Sân khấu

Họa sĩ Dân Quốc - Người thiết tạo không gian chèo “Sắc sắc không không”

PGS. TS Phạm Duy Khuê 15:18 15/07/2024

“Sắc sắc không không” (có mà không, không mà có) là một trong những triết lý căn bản của giáo lý đạo Phật. Triết lý này tưởng chừng mơ hồ, nhưng ở góc nhìn, tầm nhìn và cách nhìn khoa học biện chứng thì hoàn toàn đúng với ý nghĩa vật chất của nó. Dường như họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu chèo Nguyễn Dân Quốc cũng đã lấy triết lý này làm phương châm cho sáng tạo của mình.

hoa-si-nguyen-dan-quoc-2.jpg

NSND Nguyễn Dân Quốc sinh năm 1943 ở phố Lãn Ông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống văn hóa. Ngoài 20 tuổi, chàng trai Dân Quốc được vinh hạnh “hầu trà” theo kiểu người Hà Nội, để tiếp nhận tri thức từ các thầy, mà Dân Quốc gọi là “hóng học”. Mọi sự tích lũy, kể cả vốn sống về đời cũ và đời mới đã làm nên một họa sĩ thiết kế mỹ thuật chèo tài năng Nguyễn Dân Quốc. Chính ông đã lấy nghệ thuật chèo làm vũ khí, với tâm tuệ trong sáng, tinh, khí, thần dân tộc soi rọi vào hiện thực mới - hiện thực đương đại, để phản ánh trong những tác phẩm thiết kế mỹ thuật của mình cho những vở diễn chèo.

Tác phẩm thiết kế mỹ thuật đầu tiên của họa sĩ Dân Quốc cho vở diễn chèo về hiện thực cách mạng và kháng chiến của Đoàn chèo Hà Tây là vở chèo “Chị Tâm bến Cốc” (1968), kịch bản của cố NSND Tào Mạt. Kể từ tác phẩm mỹ thuật chèo đầu tiên này, họa sĩ Dân Quốc đã thiết kế mỹ thuật cho hơn 120 vở diễn chèo của các nhà hát và các đoàn chèo trong cả nước, trong đó có đến ¼ số vở diễn được chuyển thể từ kịch bản nước ngoài. Nổi trội trong số ấy là vở diễn “Vòng phấn Capcadơ”, kịch bản của Bertolt Brecht Brecht, Vinh Mậu chuyển thể chèo.

Các sáng tác của họa sĩ Dân Quốc vừa giàu chất dân gian, mộc mạc, giản dị, tinh tế và trang nhã, vừa mang vẻ đẹp đầy chất thơ, thấm đẫm tâm hồn và bản sắc dân tộc Việt Nam. Người xem luôn cảm nhận được “hồn chèo” kết đọng trong mỗi tác phẩm của ông. Trong hơn 120 vở diễn chèo (hiện thực dân gian, hiện thực trong các truyện Nôm khuyết danh, thần thoại, cổ tích, dã sử, lịch sử) và các vở diễn chèo đề tài cách mạng và kháng chiến, họa sĩ Dân Quốc đã vận dụng các nguyên tắc thuộc phương pháp thể loại chèo vào sáng tác thiết kế mỹ thuật.

img_7417.jpg
Súy Vân - Đoàn chèo Hà Nam 2001

Về đề tài hiện thực đương đại, trong đó có đề tài hiện thực cách mạng và kháng chiến, ông có nhiều tác phẩm thành công và “rất chèo” như các vở: “Dệt những mùa xuân” - Nhà hát Chèo Việt Nam 1978, “Nhớ về Bắc Mã” - Đoàn chèo Quảng Ninh 1986, “Đôi mắt” - Trường Nghệ thuật Sân khấu Việt Nam 1976, “Dòng thác đỏ” - Đoàn chèo Hà Tuyên 1979, “Tấm lòng hậu phương” - Đoàn chèo Trường Sơn 1971, “Chuyện tình dưới mái đình xưa” - Đoàn chèo Thái Bình 1994, “Đêm trăng huyền thoại” - Đoàn chèo Thái Nguyên 1999, “Bão rừng” - Đoàn chèo Hoàng Liên Sơn, “Chiếc nón bài thơ” - Đoàn chèo Nam Hà 1978, “Ngôi sao Hạ Long” - Đoàn chèo Quảng Ninh 1976… Đặc biệt thành công, thấm đẫm chất chèo đến từng chi tiết của thiết kế mỹ thuật là vở diễn chèo hiện đại “Sông Trà Khúc” của cố NSND Tào Mạt. Với một “dáng dấp hiện đại mới lạ”, vở diễn đã được tặng thưởng Huy chương Vàng tại Hội diễn Sân khấu toàn quốc được tổ chức tại Nghĩa Bình năm 1985.

Ngoài thiết kế mỹ thuật cho các vở diễn của Nhà hát Chèo Việt Nam (nơi ông công tác), họa sĩ Dân Quốc còn được các tỉnh, thành phố (những địa phương có các Đoàn, Nhà hát chèo) và quân đội mời thiết kế mỹ thuật cho các vở diễn chèo của họ. Hầu hết thiết kế mỹ thuật cho các vở chèo truyền thống của họa sĩ Dân Quốc đều thành công, đặc biệt trong đó là thiết kế mỹ thuật của vở chèo “Quan Âm Thị Kính”, không chỉ có tiếng vang trong nước, mà còn được hưởng ứng và đánh giá cao ở nước ngoài.

Họa sĩ Dân Quốc chia sẻ: “Sau 19 năm làm họa sĩ thiết kế mỹ thuật ở Nhà hát Chèo Việt Nam, đến khi nghỉ hưu năm 2003, tôi đã thiết kế được 27 vở diễn, 3 chương trình chèo đi biểu diễn Quốc tế: tại Bungaria 1982, tại Liên hoan Sân khấu Quốc tế ở CHDC Đức 1985 (với vở “Quan Âm Thị Kính”) và Liên hoan Sân khấu các nước nói tiếng Pháp tại Limoge năm 1993. Năm 1987, tôi được mời giới thiệu về mỹ thuật chèo tại triển lãm Mỹ thuật sân khấu Quốc tế tổ chức ở Tiệp Khắc”.

Là họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu chèo thuộc thế hệ thứ hai trong số ít những họa sĩ thiết kế mỹ thuật sân khấu chèo, họa sĩ Dân Quốc đã dành cả cuộc đời cống hiến cho sự phát triển của mỹ thuật chèo. Không chỉ thạo “nghề” hội họa, họa sĩ Dân Quốc còn am hiểu sâu sắc các loại hình, loại thể nghệ thuật thuật có liên quan như: kiến trúc, điêu khắc (nhất là kiến trúc, điêu khắc dân tộc), nghệ thuật đạo diễn, nghệ thuật biểu diễn chèo. Đặc biệt, ông từng nghiên cứu, nắm vững nghệ thuật chèo cổ và phương pháp thể loại của chèo truyền thống - kết tinh của nghệ thuật chèo Việt Nam; đó là phương pháp hiện thực tả ý hiện thân của tư duy liên tưởng. Trong tác phẩm của mình, họa sĩ Dân Quốc đã vận dụng thành công hệ những nguyên tắc trong nghệ thuật chèo, từ tự sự, ước lệ, lạ hóa, lấy điểm để tả diện, cách điệu hóa, ẩn dụ hóa đến so sánh, đối chiếu, huyền thoại hóa, giả định hóa, mô hình hóa, tượng trưng.
Họa sĩ Dân Quốc không chỉ là người có “sở trường” tư duy liên tưởng của nghệ thuật chèo, mà còn am hiểu, cảm thức, cảm hứng sâu sắc và mê say chèo cổ, chèo truyền thống, tranh dân gian, tranh thờ miền núi, tượng gỗ dân gian... Tất cả đọng lại nơi suy cảm - cảm thức và tư duy của họa sĩ mỹ thuật chèo này, đặng chuyển nhập chúng vào những cảnh tượng, phục trang trong các vở diễn chèo cổ, chèo truyền thống, chèo đề tài hiện đại do ông thiết kế. Chúng không chỉ là địa điểm, hoàn cảnh - không gian sống riêng biệt của các nhân vật nhất định, mà còn là những bức tranh “độc lập” thể hiện muôn vẻ của cuộc sống, con người. Nào cảnh đời tam nông dưới thời phong kiến với chế độ gia trưởng độc đoán, chuyên quyền, phảng phất đâu đây số phận những người phụ nữ bị đọa đầy; nào những tấm lòng, những hình tượng nhân hậu, kiên trung, ân tình, đảm đang, bất khuất của những người vợ, người mẹ là những người nông dân lao động bình thường trong xã hội…

Cũng từ những “cảnh đời” tại các vở diễn do ông thiết kế ấy, khán giả cảm thức như đâu đây văng vẳng tiếng sáo diều, như thấy cả cây đa, giếng nước, sân đình, bãi chợ, bến sông mà những vở chèo từng diễn ra. Bằng tài năng, vốn sống, cùng sự am hiểu sâu sắc về lịch sử họa sĩ Dân Quốc đã đưa vào tác phẩm của mình muôn vẻ của cuộc sống. Ở đó, cái thiện, cái ác xen nhau va đập khi quyết liệt, căng thẳng; khi ngừng lặng hòa hoãn. Tất cả đều ảnh xạ vào những cảnh trí, phục trang, đạo cụ mà ông thiết kế như trong các vở: “Quan Âm Thị Kính”, “Tấm Cám”, “Trương Viên”, “Súy Vân”, “Lưu Bình Dương Lễ”, “Từ Thức”, “Đường lên núi sắt”, “Thạch Sanh”, Trê cóc”…

Về phục trang, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành viết: “Nó thực sự là kết quả của sự tìm hiểu công phu trang phục của dân tộc Việt Nam qua các chặng đường lịch sử đồng thời lại gắn với thân phận và từng tính cách nhân vật của mỗi vở diễn. Những bộ trang phục dành cho chèo của họa sĩ Dân Quốc cũng có thể tồn tại độc lập như bộ sưu tập về trang phục của người Việt Nam xưa: đẹp, nền nã, trang nhã, giản dị mang đúng nét truyền thống của dân tộc. Mặt khác, các bộ trang phục lại hòa nhập ngọt ngào với nền cảnh mà chính Dân Quốc tạo ra, khiến cho mỗi vở chèo là một khung cảnh sống thực sự”.

Cái khó trong việc tạo mẫu trang phục cho các nhân vật trong mỗi vở diễn chèo cổ và chèo truyền thống nằm ở chỗ: các nhân vật không cùng giai cấp, địa vị xã hội, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tín ngưỡng tôn giáo… nên việc tạo mẫu - kiểu mốt, chất liệu, màu sắc, hoa văn, thị hiếu thẩm mỹ thời đại… cho mỗi nhân vật không đơn giản. Trình độ văn minh, văn hóa thời đại của mỗi bộ trang phục phải được đan nhiễm, hòa quyện vào nhau như là chính nó. Họa sĩ Dân Quốc đã làm được một cách riêng biệt, độc đáo, màu sắc dân gian truyền thống, tinh tế cho “cái mặc” của những con người - nhân vật “ngày xưa” ấy, như họ đang là trên sân khấu chèo.

Họa sĩ Dân Quốc nay đã ở tuổi ngoài 80. Trước bộn bề của cuộc sống thời kỳ hội nhập, nhất là của sân khấu chèo hôm nay, người nghệ sĩ năm xưa vẫn chất chứa bao trăn trở. Ông băn khoăn: liệu chèo còn thích hợp với hiện thực mới nữa không; nguyên tắc nào trong phương pháp thể loại chèo truyền thống đã không còn thích hợp nữa; và làm thế nào để chèo có “đất sống”, tiếp tục ánh hiện thực mới và con người mới hôm nay…

Trở lại với người thiết tạo những không gian “sắc sắc không không” cho hơn 120 vở diễn chèo, tôi lại muốn nhắc tới cuốn sách “Mỹ thuật sân khấu chèo - Phục trang biểu diễn” (NXB Sân khấu, 2018) in hơn 4000 mẫu trang phục, được tuyển chọn từ những vở diễn của ông. Cuốn sách một lần nữa chứng tỏ rằng, làm mỹ thuật chèo, nếu không có tâm hồn và tư duy dân tộc thì không thể làm được… GS. NSND Trần Bảng từng chia sẻ: “Tôi rất mừng khi NXB Sân khấu in bộ tác phẩm mỹ thuật chèo của họa sĩ Dân Quốc. Đây hầu như là toàn bộ những tác phẩm sáng tác của họa sĩ dành cho mỹ thuật chèo trong suốt hơn 40 năm qua. Tất cả đều được phục hồi, gia công, biên tập, trình bày và chế bản rất đẹp. Đó là điều đặc biệt mà chưa một họa sĩ nào làm được. Tôi cảm phục niềm đam mê trong trái tim người nghệ sĩ trước niềm tin vào sự trường tồn bất diệt của nghệ thuật chèo - một di sản sân khấu đặc sắc trong kho tàng văn hóa Việt Nam”.

Bài liên quan
(0) Bình luận
Nổi bật Tạp chí Người Hà Nội
  • Xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ hội nhập
    Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và khát vọng phát triển đất nước ngày càng mạnh mẽ, việc xây dựng hệ giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là quá trình nuôi dưỡng sức sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp nhận văn hóa của cộng đồng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển bền vững, cần đồng thời củng cố các chủ thể sáng tạo, hoàn thiện thiết chế văn hóa và tạo dựng môi trường thuận lợi cho các giá trị văn hóa lan tỏa trong đời sống đương đại.
  • “Mã văn hóa” điều chỉnh hành vi xã hội, định hình căn tính con người Việt Nam trong thời kỳ mới
    Mục tiêu tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
  • [Podcast] Truyện ngắn: Hơn cả tình yêu
    Hè năm thứ nhất, đang là sinh viên Đại học Xây dựng, theo lời rủ rê của hai cô bạn thân, Hằng đi Sầm Sơn cùng với họ. Vào đến Sầm Sơn, lúc thuê khách sạn, Hằng mới vỡ lẽ, hai cô bạn kia đã có đôi, họ âm thầm sắp đặt sẵn kế hoạch từ trước. Họ gán ghép Hằng với Bắc, một bạn nam cùng lớp vào ở chung phòng. Đêm ấy, Hằng lang thang trên bờ biển, vừa giận bạn, vừa định bụng sẽ không về khách sạn ngủ...
  • Hệ thống lọc nước uống học đường HETEC RO-300
    Trong những năm gần đây, cùng với việc quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục, nhiều địa phương đã chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe học sinh, trong đó có việc bảo đảm nguồn nước uống an toàn tại các cơ sở giáo dục.
  • Hà Nội tiên phong thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa"
    Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, thành phố Hà Nội đang tập trung hoàn thiện Đề án thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa". Đây được xem là bước đột phá chiến lược trong việc đổi mới phương thức quản trị cấp cơ sở, đặt nền móng vững chắc để hiện thực hóa khát vọng phát triển toàn diện Thủ đô trong kỷ nguyên mới.
Đừng bỏ lỡ
  • Xây dựng Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam thành tổ hợp du lịch đẳng cấp quốc tế
    Sau khi chính thức được chuyển giao về UBND thành phố Hà Nội quản lý vào tháng 6/2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn. Từ một điểm đến phụ thuộc vào ngân sách, nơi đây được định hướng trở thành tổ hợp văn hóa, du lịch và giải trí mang tầm vóc quốc tế, đóng vai trò hạt nhân trong cực tăng trưởng phía Tây của Thủ đô. Chiều ngày 10/7, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã chủ trì buổi làm việc để định hình dòng chảy phát triển mới cho quần thể di sản này.
  • Ra mắt không gian nghệ thuật quy tụ 3 loại hình di sản xẩm, ca trù và múa rối nước
    Không gian văn hóa CADAO Collective chính thức ra mắt tại số 66 Tô Ngọc Vân (phường Tây Hồ, Hà Nội) với chương trình nghệ thuật đặc biệt quy tụ 3 loại hình di sản tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội gồm xẩm, ca trù và múa rối nước.
  • Triển lãm “Di sản vàng son - Tinh hoa hội tụ”
    Hơn 100 hiện vật/bộ hiện vật độc đáo được chế tác dưới thời Nguyễn được đưa ra triển lãm, giới thiệu đến công chúng từ ngày 10/7 - 9/10 tại điện Long An (03 Lê Trực, phường Phú Xuân, TP Huế).
  • Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII: Tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ
    Sáng 10/7, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA) đã diễn ra Lễ khai mạc Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ VIII - năm 2026. Sự kiện góp phần tôn vinh sức sáng tạo của thế hệ nghệ sĩ trẻ, đồng thời phản ánh những xu hướng mới của mỹ thuật đương đại Việt Nam.
  • Bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
    Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số. Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị định quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã mở ra một hành lang pháp lý toàn diện.
  • Festival Thu Hà Nội năm 2026 :“Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc”
    Festival Thu Hà Nội năm 2026 với chủ đề “Thu Hà Nội – Hành trình cảm xúc” được tổ chức để tôn vinh và lan tỏa những giá trị độc đáo của di sản văn hóa, danh thắng, làng nghề và tinh hoa ẩm thực ngàn năm văn hiến của Thủ đô. Sự kiện là đòn bẩy hiệu quả giúp kích cầu du lịch, thu hút du khách, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu, từ đó thúc đẩy ngành du lịch tăng trưởng mạnh mẽ...
  • [Podcast] Tản văn: Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
    Đêm đã phủ lên thế gian thứ bóng tối bất tận vô minh. Màu sắc, thanh âm, hình hài của vạn vật vẫn cựa quậy sinh sôi trong những đôi mắt tâm hồn. Chỉ có tâm hồn mới làm cho biết bao thứ ẩn dật trong bóng tối vô minh kia tồn tại và thao thức. Cũng như đêm đang đẩy xuống đời ta thứ thanh âm của Chúa. Những hồi chuông xứ đạo vẫn bay lên trên bầu trời ngan ngát hương hoa. Ở nơi đó em còn nhớ không em, dẫu chỉ là một thánh ca buồn?
  • Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế”, tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
    Triển lãm và trình diễn “Tri thức may, mặc áo dài Huế” giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của áo dài Huế gắn liền với lịch sử, văn hóa và đời sống của người dân Cố đô, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Huế - Kinh đô Áo dài Việt Nam.
  • Triển khai đồng bộ các hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới
    Nhằm kịp thời thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển văn hóa Việt Nam, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026. Quyết định này đi kèm kế hoạch hành động nhằm triển khai đồng bộ, toàn diện bốn hệ giá trị cốt lõi: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trên phạm vi cả nước, tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền văn hóa của dân tộc.
  • Kỳ họp thứ 5 HĐND Thành phố Hà Nội: Kiến tạo động lực, mở thêm không gian phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới
    Phát biểu khai mạc kỳ họp thứ 5 HĐND Thành phố Hà Nội khóa XVII, nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra sáng 14/7, Phó Bí thư Thành ủy – Chủ tịch HĐND Thành phố Phùng Thị Hồng Hà nhấn mạnh toàn bộ chương trình kỳ họp đều hướng tới một mục tiêu xuyên suốt: Ban hành những quyết sách đúng, trúng, khả thi và tổ chức thực hiện hiệu quả cao, để mỗi nghị quyết của HĐND thành phố thực sự tạo động lực phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân và mở thêm không gian phát triển cho thành phố trong giai đoạn mới.
Họa sĩ Dân Quốc - Người thiết tạo không gian chèo “Sắc sắc không không”
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO