Sân khấu

Họa sĩ Dân Quốc - Người thiết tạo không gian chèo “Sắc sắc không không”

PGS. TS Phạm Duy Khuê • 15:18 15/07/2024

“Sắc sắc không không” (có mà không, không mà có) là một trong những triết lý căn bản của giáo lý đạo Phật. Triết lý này tưởng chừng mơ hồ, nhưng ở góc nhìn, tầm nhìn và cách nhìn khoa học biện chứng thì hoàn toàn đúng với ý nghĩa vật chất của nó. Dường như họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu chèo Nguyễn Dân Quốc cũng đã lấy triết lý này làm phương châm cho sáng tạo của mình.

hoa-si-nguyen-dan-quoc-2.jpg

NSND Nguyễn Dân Quốc sinh năm 1943 ở phố Lãn Ông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống văn hóa. Ngoài 20 tuổi, chàng trai Dân Quốc được vinh hạnh “hầu trà” theo kiểu người Hà Nội, để tiếp nhận tri thức từ các thầy, mà Dân Quốc gọi là “hóng học”. Mọi sự tích lũy, kể cả vốn sống về đời cũ và đời mới đã làm nên một họa sĩ thiết kế mỹ thuật chèo tài năng Nguyễn Dân Quốc. Chính ông đã lấy nghệ thuật chèo làm vũ khí, với tâm tuệ trong sáng, tinh, khí, thần dân tộc soi rọi vào hiện thực mới - hiện thực đương đại, để phản ánh trong những tác phẩm thiết kế mỹ thuật của mình cho những vở diễn chèo.

Tác phẩm thiết kế mỹ thuật đầu tiên của họa sĩ Dân Quốc cho vở diễn chèo về hiện thực cách mạng và kháng chiến của Đoàn chèo Hà Tây là vở chèo “Chị Tâm bến Cốc” (1968), kịch bản của cố NSND Tào Mạt. Kể từ tác phẩm mỹ thuật chèo đầu tiên này, họa sĩ Dân Quốc đã thiết kế mỹ thuật cho hơn 120 vở diễn chèo của các nhà hát và các đoàn chèo trong cả nước, trong đó có đến ¼ số vở diễn được chuyển thể từ kịch bản nước ngoài. Nổi trội trong số ấy là vở diễn “Vòng phấn Capcadơ”, kịch bản của Bertolt Brecht Brecht, Vinh Mậu chuyển thể chèo.

Các sáng tác của họa sĩ Dân Quốc vừa giàu chất dân gian, mộc mạc, giản dị, tinh tế và trang nhã, vừa mang vẻ đẹp đầy chất thơ, thấm đẫm tâm hồn và bản sắc dân tộc Việt Nam. Người xem luôn cảm nhận được “hồn chèo” kết đọng trong mỗi tác phẩm của ông. Trong hơn 120 vở diễn chèo (hiện thực dân gian, hiện thực trong các truyện Nôm khuyết danh, thần thoại, cổ tích, dã sử, lịch sử) và các vở diễn chèo đề tài cách mạng và kháng chiến, họa sĩ Dân Quốc đã vận dụng các nguyên tắc thuộc phương pháp thể loại chèo vào sáng tác thiết kế mỹ thuật.

img_7417.jpg
Súy Vân - Đoàn chèo Hà Nam 2001

Về đề tài hiện thực đương đại, trong đó có đề tài hiện thực cách mạng và kháng chiến, ông có nhiều tác phẩm thành công và “rất chèo” như các vở: “Dệt những mùa xuân” - Nhà hát Chèo Việt Nam 1978, “Nhớ về Bắc Mã” - Đoàn chèo Quảng Ninh 1986, “Đôi mắt” - Trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam 1976, “Dòng thác đỏ” - Đoàn chèo Hà Tuyên 1979, “Tấm lòng hậu phương” - Đoàn chèo Trường Sơn 1971, “Chuyện tình dưới mái đình xưa” - Đoàn chèo Thái Bình 1994, “Đêm trăng huyền thoại” - Đoàn chèo Thái Nguyên 1999, “Bão rừng” - Đoàn chèo Hoàng Liên Sơn, “Chiếc nón bài thơ” - Đoàn chèo Nam Hà 1978, “Ngôi sao Hạ Long” - Đoàn chèo Quảng Ninh 1976… Đặc biệt thành công, thấm đẫm chất chèo đến từng chi tiết của thiết kế mỹ thuật là vở diễn chèo hiện đại “Sông Trà Khúc” của cố NSND Tào Mạt. Với một “dáng dấp hiện đại mới lạ”, vở diễn đã được tặng thưởng Huy chương Vàng tại Hội diễn Sân khấu toàn quốc được tổ chức tại Nghĩa Bình năm 1985.

Ngoài thiết kế mỹ thuật cho các vở diễn của Nhà hát Chèo Việt Nam (nơi ông công tác), họa sĩ Dân Quốc còn được các tỉnh, thành phố (những địa phương có các Đoàn, Nhà hát chèo) và quân đội mời thiết kế mỹ thuật cho các vở diễn chèo của họ. Hầu hết thiết kế mỹ thuật cho các vở chèo truyền thống của họa sĩ Dân Quốc đều thành công, đặc biệt trong đó là thiết kế mỹ thuật của vở chèo “Quan Âm Thị Kính”, không chỉ có tiếng vang trong nước, mà còn được hưởng ứng và đánh giá cao ở nước ngoài.

Họa sĩ Dân Quốc chia sẻ: “Sau 19 năm làm họa sĩ thiết kế mỹ thuật ở Nhà hát Chèo Việt Nam, đến khi nghỉ hưu năm 2003, tôi đã thiết kế được 27 vở diễn, 3 chương trình chèo đi biểu diễn Quốc tế: tại Bungaria 1982, tại Liên hoan Sân khấu Quốc tế ở CHDC Đức 1985 (với vở “Quan Âm Thị Kính”) và Liên hoan Sân khấu các nước nói tiếng Pháp tại Limoge năm 1993. Năm 1987, tôi được mời giới thiệu về mỹ thuật chèo tại triển lãm Mỹ thuật sân khấu Quốc tế tổ chức ở Tiệp Khắc”.

Là họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu chèo thuộc thế hệ thứ hai trong số ít những họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu chèo, họa sĩ Dân Quốc đã dành cả cuộc đời cống hiến cho sự phát triển của mỹ thuật chèo. Không chỉ thạo “nghề” hội họa, họa sĩ Dân Quốc còn am hiểu sâu sắc các loại hình, loại thể nghệ thuật thuật có liên quan như: kiến trúc, điêu khắc (nhất là kiến trúc, điêu khắc dân tộc), nghệ thuật đạo diễn, nghệ thuật biểu diễn chèo. Đặc biệt, ông từng nghiên cứu, nắm vững nghệ thuật chèo cổ và phương pháp thể loại của chèo truyền thống - kết tinh của nghệ thuật chèo Việt Nam; đó là phương pháp hiện thực tả ý hiện thân của tư duy liên tưởng. Trong tác phẩm của mình, họa sĩ Dân Quốc đã vận dụng thành công hệ những nguyên tắc trong nghệ thuật chèo, từ tự sự, ước lệ, lạ hóa, lấy điểm để tả diện, cách điệu hóa, ẩn dụ hóa đến so sánh, đối chiếu, huyền thoại hóa, giả định hóa, mô hình hóa, tượng trưng.
Họa sĩ Dân Quốc không chỉ là người có “sở trường” tư duy liên tưởng của nghệ thuật chèo, mà còn am hiểu, cảm thức, cảm hứng sâu sắc và mê say chèo cổ, chèo truyền thống, tranh dân gian, tranh thờ miền núi, tượng gỗ dân gian... Tất cả đọng lại nơi suy cảm - cảm thức và tư duy của họa sĩ mỹ thuật chèo này, đặng chuyển nhập chúng vào những cảnh tượng, phục trang trong các vở diễn chèo cổ, chèo truyền thống, chèo đề tài hiện đại do ông thiết kế. Chúng không chỉ là địa điểm, hoàn cảnh - không gian sống riêng biệt của các nhân vật nhất định, mà còn là những bức tranh “độc lập” thể hiện muôn vẻ của cuộc sống, con người. Nào cảnh đời tam nông dưới thời phong kiến với chế độ gia trưởng độc đoán, chuyên quyền, phảng phất đâu đây số phận những người phụ nữ bị đọa đầy; nào những tấm lòng, những hình tượng nhân hậu, kiên trung, ân tình, đảm đang, bất khuất của những người vợ, người mẹ là những người nông dân lao động bình thường trong xã hội…

Cũng từ những “cảnh đời” tại các vở diễn do ông thiết kế ấy, khán giả cảm thức như đâu đây văng vẳng tiếng sáo diều, như thấy cả cây đa, giếng nước, sân đình, bãi chợ, bến sông mà những vở chèo từng diễn ra. Bằng tài năng, vốn sống, cùng sự am hiểu sâu sắc về lịch sử họa sĩ Dân Quốc đã đưa vào tác phẩm của mình muôn vẻ của cuộc sống. Ở đó, cái thiện, cái ác xen nhau va đập khi quyết liệt, căng thẳng; khi ngừng lặng hòa hoãn. Tất cả đều ảnh xạ vào những cảnh trí, phục trang, đạo cụ mà ông thiết kế như trong các vở: “Quan Âm Thị Kính”, “Tấm Cám”, “Trương Viên”, “Súy Vân”, “Lưu Bình Dương Lễ”, “Từ Thức”, “Đường lên núi sắt”, “Thạch Sanh”, Trê cóc”…

Về phục trang, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành viết: “Nó thực sự là kết quả của sự tìm hiểu công phu trang phục của dân tộc Việt Nam qua các chặng đường lịch sử đồng thời lại gắn với thân phận và từng tính cách nhân vật của mỗi vở diễn. Những bộ trang phục dành cho chèo của họa sĩ Dân Quốc cũng có thể tồn tại độc lập như bộ sưu tập về trang phục của người Việt Nam xưa: đẹp, nền nã, trang nhã, giản dị mang đúng nét truyền thống của dân tộc. Mặt khác, các bộ trang phục lại hòa nhập ngọt ngào với nền cảnh mà chính Dân Quốc tạo ra, khiến cho mỗi vở chèo là một khung cảnh sống thực sự”.

Cái khó trong việc tạo mẫu trang phục cho các nhân vật trong mỗi vở diễn chèo cổ và chèo truyền thống nằm ở chỗ: các nhân vật không cùng giai cấp, địa vị xã hội, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tín ngưỡng tôn giáo… nên việc tạo mẫu - kiểu mốt, chất liệu, màu sắc, hoa văn, thị hiếu thẩm mỹ thời đại… cho mỗi nhân vật không đơn giản. Trình độ văn minh, văn hóa thời đại của mỗi bộ trang phục phải được đan nhiễm, hòa quyện vào nhau như là chính nó. Họa sĩ Dân Quốc đã làm được một cách riêng biệt, độc đáo, màu sắc dân gian truyền thống, tinh tế cho “cái mặc” của những con người - nhân vật “ngày xưa” ấy, như họ đang là trên sân khấu chèo.

Họa sĩ Dân Quốc nay đã ở tuổi ngoài 80. Trước bộn bề của cuộc sống thời kỳ hội nhập, nhất là của sân khấu chèo hôm nay, người nghệ sĩ năm xưa vẫn chất chứa bao trăn trở. Ông băn khoăn: liệu chèo còn thích hợp với hiện thực mới nữa không; nguyên tắc nào trong phương pháp thể loại chèo truyền thống đã không còn thích hợp nữa; và làm thế nào để chèo có “đất sống”, tiếp tục ánh hiện thực mới và con người mới hôm nay…

Trở lại với người thiết tạo những không gian “sắc sắc không không” cho hơn 120 vở diễn chèo, tôi lại muốn nhắc tới cuốn sách “Mỹ thuật sân khấu chèo - Phục trang biểu diễn” (NXB Sân khấu, 2018) in hơn 4000 mẫu trang phục, được tuyển chọn từ những vở diễn của ông. Cuốn sách một lần nữa chứng tỏ rằng, làm mỹ thuật chèo, nếu không có tâm hồn và tư duy dân tộc thì không thể làm được… GS. NSND Trần Bảng từng chia sẻ: “Tôi rất mừng khi NXB Sân khấu in bộ tác phẩm mỹ thuật chèo của họa sĩ Dân Quốc. Đây hầu như là toàn bộ những tác phẩm sáng tác của họa sĩ dành cho mỹ thuật chèo trong suốt hơn 40 năm qua. Tất cả đều được phục hồi, gia công, biên tập, trình bày và chế bản rất đẹp. Đó là điều đặc biệt mà chưa một họa sĩ nào làm được. Tôi cảm phục niềm đam mê trong trái tim người nghệ sĩ trước niềm tin vào sự trường tồn bất diệt của nghệ thuật chèo - một di sản sân khấu đặc sắc trong kho tàng văn hóa Việt Nam”.

Bài liên quan
(0) Bình luận
  • “Dấu thiêng Hà Nội”: Gợi nhớ ký ức về Thủ đô hào hùng trong kháng chiến
    Trong khuôn khổ Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026, vở tuồng “Dấu thiêng Hà Nội” (với thông điệp “Cho những gì còn mãi”) do Nhà hát Sân khấu Truyền thống Quốc gia Việt Nam thực hiện, diễn ra ngày 19/10 đã đưa khán giả trở về những ngày tháng chiến đấu hào hùng của quân và dân Thủ đô trong 60 ngày đêm khói lửa cuối năm 1946, đầu năm 1947.
  • Cải lương trong không gian nghệ thuật cộng đồng bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 18/10, tại sân khấu Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện mang đến một không gian nghệ thuật giàu màu sắc với các tiết mục tân cổ, ca cổ, hát xẩm và múa. Từ những giai điệu về quê hương, Hà Nội đến những câu chuyện lịch sử được kể bằng ngôn ngữ sân khấu, chương trình góp phần đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng trong không gian mở.
  • "Lời của Tre": Kể chuyện văn hóa Việt bằng ngôn ngữ sân khấu đương đại
    Ngày 17/10, tại Hà Nội, Liên đoàn Xiếc Việt Nam trình diễn vở “Lời của Tre”, một trong 15 tác phẩm tiêu biểu tham gia Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026. Lấy hình tượng cây tre - biểu tượng của bản lĩnh, sự bền bỉ và sức sống dân tộc làm trung tâm, vở diễn kết hợp nghệ thuật xiếc, hình thể, âm nhạc và công nghệ sân khấu hiện đại, góp phần chuyển tải những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
  • Hội tụ các giá trị sân khấu, lan tỏa sức sáng tạo nghệ thuật của Thủ đô
    Tối 14/10, tại Rạp Công Nhân (Hà Nội), Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026 đã chính thức khai mạc với chủ đề "Hội tụ các giá trị sân khấu, lan tỏa sức sáng tạo nghệ thuật của Thủ đô". Liên hoan quy tụ 15 đơn vị nghệ thuật với 15 vở diễn thuộc nhiều loại hình sân khấu, tạo cơ hội giao lưu, trao đổi nghề nghiệp và thúc đẩy sáng tạo nghệ thuật.
  • Phát vé miễn phí cho khán giả xem Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026
    Từ 9h hôm nay ngày 13/10, Ban tổ chức Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026 bắt đầu phát vé miễn phí phục vụ khán giả tại Rạp Đại Nam (số 89 phố Huế, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội). Liên hoan diễn ra từ ngày 14 đến 23/10, quy tụ 15 đơn vị nghệ thuật với 15 tác phẩm, biểu diễn tại 10 địa điểm trên địa bàn Thủ đô.
  • Lan tỏa tình yêu Hà Nội từ không gian âm nhạc cộng đồng
    Tối 11/10, tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ, chương trình “Không gian Âm nhạc cộng đồng – Điểm hẹn cuối tuần” do Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội tổ chức mang đến cho công chúng không gian âm nhạc giàu cảm xúc, nơi những giai điệu dân gian truyền thống hòa quyện cùng các ca khúc về Hà Nội, quê hương, đất nước.
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Định vị thương hiệu di sản văn hóa Hà Nội từ mô hình kinh tế đêm
    Trong bối cảnh cạnh tranh đô thị ngày càng gia tăng, kinh tế đêm trở thành một động lực tăng trưởng mới tại nhiều quốc gia và thành phố lớn. Đối với Hà Nội, phát triển kinh tế đêm không chỉ mở rộng không gian và thời gian hoạt động kinh tế mà còn tạo điều kiện khai thác chiều sâu văn hóa, gia tăng trải nghiệm du lịch và xây dựng bản sắc đô thị. Từ các sản phẩm du lịch đêm gắn với di sản đến định hướng phát triển sáng tạo, Hà Nội đang từng bước hướng tới thương hiệu “thành phố trải nghiệm văn hóa về đêm”, q
  • Cải lương trong không gian nghệ thuật cộng đồng bên hồ Hoàn Kiếm
    Tối 18/10, tại sân khấu Nhà Bát Giác bên hồ Hoàn Kiếm, chương trình “Âm nhạc cộng đồng” do Nhà hát Cải lương Hà Nội thực hiện mang đến một không gian nghệ thuật giàu màu sắc với các tiết mục tân cổ, ca cổ, hát xẩm và múa. Từ những giai điệu về quê hương, Hà Nội đến những câu chuyện lịch sử được kể bằng ngôn ngữ sân khấu, chương trình góp phần đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng trong không gian mở.
  • "Lời của Tre": Kể chuyện văn hóa Việt bằng ngôn ngữ sân khấu đương đại
    Ngày 17/10, tại Hà Nội, Liên đoàn Xiếc Việt Nam trình diễn vở “Lời của Tre”, một trong 15 tác phẩm tiêu biểu tham gia Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng năm 2026. Lấy hình tượng cây tre - biểu tượng của bản lĩnh, sự bền bỉ và sức sống dân tộc làm trung tâm, vở diễn kết hợp nghệ thuật xiếc, hình thể, âm nhạc và công nghệ sân khấu hiện đại, góp phần chuyển tải những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam bằng ngôn ngữ nghệ thuật đương đại.
  • Chính thức gắn biển, đưa Bệnh viện Tim Hà Nội cơ sở 2 đi vào hoạt động
    Nhằm tăng cường năng lực y tế chuyên sâu cho khu vực Thủ đô, Bệnh viện Tim Hà Nội đã chính thức đưa cơ sở thứ hai vào vận hành sau hơn 2 năm triển khai thi công.
  • Vì sao cánh bơm Ebara là lựa chọn hàng đầu của nhiều công trình?
    Trong toàn bộ hệ thống máy bơm Ebara danh tiếng từ Ý, cụm cánh bơm Ebara chính là "trái tim" thủy lực quyết định trực tiếp đến 90% hiệu suất, lưu lượng và cột áp vận hành. Được chế tạo trên dây chuyền công nghệ cơ khí chính xác tiêu chuẩn quốc tế, cánh bơm Ebara không chỉ đảm nhận nhiệm vụ chuyển hóa cơ năng thành động năng dòng chảy mà còn giúp máy bơm đạt độ bền vượt trội trước mọi áp lực mài mòn và ăn mòn hóa học.
Đừng bỏ lỡ
  • Phát động thực hiện quy tắc ứng xử, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh
    Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW và Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội tổ chức Hội nghị phát động hưởng ứng thực hiện Quy tắc ứng xử, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh năm 2026.
  • “Dấu thiêng Hà Nội”: Gợi nhớ ký ức về Thủ đô hào hùng trong kháng chiến
    Trong khuôn khổ Liên hoan Sân khấu Hà Nội mở rộng 2026, vở tuồng “Dấu thiêng Hà Nội” (với thông điệp “Cho những gì còn mãi”) do Nhà hát Sân khấu Truyền thống Quốc gia Việt Nam thực hiện, diễn ra ngày 19/10 đã đưa khán giả trở về những ngày tháng chiến đấu hào hùng của quân và dân Thủ đô trong 60 ngày đêm khói lửa cuối năm 1946, đầu năm 1947.
  • Tuần văn hóa đại đoàn kết dân tộc 2026: Bước chuyển trong tư duy và phương thức thực hành văn hóa
    Hội nghị trực tuyến toàn quốc do Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chủ trì đã quán triệt Kế hoạch tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam (24/11) gắn với Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2026. Sự kiện hướng tới việc lấy Nhân dân làm chủ thể sáng tạo, đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống cơ sở nhằm khơi dậy lòng yêu nước và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Các bộ, ngành, địa phương được giao nhiệm vụ cụ thể nhằm đảm bảo chuỗi hoạt động diễn ra thiết thực, an toàn và tạo dấu ấn lan tỏa rộng khắp.
  • Tuân thủ nghiêm quy định pháp luật khi đưa phim Việt Nam ra quốc tế
    Cục Điện ảnh ban hành Công văn số 2064/ĐA-PBP yêu cầu các cơ sở sản xuất và nhà làm phim nghiêm túc tuân thủ quy định pháp luật, bảo đảm phải có Giấy phép phân loại phim hoặc Quyết định phát sóng trước khi gửi tác phẩm tham dự các sự kiện điện ảnh quốc tế. Bên cạnh đó các cơ sở cần chủ động kế hoạch thủ tục và công bố giải thưởng trung thực.
  • Concert quốc gia “Tự hào là người Việt Nam 2026” sắp diễn ra tại tỉnh Thái Nguyên
    Vào lúc 20h ngày 1/11/2026, tại Sân vận động Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên sẽ diễn ra Concert quốc gia “Tự hào là người Việt Nam 2026” với chủ đề “Nối vòng tay lớn”. Qua ngôn ngữ âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn, chương trình góp phần lan tỏa các giả trị lịch sử và tinh thần đại đoàn kết dân tộc.
  • Thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân Nhân dân" và "Nghệ nhân Ưu tú"
    Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1998/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký ngày 16/10/2026, chính thức thành lập Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân Nhân dân" và "Nghệ nhân Ưu tú" trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể lần thứ Tư.
  • Ngành triển lãm và sự kiện góp phần kết nối văn hóa với du lịch, sáng tạo và thị trường
    Tuần lễ Tổ chức Sự kiện và Triển lãm Việt Nam 2026 (VEEW 2026) mở ra không gian giao thương, giới thiệu công nghệ và tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sự kiện trong nước.
  • Cuộc gặp gỡ thú vị giữa nhiều sắc thái âm nhạc bên hồ Gươm
    Từ nhịp jazz ngẫu hứng của Charlie Parker, Miles Davis đến những ca khúc Việt Nam quen thuộc như "Tóc mây", "Hoa sữa", "Hãy yêu nhau đi", chương trình "Âm nhạc cuối tuần" diễn ra vào lúc 17h ngày 18/10 tại Nhà Bát Giác - Vườn hoa Lý Thái Tổ hứa hẹn mở ra cuộc gặp gỡ thú vị giữa nhiều sắc thái âm nhạc, mà ở đó những giai điệu trong nước và quốc tế sẽ hòa quyện giữa không gian phố phường, góp thêm một điểm hẹn nghệ thuật cho đời sống văn hóa cộng đồng.
  • Hà Nội tạo nền tảng pháp lý để phát triển đô thị theo mô hình TOD
    Với mục tiêu tăng trưởng 2 con số, phát triển Thủ đô Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc trong thời kỳ mới; triển khai cơ chế đặc thù Luật Thủ đô 2026 có hiệu lực từ ngày 1/7, HĐND Thành phố Hà Nội đã ban hành Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND. Đây là văn bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho công tác cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị và phát triển đô thị theo mô hình TOD.
  • [Podcast] Truyện ngắn: Bên triền núi (Kỳ 1)
    Đường quanh núi thoai thoải, dài như sợi chỉ vô tận. Ở giữa sợi chỉ có một nhánh rẽ, dẫn đến một ngôi nhà thong dong bên triền. Chiếc xe đen bóng đi ngang qua rồi phanh gấp. Xe khựng lại, bước xuống là tôi, một cô gái với chiếc váy màu xanh, bình thường như mọi cô gái khác...
Họa sĩ Dân Quốc - Người thiết tạo không gian chèo “Sắc sắc không không”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO