (Những điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh). Cuốn sách tuyển chọn 70 bài viết về những cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác Hồ, tích cực lao động, sản xuất, học tập, nghiên cứu, sáng tạo và cống hiến trên nhiều lĩnh vực của đời
  • Thế giới tuổi thơ và hình tượng người mẹ trong tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” của Trương Anh Tú
    Tập thơ “Trắng mây tóc mẹ” (NXB Kim Đồng, 2024) của tác giả Trương Anh Tú viết về thế giới trẻ thơ, song lại chứa đựng bề sâu cảm xúc mà cả người lớn lẫn trẻ nhỏ đều có thể cảm nhận. Với 24 bài thơ, được sắp xếp theo nhịp thời gian bốn mùa và những khoảnh khắc đời thường, tập thơ đã dệt nên một thế giới trong trẻo. Xuyên suốt tập thơ, bóng dáng người mẹ hiện lên với sự yêu thương, che chở.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà: “Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội cho hoạt hình Việt Nam”
    Mùa phim hè 2026 chứng kiến sự áp đảo của các bộ phim hoạt hình ngoại tại phòng vé Việt Nam, trong khi hoạt hình Việt tạm thời vắng bóng sau những tín hiệu khởi sắc của năm 2025. Phải chăng đây là một bước chững lại đáng lo ngại hay chỉ là khoảng lặng cần thiết để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới? Phóng viên Tạp chí Người Hà Nội đã có cuộc trao đổi với nhà biên kịch Phạm Thị Thanh Hà - Trường Phòng Kịch bản, Hãng phim hoạt hình Việt Nam về thực trạng, cơ hội cũng như nhưng triển vọng của hoạt hình Việt Nam trong kỷ nguyên số.
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • “Mã văn hóa” điều chỉnh hành vi xã hội, định hình căn tính con người Việt Nam trong thời kỳ mới
    Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
  • Khu lưu niệm Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn - Nơi lưu giữ ký ức về một nhân cách lớn của Thủ đô Hà Nội
    Những ngày cuối năm 2025, tôi có dịp đến Khu lưu niệm Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn tại thôn Bặt Chùa, xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội. Giữa cánh đồng rộng mở, trong làn gió nhè nhẹ và sự thanh bình của một miền quê còn đậm nét Bắc Bộ ở phía nam Thủ đô, Khu lưu niệm hiện lên trang nghiêm mà gần gũi. Bước chân tôi chợt chậm lại như đang đi vào một không gian của ký ức, nơi lưu giữ câu chuyện về một nhân cách lớn đã dành trọn cuộc đời phụng sự đất nước và Nhân dân.
  • Cá thể hóa điều trị: xu hướng nâng cao hiệu quả cho bệnh nhân tim mạch và chuyển hóa
    Trong bối cảnh mô hình bệnh tật tại Việt Nam đang có những dịch chuyển đáng kể, sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh lý không lây nhiễm, đặc biệt là nhóm bệnh tim mạch và rối loạn chuyển hóa, đang đặt ra những thách thức không nhỏ cho hệ thống y tế. Để giải quyết bài toán này, xu hướng "cá thể hóa điều trị" — tức thiết kế phác đồ chuyên biệt cho từng người bệnh dựa trên các đặc điểm lâm sàng cụ thể — đang trở thành kim chỉ nam trong thực hành lâm sàng hiện đại.
Đừng bỏ lỡ
  • Đánh thức bảo tàng bằng ứng dụng nghệ thuật liên ngành
    Hệ thống bảo tàng đang đứng trước những yêu cầu thay đổi theo hướng đa dạng, linh hoạt và hấp dẫn hơn trong cách tổ chức trưng bày nhằm thu hút du khách. Theo đó, bên cạnh các tư liệu, hiện vật, sự kết hợp giữa công nghệ, nghệ thuật sắp đặt và các yếu tố liên ngành đóng vai trò quan trọng, mang đến cho khách tham quan một hành trình thấu hiểu quá khứ theo nhiều cách khác nhau.
  • Kiêng kỵ thần linh ở thôn Lặt, xã Ba Vì
    Vào thế kỷ XVI, vùng đất dưới chân núi Tản, ven sông Đà còn hoang vu. Một số người Mường Bi, Mường Thàng từ Thanh Hóa tìm đến nơi đây sinh cơ lập nghiệp. Cụ Nguyễn Trung Hành là người đầu tiên đến khai phá vùng đất mới. Ban đầu, người dân chặt tre nứa trong rừng, rồi chẻ lạt và chở bằng thuyền đi bán khắp nơi.
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Phường Phú Lương phấn đấu hoàn thành chiến dịch "45 ngày" xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai
    Thực hiện Kế hoạch của UBND thành phố Hà Nội, chiều ngày 14/7, UBND Phú Lương tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch chiến dịch "45 ngày" hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn phường.
Nghệ sĩ nhân dân Lương Đức: Nhớ một thuở làm phim
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO